Độc đáo tuổi thơ Hà Nội ngày xưa

(VOV5)- Di cảo, hồi ức của nhà văn Lê Bầu về tuổi thơ và cuộc sống của cư dân dưới bãi sông Hồng những năm 1930.

tuoi tho ha noi ngay xua_bia1

Kỉ niệm 60 năm ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954 – 10/10/2014), Nhà xuất bản Kim Đồng vừa cho ra mắt cuốn sách “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” – tập di cảo, hồi ức của nhà văn Lê Bầu về tuổi thơ của ông – của những đứa trẻ dưới bãi sông Hồng những năm 30 của thế kỉ trước.

Lê Bầu là nhà văn, nhà báo, dịch giả có uy tín với nhiều tác phẩm được độc giả yêu mến như Thông reo, Đi thực tập, Dòng sữa trắng, Hoàng hậu Vàng Anh, Đèn kéo quân, Sáu mươi ngày đêm giữ chợ Đồng Xuân, Ngã ba cô đơn, Độc hành… và nhiều dịch phẩm như: Tể tướng Lưu Gù, Quê cũ, Thành phố hoa, Hoài niệm sói, Quỷ thành, Trở về

Bạn bè yêu quý Lê Bầu bởi sự ngay thẳng, lòng yêu nghề và sống hết mình vì bạn bè của ông.

Bạn bè thân thiết của ông không ít, nhưng tuổi thơ của ông là một khoảng bí mật vời vợi chỉ trong kí ức của riêng ông, chẳng giãi bày cùng ai. Ngay cả nhà văn Bùi Ngọc Tấn – người được coi là tri âm tri kỷ của ông cũng không hề biết về tuổi thơ của ông.

Trong lời nói đầu cuốn sách “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn chia sẻ, ông đã nhiều lần nói với nhà văn Lê Bầu là “viết hồi kí đi, bởi cuộc đời dài ngắn chẳng ai biết ra sao”, nhưng vì mải việc nên cuốn hồi kí ấy chưa được công bố thì Lê Bầu đã ra đi, mang theo lời hứa về tập hồi kí chẳng bao giờ được viết ra của ông.

Nhưng rồi, nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhận được tập di cảo của nhà văn Lê Bầu từ một người bạn, mà theo ông tâm sự là “chẳng dính dáng gì đến văn chương”.

Tập di cảo ấy được viết ra một cách vội vàng, để chờ bổ sung, hoàn thiện. Là người đọc và nhuận sắc tập di cảo này, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã phải bỏ ra nhiều công sức. Ông chia sẻ: “Rõ ràng anh mới nháp lần đầu. Khi hết một ý, anh đánh dấu phẩy, chờ những ý rồi sẽ đến. Những dấu phẩy cứ thế kéo theo nhau, có khi đến cả trang. Và khi hết “dấu phẩy”, trước khi xuống dòng, anh đánh dấu chấu chấm lửng (…) nghĩa là rồi sẽ được bổ sung thêm. Tôi dọn dẹp những chỗ đó, sao cho vẫn giữ nguyên giọng văn của Lê Bầu.”

Tập sách ra đời, những người bạn của nhà văn Lê Bầu mới có dịp hiểu về tuổi thơ của ông, một tuổi thơ nhiều gian khó ở bãi bồi sông Hồng, với những cộng đồng dân dưới bãi như tay lơ xe “anh chị”, những kẻ nghiện ngập, móc túi… Nhưng giống như đóa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, cậu bé Lê Bầu hồn nhiên sống, hồn nhiên chơi đùa, trong sáng lớn lên cùng những lời dạy nghiêm khắc của người cha ít học nhưng tính tình khẳng khái. Và có lẽ, chính vì vậy mà sau này, khi lớn lên, chịu nhiều dâu bể, Lê Bầu vẫn như cây thông giữa đời, được tất cả bạn bè kính quý.

Đọc “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”, độc giả sẽ được đắm mình trong không gian, cuộc sống của Hà Nội dân dưới bãi với những địa danh Phúc Xá, Nghĩa Dũng, An Dương, Tứ Tổng… những năm ba mươi của thế kỉ trướcNơi ấy, tập trung đủ mọi hạng người: những kẻ lưu manh, lừa lọc như chị em Bính Lớn, Bính Con, vợ chồng Cả Mốc, ông Mù… với đủ các chiêu trò; những kẻ nghiện ngập, những tay “anh chị” khét tiếng. Nhưng từ chính nơi ấy, tình người vẫn rạng ngời ấm áp: Một Tí Bủng – cầm đầu bọn đầu gấu bến ô tô, “dạy vợ” đang bầu bí bằng cách đào một cái hố bắt vợ nằm sấp bụng xuống rồi đánh mười roi; bà Cau bán nước hiền hậu, lo lắng dặn dò cậu bé Bầu tránh xa mấy đứa lưu manh; hay bác Cấn trong đội cu li – người hay quát mắng đe nẹt cậu bé Bầu nhất, sau một thời gian xa cách, tình cờ gặp cậu hôm đi thi thì dúi vào tay cậu mấy đồng hào bạc và nói bằng giọng rưng rưng: “Thất học khổ lắm con ạ!”…

long-bien

Theo nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” là một cuốn sách độc đáo bởi trong văn học Việt Nam, chưa có tác phẩm nào viết về tuổi thơ Hà Nội thị thành trước năm 1945, mà lại là viết về những đứa trẻ, những người ngụ cư dưới bãi sông Hồng thì càng hiếm có. Ngay cả những tác phẩm của nhà văn Tô Hoài, Lê Văn Chương, Nguyên Hồng hay thậm chí những tác phẩm của Tự Lực văn đoàn… những năm đầu thế kỉ cũng chỉ xoay quanh tuổi thơ Hà Nội ở nông thôn – ngoại thành, hoặc một vài nét chấm phá mờ nhạt về trẻ em thị thành.

