Viết với một sự giản dị chân thành nhất

Dưới đây là phần trả lời phỏng vấn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong chuyến thăm và làm việc tại trung tâm William Joiner, UMass Boston, thực hiện bởi Nguyễn Bá Chung:

1. Xin ông cho biết qua về thời niên thiếu, đã theo học những môn gì, đã đặc biệt ngưỡng mộ những tác giả hoặc trường phái nào?

Thời niên thiếu tôi học hết cấp 3 trung học phổ thông (lớp 9 thời đó). Giỏi văn và giỏi cả toán, luôn đứng đầu lớp. Thời trẻ thì ngưỡng mộ nhiều người lắm, yêu nhiều tác giả lắm. Thế giới  có Huy gô, Sô lô khôp, Pautôpxk…, trong nước là những tác giả Tự Lực văn đoàn. Tôi yêu những tác giả rất khác nhau: từ Huy Cận đến Vũ Hoàng Chương, yêu cả Nguyễn Tuân cả Vũ Trọng Phụng..

2. Xin ông cho biết lý do tại sao sau khi ra tù, ông đã ngừng viết hơn hai mươi năm? Trong thời gian đó ông nghĩ gì về nền văn học đương thời?

Sau khi ra tù, không những tôi không viết mà còn không đọc được sách, nhất là đọc những sách văn học Việt Nam, những sách của các bạn tôi viết. Những trung nông không vào hợp tác xã, cuối cùng nghèo đói, những cuộc đấu tranh giữa các đôi thanh niên nam nữ yêu nhau, một người vì tập thể một người cá nhân chủ nghĩa, cuói cùng tình yêu tan vỡ. Sau khi sống và chứng kiến những chuyện trong tù, đọc những sáng tác kiểu trên đây tôi thấy như mình bị xúc phạm. Cứ tiếp tục  víêt như thế thì viết làm gì?

 3. Những biến động ngoại cảnh hoặc nội tâm nào đã làm ông bất thình lình viết trở lại? Ông đã quyết định viết “CKN2000″ vào thời điểm nào? Viết trong bao lâu? Cảm tưởng của ông khi cầm bút trở lại? Khi viết lại những điều mình đã một thời trải qua?

Tháng 3-1990 tôi bắt đầu viết trở lại. Tình hình chính trị, kinh tế trong nước và quốc tế đã có những đổi khác. Phe XHCN tan vỡ. Hệ thống chính trị tưởng rất vững chắc đã sụp đổ. Một luồng gió tự do dân chủ thổi từ Liên Xô qua Đông Âu tới VN. Tại VN, Đại Hội 6 của Đảng quyết đinh đường lối đổi mới. Có nhiều biến chuyển về  sinh hoạt vật chất và tinh thần trong xã hội. Người dân bước đầu được giải phóng. Văn học nghệ thuật có những tín hiệu đáng mừng. Riêng văn chương đã có những sáng tác của Dương Thu Hương, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Nền văn chương già nua, nhợt nhạt công thức đã trở nên tươi trẻ, có sức sống.

Trong không khí như vậy tôi đã cầm bút trở lại. Thú thật, tôi đã tưởng mình không bao giờ còn viết văn trở lại.

4. Xin ông cho biết quá trình tìm kiếm nơi xuất bản CKN2000? Ông có nghĩ là tác phẩm có thể được chính thức ra mắt không?

Tôi hoàn thành CKN2000 vào khoảng cuối năm 1991. Chỉ trong hơn 1 năm. Khi đó sức khoẻ tôi còn tốt, có thể làm viêc thâu đêm. Năm 1993, tôi gửi CKN2000 dự thi 40 năm giải phóng Thủ Đô Hà Nội (1953-1954). Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã định in. Ban chấm thi đã dự kiến giải thưởng (thấp thôi, bởi nếu cho giải cao, lại lôi thôi như Bảo Ninh thì phiền). Thế rồi có  một sự cố, NXB Hội Nhà Văn bị đe doạ khởi tố, không dám in nữa.