Hãy cùng đắm mình và tưởng tượng về một góc Hà Nội xưa qua một đoạn hồi ức của nhà văn Lê Bầu: “Góc những ngã tư đường Mười khá “sầm uất”, (đường Hai Mươi rất vắng, vì chỉ có một dãy nhà trông ra sông, còn dãy phía bờ sông thường bỏ trống, không có người ở) tức là ban ngày, ban tối thường có thêm một gánh phở rong, cô quạt ngô nướng, bà bán quà vặt, xâu táo xâu khoai sọ, (khoai và táo được xâu thành từng xâu, quả lớn, củ lớn ở giữa rồi nhỏ dần về hai đầu, người mua chỉ được chọn từng xâu chứ không được chọn từng quả, từng củ) đặc biệt là có bà hàng nước hấp dẫn khách hàng bằng chiếc điếu cày, tối đến thỉnh thoảng thêm vợ chồng anh xẩm mù tới hát. Họ chỉ có một chiếc nhị hai dây cò cử làm nhạc đệm và một manh chiếu rách, trải ngồi, ngoài ra còn một chiếc chậu thau méo mó, to bằng cái mũ nồi, hoặc chiếc cơi đựng trầu để ngay trước mặt, nhận tiền “thưởng” của người nghe khi nghe đến đoạn hay, đoạn mình thích thú, hoặc của những người đã đứng ngồi nghe suốt từ đầu mà “không thưởng cũng không tiện”.”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chia sẻ: “Tôi nghĩ những người thích tập hồi kí mỏng này của Lê Bầu sẽ không chỉ là trẻ em, mà cả người lớn, những người thích tìm hiểu Hà Nội, kể cả những nhà Hà Nội học.”

Nhân dịp này, NXB Kim Đồng cũng cho ra mắt cuốn sách “Tháng ngày thương nhớ” – hồi ức của nhà văn Phạm Thắng – tác giả “Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt”… về tuổi thơ ở nội đô Hà Nội khoảng thời gian trước và sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Như bao cậu học trò nhỏ khác, cậu bé Phạm Thắng cũng có những kỉ niệm  êm đềm đáng nhớ về tuổi học trò hồn nhiên, tinh nghịch của mình ở trường ở lớp. Nhưng những điều mắt thấy tai nghe về nạn đói, về sự dã man của thực dân Pháp, phát xít Nhật… đã hun đúc trong lòng cậu học trò nhỏ lòng yêu nước, để sau này, cậu bé ấy đã trở thành một thành viên của Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt, hoạt động trong lòng địch, cung cấp nhiều thông tin mật cho Sở chỉ huy Liên khu, góp phần Giải phóng Thủ đô. Cuốn sách vì thế, cũng là một tư liệu quý, sinh động về tuổi thơ Hà Nội trước Cách mạng.

Sach ve HN - NXBKIMDONG - 2014 4

Ngoài ra, nhiều tựa sách về Hà Nội cũng được NXB Kim Đồng tái bản trong dịp này:  “Hà Nội rong ruổi quẩn quanh” của nhà văn Băng Sơn; “Thương nhớ mười hai”, “Miếng ngon Hà Nội” của nhà văn Vũ Bằng, “Sống mãi với thủ đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, “Chuyện cũ Hà Nội” của nhà văn Tô Hoài, bộ Kể chuyện Thăng Long – Hà Nội gồm 5 cuốn: Kinh đô muôn đời, Cảnh sắc Hà Nội, Kì tích chống giặc ngoại xâm, Kiến trúc ngàn năm, Danh nhân Hà Nội…/.

Thông tin về tác giả:

Nhà văn Lê Bầu (1930 – 2009). Sinh tại Khoái Châu – Hưng Yên.

Bút danh: Phan Hà, Thanh Lịch, Lê Bầu Bỉnh.

Tác phẩm chính: Thông reo, Đi thực tập, Dòng sữa trắng, Hoàng hậu Vàng Anh, Những năm tháng trôi qua, Sáu mươi ngày đêm giữ chợ Đồng Xuân…

Ngoài sáng tác, viết báo, Lê Bầu còn là một dịch giả tiếng Trung Quốc có uy tín, đặc biệt với các tác phẩm của Giả Bình Ao.

Phùng Hà

(VOV5)

Đọc Di Cảo Lê Bầu

Một hòn đá lăn xuống biển là Châu Âu đã bé đi một tí. Mỗi người là một bộ phận của toàn thể nhân loại. Một nhà thơ Anh đã viết như vậy. Điều ấy càng cụ thể hơn khi những người thân thiết của mình ra đi.

Tôi có mười người bạn gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ, cùng nhau trải qua bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn và không ít hiểm nguy. Như bố mẹ vợ con anh em trong gia đình, những người bạn ấy là một phần cuộc sống của tôi, làm thành cuộc đời như vốn có của tôi. Khi viết những dòng này, năm người không còn nữa. Theo thứ tự thời gian: Hứa Văn Định, Lê Mạc Lân, Nguyên Bình, Vũ Bão, Lê Bầu. Mỗi người đi đều mang theo một phần tôi. Những phần tôi bạn mang theo ấy có những sắc thái khác nhau tùy theo tính cách từng người, dấu ấn từng thời gian trong cuộc đời  hạnh phúc ngắn ngủi và nhiều gian lao của tôi..

Lê Bầu đi mang theo cái phần riêng của anh. Đó là mái đình làng Xuân La huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, nơi trường Hàn Thuyên sơ tán đầu những năm 50 thế kỷ trước, tôi ngồi lớp đặt ở bên này giải vũ, anh ngồi giải vũ bên kia, cách nhau một cái sân đình ngày ấy là mênh mông. Là những buổi tối sinh hoạt văn nghệ, Lê Bầu với bộ quần áo nâu, chít khăn đầu rìu buông quần lá tọa, đứng trên sân khấu, chiếc cuốc trên vai, nháy nháy bộ râu bôi bằng nhọ nồi, đen sẫm kiểu Hít le làm tất cả cười bò. Là bài báo tường Mái gà xuống ổ hôm rằm/ Con chui dưới bụng con nằm trên lưng/ Vui chân chạy nhẩy tứ tung/ Mẹ lo nghển cổ trong lồng gọi con khiến chúng tôi phục lăn (và thuộc cho đến bây giờ, sau hơn 60 năm vẫn nằm trong bộ nhớ). Là những đêm khuya tan học, đèn dầu lập lòe, cùng nhau cuốc bộ từ trường về Lang Tạ xa 7 cây số, tới đó mỗi thằng một ngả, Bầu về ấp Núi Dài, tôi về Phú Mỹ. Là niềm vui tràn ngập khi ký tặng nhau tác phẩm đầu tay cùng được nhà xuất bản của Hội Nhà văn in năm 1962, Bầu tập Thông Reo, còn tôi tập Đêm Tháng Mười. Là những bữa cơm với món bí đỏ nửa canh nửa xào của anh khi tôi lên Hà Nội, đâm đơn kêu oan. Là căn buồng hẹp 105 phố Phùng Hưng, nơi không lần nào tơi thủ đô tôi không đặt chân tới, kể cả ngủ lại. Là bữa bia, anh nhân danh trại trưởng, chiêu đãi cả trại sáng tác Đại Lải khi tôi từ Hải Phòng túi tắm lên dự trại…

Anh, người bạn lâu năm nhất của tôi. Khó mà kể hết Lê Bầu đã mang theo những gì trong tôi về thế giới bên kia.

Tôi gọi anh là Người hiểu giá trị của thời gian. Anh có sức khỏe. Anh làm việc như một con ngựa. Không chỉ vì cuộc sống khó khăn, trách nhiệm của người con, người chồng, người cha và cả người ông nữa trong gia đình khiến anh không được lười biếng, mà cái tính anh nó thế. Con ngựa già sinh đúng năm 1930 thế kỷ trước sang tới đầu thế kỷ này cứ phải dậm chân, gõ móng, lắc bờm không thể đứng yên một chỗ. Đi. Viết. Và dịch. Tôi luôn giục anh khi hai chúng tôi đều đã trên dưới 70:

- Nhớn tướng rồi. Cổ lai hy rồi. Viết hồi ký đi là vừa ông ạ.

Tôi đã có hai tập hồi ký được in và rất muốn anh cũng có hồi ký để hoàn chỉnh thêm bức tranh cuộc sống của mấy đứa chúng tôi. Thế là anh kể về những ngày thơ ấu của anh. Thời còn đi học, chúng tôi thường đùa anh, đọc to như kiểu đọc chính tả để anh cứ thế mà viết kê khai lý lịch.

Họ và tên khai sinh: Lê Bầu.

Họ và tên bố: Lê Bí.

Họ và tên con: Lê Thị Mướp Hương.

Hôm ấy nghe anh, mới biết tên ông thân sinh ra anh chính là Lê Bý!

Bầu cười lớn:

-Tên bố tôi là từ tên tôi mà ra đấy chứ. Tên bố có sau, tên con có trước. Tên bố dựa theo tên con. Ông già mình không có tên, cứ gọi là bác Cu, anh Cu. Thế rồi ông chú mình không biết làm điều gì đó bị Pháp truy nã phải trốn lên Tinh Túc. Sợ Pháp bắt nhầm, cụ vội đi làm giấy khai sinh. Lấy tên gì bây giờ. Tên Bý. Con Bầu, bố Bý. Còn cái tên Bầu của tôi là thế này: Lúc còn bé, mẹ tôi mang theo ra chợ, vừa trông con vừa bán hàng. Bạn hàng của cụ mối người kéo vào bế một tý, hết bà này đến bà khác. Tôi khỏe mạnh, bầu bĩnh, béo tốt, bà nào cũng thích bồng bế, nên các bà gọi tôi là thằng Bầu. Thế là có tên Lê Bầu…

Chỉ riêng lai lịch tên anh và tên ông già anh viết ra cũng đã thú vị rồi. Nhìn đôi mắt long lanh, nghe giọng nói sôi nổi của anh, tôi tin anh sẽ viết hồi ký. Tôi nói thêm:

- Viết ngay đi Bầu ạ. Sống chết chẳng biết thế nào. Có khi ông giời còn cho sống, nhưng không làm việc được nữa.

Anh lắc đầu, rất tự tin:

-Yên tâm. Còn khỏe.

Và cười lớn nói về một ông nhà báo nào đó viết sức khỏe nhà văn Lê Bầu rất tốt dù đã ngoài bảy mươi, sáng nào cũng tập thể dục đều:

- Tôi bảo nó: Ông Lê Bầu chưa hề tập thể dục bao giờ!

Tôi cũng cười nhưng rồi nghĩ đến Nguyên Hồng qua đời đột ngột ở tuổi ngoài 60 trong khi còn bao dự định chưa thực hiện:

- Huyết áp ông thế nào?

-Tốt. Thường là 140 trên 90. Cũng có lúc 150.

Tôi nghĩ thầm tuổi 70 thế là được. Còn đủ thời gian, sức khỏe viết hồi ký. Cuộc đời anh cũng long đong chẳng kém tôi, chắc chắn sẽ có một tập sách hay, ghi lại một vẻ mặt của lịch sử mang nhãn hiệu Lê Bầu.

Những lần gặp sau, hỏi anh về hồi ký, có vẻ như anh chưa đả động gì đến. Khi là kể về chuyến đi Cao Bằng cùng với mấy nhà báo, khi anh kêu ca về chuyện hình như bị tiền đình hay sao ấy, nhiều lúc choáng váng rất khó chịu.