Tôi biết tác phẩm của tôi khó được in vì nó đụng đến điều cấm kỵ: Nói về nhà tù, về tệ mất dân chủ nghiêm trọng trong chế độ XHCN, điều chưa ai nói đến và dám nói đến.

Thế rồi điều kỳ diệu đã đến. Nó đã được xuất bản.

5. Cảm tưởng của ông khi CKN2000 được nxb Thanh niên đồng ý in?

Tôi gửi lên nhà XB Thanh Niên cầu may thôi. Gửi mà chẳng mấy hy vọng. Bởi chính biên tập viên cầm bản thảo lên  sau khi đọc được hơn 100 trang, gọi điện về cho tôi: Khó đấy anh ạ.

Nhưng rồi giám đốc Bùi Văn Ngợi quyết định in. Phó giám đốc Phạm Đức, biên tập viên Cao Giang đều rất ủng hộ. Có một điều cần phải nói là: Nhiều đoạn tôi nghĩ sẽ bị cắt nhưng vẫn được các anh giữ nguyên.

6. Cảm tưởng của ông khi CKN2000 bị thu hồi?

Lúc đầu là một cảm giác bị lăng nhục. Là buồn. Sau đó là một sự lo lắng. Lo lắng cho mình thì ít, lo lắng cho các anh ở NXB thì nhiều. Tôi gọi điện lên cho anh Bùi Văn Ngợi:

“Tôi rất áy náy. Vì tôi mà các anh bị liên luỵ.” Anh Ngợi gắt lên với tôi: “Sao anh lại nói như vậy. Chúng ta làm những việc mà chúng ta nghĩ rằng có lợi cho dân cho nước. Nếu cấp trên của chúng ta có cái nhìn khác chúng ta, quyết định khác chúng ta thì chúng ta chấp hành thôi.” Bùi Văn Ngợi đúng là một người tuyệt vời.

7. Theo ông biết, mặc dầu bị thu hồi, CKN2000 vẫn được bán chui như thế nào?

Tôi lúc nào cũng nghĩ rằng Tập tiểu thuyết CKN2000 của tôi  sẽ được đọc dài dài. Trong đời, tôi đã chứng kiến nhiều quyển tiểu thuyết bị cấm nhưng mấy chục năm sau lại được in lại. CKN2000 được in lại ngay tức thì sau khi có lệnh thu hồi tiêu huỷ. In ở hải ngoại. Và in chui ngay trong nước. Người ta dễ dàng mua được CKN2000 tại các hàng sách vỉa hè Hà Nội và các chú bé bán sách rong, những chú bé Gavroche của Hà Nội. Một chú bé bán sách rong khoe với tôi: Con bán được tám chục bộ, bạn con bán được gần trăm. Bà M, một bà bán sách vỉa hè nói: Tôi bán được gần nghìn bộ. Chắc anh được nhiều nhuận bút lắm nhỉ. Tôi cười: “Tôi có được đồng nào đâu.”

 8. Một nhà văn hải ngoại, ông Lâm Chương, sau khi đọc CKN2000, đã nói với bạn bè là từ nay ông ấy sẽ không viết về trại cải tạo nữa, vì có viết cũng không thể nào hay hơn CKN2000? Theo ông, tại sao CKN2000 lại được độc giả cũng như các nhà văn đặc biệt trân trọng như vậy?

Tôi rất cảm động khi được biết ông Lâm Chương nói như vậy về tập sách của tôi. Việc phân tích những cái hay cái chưa hay của CKN2000 thuộc bạn đọc và các nhà phê bình.

Là tác giả, tôi chỉ có thể nói rằng tôi viết CKN2000 với tất cả sự cố gắng nhằm đạt tới cái trần của mình. Tôi tự nhủ: Hãy trung thực. Viết tất cả những gì mình biết, mình trải, với tấm long bao dung, không thêm, không bớt, không thù hận. Hãy dọn mình đối thoại với vô cùng. Viết với long nhân ái, với sự tự do mình dành cho mình, để tìm ra gốc gác, căn nguyên, không hớt váng. Viết với một sự giản dị chân thành nhất. Và viết với sự luyến tiếc đến đau đớn một thời tuổi trẻ đã qua. 