Rồi từ Hải Phòng gọi điện giục thì anh nói sắp đi Trung Quốc “với mấy thằng nữa. Chúng nó rủ đi, chỉ mấy ngày thôi”. Tôi kêu lên:

-Sức khỏe thế đi Trung Quốc làm gì? Ông Vũ Bão đấy. Dự hạp long cầu Bãi Cháy rồi đi luôn.

- Dạo này khá rồi. Chứng tiền đình không còn nữa. Với lại đi sang ngay bên kia biên giới thôi. Có một làng toàn người Việt Nam. Thú vị lắm. Cũng muốn mua thêm mấy tập truyện Trung Quốc. Mang về xem có dịch được không.

Ít ngày sau lên Hà Nội, nhìn anh đang đánh vật với tập tiểu thuyết tiếng Tầu như một cục gạch.

-Quyển gì mà dầy thế này?

- Tần Xoang. Điệu Tần của Giả Bình Ao. Thú lắm.

Bầu rất thích Giả Bình Ao. Trần Đình Hiến nói dịch Giả Bình Ao chỉ có Lê Bầu là đạt nhất.

Tôi không đánh giá cao ông nhà văn này. Và bây giờ tôi ghét ông ta.

Tôi kêu lên:

- Bao giờ viết hồi ký?

- Viết được một ít rồi. Sẽ viết tiếp. Làm cái này đã. Nhuận bút dịch mà nó trả mười bốn phần trăm giá bìa cơ mà!

Anh nhìn tôi như người có lỗi. Mười bốn phần trăm giá bìa tập sách dầy khiến tôi không dám nói thêm một lời. Anh dịch Tần Xoang. Sách in xong, anh ký tặng tôi. Hai tập. Mỗi tập cả nghìn trang. Tôi hỏi anh nhuận bút.

- Mấy đứa đặt hàng nó có giả hết đâu.

- Những đứa nào? Bọn đầu nậu ấy?

- Mấy đứa ở Hội Nhà Văn.

Tức anh, tức mấy đầu nậu sách và tức Giả Bình Ao, hai tập Điệu Tần anh ký tặng, tới bây giờ tôi vẫn chưa giở đọc!

Sau đó là bệnh tật, là những lời quá mệt mỏi của anh qua điện thoại:

- Rất mệt. Đi khám thì nó bảo không biết bệnh gì.

- Bây giờ đi lại trong buồng cũng khó. Ăn kém. Lúc nào cũng buồn ngủ. Có lẽ phải bảo một cháu đến phục vụ mất thôi.

Thế rồi được tin anh vào nằm bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô. Tôi nghĩ: Ông Bầu sướng thế, ốm được vào Việt Xô. Thứ mình ốm chỉ có chết. Việc Bầu vào Việt Xô làm tôi yên tâm. Đấy là nơi chữa bệnh cho những cán bộ trung cao cấp. Anh đã vào Việt Xô một lần. Mổ thoát vị năm 2000 mà mọi người nói là làm lễ tiểu hara kiri (mổ bụng theo nghi thức võ sĩ đạo Nhật Bản) để bầy tỏ sự ủng hộ tập Chuyện kể năm 2000 của tôi bị Nhà Nước thu hồi, có mặt Hòa Vang, Mạc Lân, Vũ Bão và cả ba đều đã mất. Còn anh khỏe mạnh cho đến gần chục năm sau.

Một ngày cuối năm 2008, tôi lên Hà Nội nhận sách bản quyền tiểu thuyết Biển và Chim bói cá mới xuất bản. Tôi và Dương Tường đến bệnh viện thăm anh. Vẫn nghĩ anh không đến nỗi nào, tôi cười :

  • Chào cụ. Sách của tôi mới in đây. Tặng cụ.

Nằm trên giường bệnh, anh rút tay ra khỏi tấm chăn đắp trên người, nắm tay chúng tôi, bàn tay nhơm nhớp mồ hôi.

Lúc bấy giờ tôi mới nhìn kỹ bạn tôi. Bầu sút trông thấy. Mái tóc thưa càng thưa hơn. Trông rõ da đầu. Má hóp, mặt đen sạm. Không phải Lê Bầu tôi vẫn gặp. Anh không ngồi được nữa. Không cười. Nói khẽ. Thều thào. Vẫn không biết bệnh gì. Nó bảo nằm đây chờ xét nghiệm.

Chúng tôi ra hành lang gặp mấy người con anh. Các cháu cũng nói như anh nói: Chưa biết bệnh gì.

Về Hải Phòng tôi chưa bao giờ nghĩ Bầu sẽ ra đi.

Nhưng một cú điện thoại của con gái anh đã đuổi theo tôi:

-Bố cháu bị ung thư máu giai đoạn cuối.

Vậy là căn bệnh hiểm nghèo đã tàn phá anh từ bao giờ rồi mà anh không biết.

d 006

 Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu trên hồ Đại Lải

Lê Bầu ra đi mang theo tập hồi ký về cuộc đời long đong chưa bao giờ được viết ra của anh. Tôi trách anh. Sau này tôi biết anh dịch Tần Xoang không chỉ vì tiền (khi anh mất, con cháu ít nhiều đều được chia phần trong số tài sản còm anh để lại). Dịch Tần Xoang vì anh thích dịch Giả Bình Ao. Và nghĩ mình còn khỏe, còn thừa thời gian viết hồi ký và làm việc.

Anh không nghe tôi, không chịu rút kinh nghiệm Nguyên Hồng. Tôi luôn sợ cái chết cắt ngang và dành ưu tiên số một cho những điều cần phải viết. Ngoài ra, tất cả đều là thứ yếu.

Đã hơn bốn năm qua từ khi anh mất. Tôi không nghĩ đến quyển hồi ký lẽ ra được đọc của anh, cũng không trách gì anh nữa. Chỉ thỉnh thoảng nhớ anh, nhớ tiếng cười của anh. Tiếng cười giải tỏa những mệt mỏi căng thẳng của tôi, tiếng cười mà Lê Thị Oanh, phóng viên bào Hàng Không nhận xét: “Anh Bầu cười mới thích chứ. Anh ấy không cười thế thì anh ấy chết. Anh ấy khổ quá”.