9. Một điểm đặc biệt của CKN2000 là tuy viết về đời sống mất tự do, những khốn khó khổ đau của bao mảnh đời bất hạnh đằng sau nhửng cánh cửa xà lim, nhưng nó không phải là tiếng ca uất nghẹn đầy hận thù và bi phẩn. Ngược lại, nó nói lên những liện hệ rất người, rất nhân bản, của những cuộc đời bị đẩy xuống những hố thẳm không cùng nhưng vẫn vượt được lên trên nó, vẫn giữ được những bản sắc nhân hậu mà những kẻ có tự do lại đánh mất. Theo ông, nhờ những kinh nghiệm bản thân đặc thù hoặc một triết lý sống nào mà ông có thể thể hiện được tính nhân bản sâu sắc đó trong tác phẩm của mình?

Đời người thật ngắn ngủi  vất vả khó khăn và đau khổ  nữa. Cả những người gây đau khổ cho tôi cũng không tránh khỏi điều này. Tôi yêu cuộc đời. Tôi yêu mọi  người. Tôi ao ước người với người sống với nhau tốt hơn. Không chỉ mình tôi ao ước như vậy. Tôi nghĩ ngay cả những kẻ tàn ác cũng có lúc muốn sống tốt, sống lương thiện.

10. Với phản ứng đặc biệt trân trọng của độc giả đối với CKN2000, ông có kỳ vọng gì về các tác phẩm tương lai của văn học Việt Nam?

Là một người viết văn tôi thật hạnh phúc với sự cảm thông chia sẻ của độc giả. Đó là sức mạnh giúp tôi sống và làm việc trong những năm còn lại. Có thể nói tôi rất nghèo nhưng cũng giầu có vô cùng. Một lần nữa cho tôi được cảm ơn những bạn đọc trong nước, ngoài nước đã chia sẻ cùng tôi.

Tôi luôn hy vọng vào những thành tựu sắp tới của văn học Việt Nam, bởi kinh nghiệm sống của tôi là : Không bao giờ ngừng hy vọng.

Boston, 9 tháng 5, 2009

(Nguồn: blog Guihuongchogio)

BÙI NGỌC TẤN – ÔNG NHÀ VĂN HÀNG XÓM

Hàng năm, cứ đến giao thừa là chúng tôi tập trung đón tết ở gia đình anh Mẫn – chị Hà. Trong số 5 anh chị em (đi từ Hà nội sang) làm việc cho Liên hợp quốc (UN) ở New York thì chỉ có anh chị Mẫn Hà là đã có nhà riêng. Anh Mẫn sang New York được gần 20 năm. Chúng tôi, người nhiều thì 6 năm, người ít thì chưa được 2 năm nên đều phải ở nhà thuê. Trong các bữa ăn như vậy bao giờ trẻ con cũng có trò chơi riêng ở phòng khách. Người lớn chúng tôi ngồi ở phòng ăn, uống trà và bàn chuyện nước nhà. Bao giờ cũng bắt đầu bằng các tin tức trên các tờ báo chính thống, sau đó đến chuyện văn chương, nghệ thuật…

Một lần, sau khi nói về cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh, anh Mẫn quay sang hỏi tôi: “Ở Hải Phòng em có biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn không?”. Quả thực là cho đến tận lúc ấy, tôi chưa từng nghe thấy tên ông ấy một lần nào. Anh Mẫn nói tiếp: “thế thì chắc là em chưa đọc cuốn Chuyện kể năm 2000 đúng không?”. Chị Hà đang pha trà cho mọi người, nói ngay: “Thế thì em phải đọc đi em ạ. Hay lắm đấy!”. Cần phải nói thêm, lúc còn ở Hà Nội, tôi cũng chịu khó mua sách hay để đọc. Ơn trời, lương của UN cũng cho phép chúng tôi mon men đến được với “văn hóa đọc” – một thứ “xa xỉ phẩm” với phần đông dân chúng. Từ khi sang NY làm việc, mỗi lần về chơi hoặc có người sang, tôi đều mang hoặc nhờ bạn bè gửi sách sang. Tủ sách của nhà anh Mẫn kê kín hai bên tường phòng ăn. Đủ các thể loại sách. Tôi và chị Hà thường hay trao đổi sách cho nhau. Trước khi chúng tôi về (thường là 1,2 giờ sáng), anh Mẫn đã tìm được một bản in trên khổ giấy A4 đưa cho tôi. Ở bên này, chúng tôi hay vào Talawas hoặc Việt Nam Thư quán, thấy có cuốn nào hay thì “in chùa” ra xem (thành thực xin lỗi các tác giả trong nước). Nếu bạn nào chưa đọc cuốn này thì cũng có thể vào các trang web trên để đọc. Cuốn sách này đã từng được in ra ở trong nước, nhưng ngay sau đó bị nghiền thành bột giấy vì tác giả dám đưa vào sách những vấn đề “nhạy cảm”…

Nếu tên tuổi nhà văn Bảo Ninh gắn liền với “Nỗi buồn chiến tranh” thì “Chuyện kể năm 2000″ của nhà văn BNT cũng là một điều tương tự. Đã có quá nhiều các nhà văn, nhà phê bình có tầm cỡ viết về cuốn sách rồi nên nếu tôi có quảng cáo thêm cho nó cũng chẳng có giá trị gì. Chỉ có điều cuốn CKN2000 đã làm cho tôi thực sự bị “sốc”. Giống như một người đang mò mẫm đi trong đường hầm tối bỗng nhiên bị lôi tuột ra ngoài ánh sáng. Mất phương hướng! Rạn vỡ niềm tin. (Thế thi xứng đáng bị nghiền thành bột giấy rồi còn gì!!!)Chính điều này đã thôi thúc tôi đi tìm gặp bằng được tác giả cuốn sách để hỏi cho ra nhẽ xem có bao nhiêu phần trăm sự thật trong đấy. Hơn nữa, càng đọc sách của ông tôi càng nhận ra những địa danh quen thuộc, quen đến nỗi như ông ấy là hàng xóm nhà mình…

Cuối cùng thì dịp may cũng đã đến. Nói đúng hơn là trong cái rủi có cái may. Tháng 3 năm 2006, ông xã tôi bị ốm. Đang cuối năm tài chính bận rộn tôi cũng vội vàng xin nghỉ phép về VN với ý định sẽ đưa ông xã sang bên này điều trị. Chuyến đi gói gọn trong khoảng 10 ngày vì tôi không yên tâm để cho hai đứa con “tự quản” mặc dù thằng anh gần 20 và con em gần 15 tuổi. Trước hôm tôi đi sang lại NY hai ngày, ông xã tôi thấy vợ có vẻ hỏi han, quan tâm đến ông nhà văn BNT mới “tiết lộ” có người quen có thể giới thiệu cho tôi đến gặp nhà văn. Lúc bấy giờ đã gần 7 giờ tối. Tôi giục ông xã gọi điện ngay…