Thì một người bạn không hề dính dáng đến văn chương chữ nghĩa mang đến cho tôi một chiếc phong bì:

-Đố ông biết tôi mang đến cho ông cái gì đây?

Tôi đỡ chiếc phong bì khổ lớn phồng phồng. Chiếc phong bì giấy giang quen thuộc mầu nâu cứng cũ sờn của Tạp Chí Nhà Văn có ghi dòng chữ Kính gửi đồng chí Lê Bầu. Và rút cái ruột ở bên trong. Một xếp giấy đánh máy. Người Dưới Bãi. Vẫn còn một xếp nữa mỏng hơn: Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng. Hồi ký Lê Bầu! Di cảo của anh! Dù cà hai cộng lại chỉ hơn trăm trang đánh máy.

Cầm xếp bản thảo như gặp lại bạn mình. Như có anh đang ngồi trước mặt. Những tờ pơ luya nội hóa màng màng có thể nhìn xuyên qua. Những hàng chữ chỗ rõ, chỗ nhòe, chỗ mờ. Tôi nhớ anh thường xin mực in nhuộm lại ruy băng đã cũ nhầu để dùng. Cũng nhớ anh chuyên dùng pơ luya và giấy than nội, có ram pơ luya ngoại để dành thì bị mối xông.Và đây, những chữ viết tay nét chữ quen thuộc anh ghi thêm bên lề.

Vậy là đúng như anh nói cùng tôi: Anh đã viết hồi ký.

Tôi đọc. Một Lê Bầu của tuổi thơ. Lê Bầu một thời thơ ấu. Đến bây giờ tôi mới hiểu cái tuổi ngọc ấy của anh. Một “tuổi ngọc” dành riêng cho những trẻ con nhà nghèo suốt ngày lo lắng miếng ăn. Những đứa trẻ sống tự nhiên như “những con hươu con nai trong rừng”, gần như không có người trông nom kèm cặp dạy dỗ, ngoài lời đe duy nhất của bố mẹ và những người phu khuân vác bạn của bố yêu cậu bé Bầu: Không được chầu mồm! Nghĩa là không được nhìn mồm người ta khi người ta đang ăn! Đi học, bơi sông, đánh đáo, đánh khăng, đứng quanh đám chèo, đám xẩm, xem, nghe, bàn chân lúc nào cũng dẫm lên nền đất ẩm phù sa sông Hồng. Có đi lên phố cũng là đi xem bọn lưu manh giở mánh lừa đảo người nhà quê lên Hà Nội.

Bầu là trẻ con bãi Phúc Xá Hà Nội. Thế mà tôi cứ tưởng ở Bắc Giang. Một Hà Nội những năm 30 của thế kỷ trước với những người dân dưới bãi, không phải ngoài bãi đâu mặc dù Phúc Xá nằm ngoài đê. Dân  dưới bãi vừa chỉ đúng độ cao của bãi bồi so với phố phường nội thành Hà Nội, và cũng chỉ đúng nấc thang xã hội của những người sống ở đó.

Đọc di cảo Lê Bầu, tôi không chỉ được sống với tuổi thơ anh, mà còn được sống với Hà Nội non thế kỷ trước. Từ việc chia lô, cách chia lô khu đất bồi tới những gia đình phiêu dạt từ các miền quê về tụ trên mảnh đất. Chồng theo, vợ theo. Không cưới xin. Lẳng lặng mà về. Đến lúc bỏ nhau lẳng lặng mà đi. Chính bố anh trong thời gian làm bột cũng có một bà vợ theo mà Bầu không biết bố đã “tán” mẹ thế nào để bà chấp nhận: Dì Cơi! Tuy nhiên, nhiều trưa Bầu vẫn phải đi làm nhiệm vụ do thám Dì Cơi và bố trên xưởng bột rồi về báo cáo với mẹ.

-Bố mày có ngủ không?

-Bố con đi đưa (giao) bột!

-Di Cơi mày có ngủ không?

-Dì Cơi xay bột!

- Dì Cơi có cho mày ăn gì không?

- Dì Cơi cho con ăn tào phớ!

- Tiền đâu mà ăn?

-Con không biết!

-Còn ăn gì nữa không?

-Không ăn gì, nhưng dì cho uống xích tông ca la đinh!

Khi xưởng bột của bố đóng cửa, dì Cơi ra đi, không bao giờ gặp lại nữa như mọi người vợ theo, chồng theo “dưới bãi”.

Tập hồi ký ngắn của anh có Tý Bủng, cầm đầu bọn anh chị bến ô tô Chợ Nứa (sau gọi là Bến Nứa) vói cách đánh vợ chửa lạ đời: Lấy xẻng khoét một cái hố giữa nền nhà rồi bắt vợ nằm sấp úp bụng vào hố và đánh vào đít đúng mười roi! Có bà Cau, bán nước ở ngã tư đường Bờ Sông đối diện với ngã tư Hàng Đậu, hiền như bà bàn nước trong cổ tích, trông thấy Bầu đi lang thang lên bến ô tô, ra ga xem chị em Bính Lớn, Bính Con lừa người nhà quê kiếm tiền là dặn: ‘Đứng xa xa chúng nó ra. Hỏng việc của chúng nó, chúng nó đánh chết.” Rồi hỏi: “Cháu bà học đến đâu rồi?” Có vợ chồng anh cả Mốc, có thầy cút lít, có cột đồng hồ trên đường vằng người, bọn cướp hay hoạt động…

Những tên phố, tên đường gợi một Hà Nội xưa, Nghĩa Dũng, An Dương, Tứ Tổng, Chợ hoa Cổng chéo Hàng Lược, dốc phố Hòe Nhai, hãng ô tô Con Thỏ của Lê Hữu Giai, Nhà Thương làm phúc, Chợ Nứa, Cổng đình Hàng Khoai, công Ty phú Hưng Thành…, cùng những tên người: Dì Ếch, Dì Cua, vợ chồng anh cả Mốc, Bác Bính kem… với những phương cách mưu sinh, kẻ bất lương, người lương thiện… đã cuốn hút tôi.

Tôi nghĩ những người thích tập hồi ký mỏng này của Lê Bầu sẽ không chỉ là trẻ em, mà cả người lớn, những người thích tìm hiểu Hà Nôi, kể cả những nhà Hà Nội học.

Là người đọc và nhuận sắc tập di cảo này, tôi khá vất vả vì nó. Rõ ràng anh mới nháp lần đầu. Khi hết một ý, anh đánh dấu phẩy, chờ những ý rồi sẽ đến. Những dấu phẩy cứ thế kéo theo nhau, có khi đến cả trang. Và khi hết “dấu phẩy”, trước khi xuống dòng, anh đánh dấu chấu chấm lửng (…) nghĩa là rồi sẽ được bổ sung thêm. Tôi dọn dẹp những chỗ đó, sao cho vãn giữ nguyên giọng văn của Lê Bầu.

Hai phần hồi ký với hai tên riêng cho từng phần. Nghĩa là sẽ còn những phần tiếp theo và tất cả sẽ được đặt dưới một tên chung.

Chúng tôi tạm để lại phần “Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng” và xin được đặt tên mới cho tập sách.

Và bây giờ, mời các em, mời các bạn đến với tuổi thơ Lê Bầu, đến với dân dưới bãi của Hà Nội ngày xưa.

d 007

Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu tại Đại hội Nhà văn lần VI Hội trường Ba Đình

Hải Phòng 2-11-2013

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

2 người rừng của bộ tộc Tà- ru

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Ảnh copy từ facebook Phạm Tường Vân https://www.facebook.com/van.phamtuong

Cập nhật tin về khối u

Nếu ai chưa đọc truyện của ông thì nên đọc, nếu một năm chỉ chọn một cuốn thì cũng nên chọn truyện của ông. Đọc để thấy dân của mình, trí thức của mình khổ thế nào! Mặc Ngôn viết về CMVH TQ còn phóng đại, còn Bùi Ngọc Tấn chỉ viết ra sự thật, viết từ gan ruột, viết về nỗi đau khổ bằng nụ cười “vi tiếu”… Nghe ông bị bệnh hiểm nghèo và đang ở TP.HCM, trưa nay vợ chồng Giang Hạnh (*) đến thăm ông. Trông ông rất tươi. “Nhân vật của ông” – vợ ông cũng thật nhẹ nhàng, dễ mến.
Nguyên Hạnh - Lê Giang và vợ chồng Bùi Ngọc TấnNguyên Hạnh và vợ chồng Bùi Ngọc Tấn

Đoàn Lê Giang

(*) Đoàn Lê Giang chủ nhiệm khoa Văn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, vợ là Nguyên Hạnh phóng viên báo Tuổi Trẻ.

 

Bùi Ngọc Tấn và khối u

Xang Hứng

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.

Tết  Giáp Ngọ 2014 lão Bùi Ngọc Tấn vui lắm.

Bước qua tuổi 80, gánh hành trang lão mang theo nhẹ tênh. Thời gian đã cất khỏi vai lão cả những tốt đẹp và thối nát, những chân thành và giả dối, những tiếng cười đắng cay, những hy vọng và tuyệt vọng, cả “5 năm tù dài hơn 1 kiếp người”.

“Thật may, lão cũng còn vớt vát lại chút ít. Rất ít. Trong tiểu thuyết và mấy truyện ngắn. Hy vọng nó sẽ là một cái bong bóng nhỏ cùng với nhiều bong bóng khác nổi lên trên mặt hồ tĩnh lặng của ký ức dân tộc về một thời mọi người đều có thể bị biến đổi gien.”*

Hai cái đầu gối, “một bộ phận không nhỏ” trong cái thân thể nhỏ bé của lão bỗng như hết đau, hồi sinh khi bạn bè đến thăm và chúc Tết gia đình họ. Vợ lão, người đàn bà nhỏ thó nhưng rất mạnh mẽ, can đảm, thủy chung, cả đời chỉ biết đau cùng nỗi đau, hạnh phúc cùng niềm hạnh phúc của chồng. Trên môi bà luôn nở nụ cười, nụ cười đã giúp cho lão tồn tại, rồi hồi sinh trở về từ ngục tối.

Cái Tết vừa đi qua, lão sững người ngạc nhiên khi biết Nhà xuất bản Trẻ đề nghị in những tác phẩm của lão thành “tuyển tập”. Vui thì có vui nhưng đêm nằm lão nghĩ, làm chó gì có nhiều niềm vui đến cùng một lúc như vậy. Quả là một sự vô lý vĩ đại, quá sức tưởng tượng của “Người chăn kiến”: Bùi Ngọc Tấn!

Lão đã vào tù bằng cái tội danh bị “người ta” gán cho. 46 năm trước, thứ sáu, mùng 8 tháng 11 năm 1968, khi tỉnh dậy trên giường vẫn còn là người tự do. Vài giờ sau, lão đã được nhận suất cơm tù lạnh ngắt đặt ngay dưới đất, cùng phần nước uống đựng trong cái bô sắt han rỉ.

5 năm sau ra tù, lão “tự thú” bằng cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000″. Đứa con tinh thần của lão chưa đầy tháng thì nó lại bị người ta bỏ tù.

Những tưởng đến cái tuổi này thì chẳng còn gì làm lão ngạc nhiên, ấy thế mà khi đối diện với những niềm vui đến liên tiếp, lão đã sướng đến mất ăn mất ngủ. Rít thuốc lá cả ngày, nghĩ ngợi cả ngày, phải có nguyên cớ gì chứ, lão cố tìm hiểu.

Thế rồi lão phát ho phét hen. Ho sù sụ, ho như cuốc, ho ngày, ho đêm. Bao nhiêu thuốc Đông, thuốc Tây, thuốc lá, rồi cả chữa mẹo cũng không làm cơn ho buông tha lão. Suốt mấy tháng ròng, vợ con đưa lão đi khám khắp các bệnh viện, nghe ngóng ở đâu có bác sỹ giỏi là đến ngay. Cuối cùng, có anh bác sỹ đề nghị lão đi chụp CAT (Computed Axial Tomography) phổi.

Vừa đặt lưng trên CAT, lần đầu tiên sau nhiều ngày thức trắng, lão ngủ, ngủ say. Hôm đó là tháng 5/2014.

Cầm tấm phim và tờ kết quả, cô con gái lớn của lão khóc ngất: “Trên cửa sổ trung thất: Tổn thương nốt đơn độc đỉnh phổi trái KT 18,5 x 18,3mm, bờ đều, ranh giới rõ, tỷ trọng mô sau tiêm thuốc cản quang khối ngấm thuốc khá mạnh…”. Gần đây, Hải Yến, con gái lão mới tâm sự: “Hai năm ăn kiêng không làm con giảm được cân nào, thế mà cái khối u trong phổi bố giúp con giảm 4 kg trong vòng chưa đến 1 tháng”.

Thêm một lần nữa, bà vợ chung thủy, nhỏ thó lại đồng hành với lão trong biến cố mới.

Thì ra nguyên nhân là đây. Có thế chứ, một lần nữa lão lại phải trả giá cho đời sống, lần này thì bằng những nguy cơ có thật, cái nguy cơ có kích thước 18,5 x 18,3mm đã “hạ đặt” trái phép trong buồng phổi lão, một cơ quan có tầm quan trọng sống còn của con người. Lại thêm một lần nữa, “Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ trụ không cùng…”*

Năm 2006, sau hơn 40 năm được thoát khỏi cái “nhà tù nhỏ”, lão có dịp trở lại thăm trại Hoành Bồ, một trong những trại lão đã “sống” qua 5 năm thời trai trẻ. “Một thèm muốn, một khát khao như thèm muốn khát khao được trở lại mảnh sân, góc vườn thời thơ ấu: Ao ước được trở lại những trại giam, những nhà tù tôi đã sống. Những nơi ấy là một phần cuộc đời mình, đã góp phần hình thành mình cả về xương thịt lẫn tâm hồn, không thể thiếu, không thể tách rời. Càng về già, càng đến gần cái kết thúc tất yếu càng mong được một lần trở lại. Không phải quê hương, nhưng là một cõi, cõi mình trải qua một kiếp, để rồi sống tới đáy tuyệt vọng của một kiếp người”*

Lão đã trở về, không phải để căm hận những kẻ đã đày đọa mình, nhưng để có thể quên, để tha thứ, để xóa đi những ám ảnh tuyệt vọng khi đã về già, để tiếp tục sống bên những người thân yêu, bè bạn. Để viết, để được tiếp tục trò chuyện cùng “Chữ”, người bạn chung thủy của lão, những “chữ vô hình, những chữ hoài thai trong ngục tối, trong lao động khổ sai để rồi sinh nở trên giấy trắng mấy chục năm sau đó, một cuộc hoài thai kéo dài hơn nửa kiếp người. Chữ trò chuyện cùng tôi, động viên tôi vượt qua cái chết lâm sàng, an ủi tôi mỗi khi tôi tuyệt vọng.”*

“Có những điều hắn tưởng không bao giờ quên được. Ấy thế rồi hắn đã quên”.*

Lần này thì lão cùng gia đình có toàn quyền quyết định. Tháng 6/2014, Bùi Ngọc Tấn cùng vợ vào Sài Gòn ở với cô con gái.

Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Lão bảo với tôi: “Anh rất thoải mái trong tinh thần, được sống đến ngày hôm nay là lãi lắm rồi, cho dù có xảy ra điều gì thì anh cũng đã được sống một cuộc đời thú vị, có một gia đình yêu thương, nhiều bạn bè tốt. Khi nghe anh có khối u, bạn đọc, người thân đã tận tình giúp anh, tìm đủ mọi cách tốt nhất cho anh để chữa bệnh. Anh đã bàn với chị và các con, sẽ lại một lần nữa chung sống với cái khối u quái ác này”.

Tôi hiểu rằng lão đã chọn thái độ tiêu cực nên hỏi: “Nếu biết chắc khối u trong phổi là u lành, anh sẽ làm gì?”

Nở nụ cười hiền lành và tươi rói, lão trả lời ngay: “Anh sẽ ra Hải Phòng, và… Viết, anh có rất nhiều ý tưởng…”

Lúc này Yến, cô con gái lớn của lão bước ra tham dự buổi chuyện trò. Tôi đề nghị:

- Như anh kể, một người còn sống, còn sáng tạo được như anh sau khi phải trải qua những năm tháng mà chỉ nhớ lại thôi đã thấy khủng khiếp thì có lý do gì mà ngại ngần khi thêm một lần nữa đối diện với sự thật. Cái quan trọng của người bệnh là tinh thần, điều này anh có. Quan trọng nữa là anh có sự chia sẻ từ gia đình, mọi người luôn bên anh. Em đề nghị anh tham khảo ý kiến của những bác sỹ chuyên khoa. Nếu cần, sẽ dùng biện pháp can thiệp tích cực nhất”.

Giác quan của tôi, quan sát của tôi khi nhìn sắc diện lão cho thấy, đây cũng chỉ là một biến cố thử thách của cuộc đời. Lần này cũng chả kém gì những thử thách khắc nghiệt nhất là lão đã từng vượt qua. Lão sẽ chết, nhưng là chết già. Điều quan trọng là trước khi chết già, lão còn phải tiếp tục “lao động khổ sai” và hạnh phúc cùng “Chữ”. Lão sẽ còn được đắm đuối, cay đắng, được lặn ngụp, nhấm nháp và nghiền ngẫm “Chữ”. Được vuốt ve ngắm nghía, gọt giũa, ấp ủ trong tim, ngậm trong miệng, thì thầm và đọc to lên, “Chẳng hạn như người vô hình, mùi của trẻ thơ, góa sống, chứng say tù, độc quyền yêu nước, độc quyền nhận sai lầm, tù ngoại trú mang bản quyền Bùi Ngọc Tấn trong văn học rất rõ ràng. Mà đâu chỉ là những cụm từ. Đó là những khái niệm sống.”*

Tôi mang bệnh án của lão tham khảo ý kiến các bác sỹ chuyên khoa. Trên phim chụp cắt lớp độ dày 8mm trước và sau tiêm thuốc cản quang có thể nhận thấy một tổn thương nốt đơn độc, không có hạch to có ý nghĩa bệnh lý trung thất và rốn phổi hai bên. Khẩu kính các mạch máu lớn trong trung thất bình thường, có xơ mỡ thành động mạch chủ ngực. Không thấy tràn dịch trung thất và màng phổi hai bên. Trên cửa sổ nhu mô: không thấy tràn khí trung thất và khoang màng phổi. Không thấy hình ảnh giãn phế quản và phế nang hai bên.

Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn.  Ảnh: tác giả cung cấp.

Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Hình ảnh nốt đơn độc ở đỉnh phổi trái có thể là u phổi. Vị trí không cho phép chọc sinh thiết. Các bác sỹ thống nhất sau khi kiểm tra chức năng phổi, nâng cao thể trạng là có thể dùng phương pháp mổ nội soi lấy trọn khối u ra. Lão sẽ lại về Hải Phòng, tôi tin như vậy…

Vui mừng gọi điện cho lão, nói rõ ý kiến của các bác sỹ. Lão mừng lắm nhưng vẫn hỏi tôi một câu: “Có cách nào mà không phải mổ, chấp nhận sống chung với “Nó” cả đời không?”

Lần đầu tiên, với một người bạn, người anh lớn, một nhân cách đáng kính trọng, tôi phải gắt lên:

- Trường hợp của anh không giống như trường hợp bệnh cả dân tộc mắc phải, muốn khỏe mạnh thì bất kể loại khối u nào, dù lớn hay nhỏ, dù ác hay lành đều cần cắt bỏ, cắt tận gốc. Đây là lúc anh được toàn quyền quyết định chất lượng đời sống của mình. Hãy đau thêm một lần để có một cuộc sống trong lành cho đến…chết”.

Tôi biết, ở đầu dây bên kia, anh lại nở một nụ cười hiền và đồng ý với tôi.

Sài Gòn tháng 7/2014.

(*) Lời của nhà văn Bùi Ngọc Tấn

 

Nguồn: http://hieuminh.org/2014/07/11/bui-ngoc-tan-va-khoi-u/

Lời cảm ơn của nhà văn

Ngày 18 tháng 6 vừa qua, nhà văn  Nguyễn Quang Lập đă cho đăng trên trang Quê Choa  của mình, dưới tiêu đề “Ân tình với nhà văn Bùi Ngọc Tấn”, tin tôi vào Sài gòn chữa bệnh (một khối u trong người) và công bố số tài khoản của tôi để tạo điều kiện thuận lợi cho những bạn đọc muốn giúp đỡ tôi.

Tôi rất xúc động trước cử chỉ cao đẹp ấy và càng xúc động hơn với những phản hồi của những bạn đọc đã đọc tôi. Những cuộc điện thoại, những bức thư điện tử, những cuộc thăm hỏi tại nhà con gái tôi, nơi tôi đang chữa bệnh, những túi quà, những số tiền gửi cho tôi qua tài khoản hoặc trực tiếp cầm tới nhà kèm theo những lời động viên khích lệ…

Ngoài giá trị sử dụng khác nhau của những món tiền to nhỏ khác nhau, tất cả đều có cùng một sức mạnh, từ số tiền 10 triệu đồng của cô Hoàng Kim Quý, 2 triệu đồng của bà Phạm Chi Lan, tới số tiền 50 nghìn đồng của một bạn đọc mà tôi đoán là nhỏ tuổi “mong bác chóng khỏi”… Đó là sự nâng đỡ sẻ chia, là niềm vui, là ý chí để người bệnh chiến thắng bệnh tật, điều đặc biệt quan trọng với những bệnh nhân mang một khối u trong thân thể như tôi. Tôi vô cùng cảm ơn tất cả các bạn. Tôi cũng xin được nói ở đây lời cảm ơn tới Quê Choa, niềm vui chờ đợi tôi mỗi sáng, tới người chủ của nó, Nguyễn Quang  Lập, một người bạn, một người em.

Bùi Ngọc Tấn

(Theo Quê Choa)

Ân tình với nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Bước vào tuổi 80, nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa phát hiện có một khối u ở phổi và đang vào TP HCM để điều trị. Biết được tin này, nhiều bạn đọc yêu quý nhà văn đã đề nghị Quê Choa cho địa chỉ và số TK của nhà văn để hỗ trợ ông chữa bệnh. Âu đây cũng là dịp mà nhiều người từng đọc các tác phẩm của ông( đặc biệt là cuốn Chuyện kể năm 2000) qua bản photo hoặc qua mạng, được trả món nợ “nhuận bút” ân tình. Vậy Quê Choa xin cung cấp địa chỉ:
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, khu tập thể số 10 đường Điện Biên Phủ, TP Hải Phòng.
 Số tài khoản 0031000306594, Ngân hàng Ngoại thương- Vietcombank/ chi nhánh Hải Phòng. Chủ tk: Bùi Ngọc Tấn
Theo Que Choa
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.