Cô Hải – nhà báo đồng ý đưa chúng tôi đi gặp nhà văn ngay buổi tối hôm ây. Không kịp cơm nước gì, hai vợ chồng phóng xe máy đến ngay hiệu sách của cô ấy ở gần “Đồng hồ 3 chuông”. Cô đã gọi điện và cho biết nhà văn đang ở nhà. Lại lên xe máy để đi ngay. Đi một đoạn thì thấy cô Hải đưa chúng tôi vào một cái ngõ… ngay sát ngõ nhà mình!!! Cô Hải giải thích: “đây là nhà con gái anh Tấn. Hai anh chị ăn cơm ở nhà con gái, nhà anh Tấn ở ngõ bên cạnh???”.
Nghe tiếng cô Hải gọi réo rắt từ ngoài cửa, nhà văn vội vàng ra đón khách. Tôi chưa kịp xác định nên xưng hô thế nào với ông nhà văn tóc đã “muối nhiều hơn tiêu”, cô Hải đã nhanh nhảu giới thiệu:
– Anh Tấn ơi, đây là chi Chung, một độc giả mới ở New York về…
Nhà văn nói:
– Quý hóa quá. Em ở tận NY về cơ à. Vào nhà đi các em.
(Chết rồi! thế thì phải gọi bằng anh thôi). Nhà văn xởi lởi, hiếu khách làm cho tôi thấy vững tâm hơn. Trước khi đi, tôi đã nghĩ đến tình huống gặp ông nhà văn được quá nhiều độc giả hâm mộ và ông ấy sẽ rất “lịch sự đãi bôi” để khỏi bị mang tiếng là “chảnh”, nhưng cũng không quá “cởi mở” để cho khách biết đường rút lui sớm. Đỡ mất thời gian.
– Vâng ạ. Bọn em ở NY, đọc sách của anh “in chùa” trên mạng. Bây giờ em về, nếu anh có cuốn nào thì em xin anh một cuốn có chữ ký của anh để sang “khoe” với bạn bè.
Còn một chi tiết tôi quên chưa nói, đến hiệu sách của cô Hải, tôi đã lấy thêm 4 cuốn nữa của ông để xin ông chữ ký, hai cuốn cho tôi và hai cuốn tặng anh Mẫn chị Hà.
Bây giờ tôi mới có dịp ngắm kỹ ông nhà văn hàng xóm nhà minh.

nhavanBNT

Nhà văn đang ở nhà nên ăn mặc rất xuềng xoàng. Áo Blu-dông xanh và quần pijama kẻ sọc. Tôi thầm nghĩ trong đầu, đúng phải là một ông “nông dân” thế này mới viết được giọng văn “nhà quê chân chất” như thế. Sau này tôi chia sẻ với ông ý nghĩ đấy, ông còn bảo:
– Em nghĩ thế còn tốt chán. Lúc anh đi ra nước ngoài, người ta còn bảo anh giống “thuế vụ” hoặc như cái anh bán vé chợ quê ấy chứ.
Ở con người ông có một cái gì đó rất mâu thuẫn, không diễn tả được. Tóc ông, như tôi đã nói ở trên “muối nhiều hơn tiêu” nhưng giọng nói thì nhiệt tình sôi nổi như người chưa đi hết một nửa quãng đời mình. Ông và cô Hải (còn trẻ hơn tôi đến 8 tuổi) xưng hô với nhau “anh anh – em em” khiến tôi nghĩ ông chắc là ông “xấu máu”. Yên tâm gọi bằng “anh Tấn”. Gia đình ông đang chuẩn bị ăn tối. Khi tôi đề nghị ông ký vào 4 cuốn sách tôi vừa mua, ông nhiệt tình nhận lời ngay. Ông ngồi vào ký sách với một vẻ hết sức trân trọng – trân trọng sự trân trọng của độc giả đối với tác phẩm của mình. 

Tôi cũng đã một lần đi xin chữ ký của một dịch giả nổi tiếng theo đề nghị của thằng con trai. Bằng một sự tình cờ nào đó tôi được anh biết đến như một “đồng nghiệp” cũ mặc dù chúng tôi chỉ có một thời gian làm cùng một cơ quan. Khi tôi vào cơ quan thì anh đã chuyển đi từ lâu rồi. Tôi mua 2 cuốn sách và đề nghị anh ký tặng cho con trai và bạn của nó. Bằng một giọng nửa đùa nửa thật, anh ấy nói:
– Hai cuốn chứ 100 cuốn mình cũng ký. Các bạn mua sách thì mình được tiền mà…
Có thể do chỗ quen biết mà anh ấy nói thật lòng, nhưng giá mà đừng nói thật thì vẫn hơn.

Tôi chăm chú nhìn nhà văn ký tặng sách. Cô nhà báo tranh thủ “tác nghiệp” ngay. Thế là tôi đã có “vật chứng” để mang về NY cho anh chị Mẫn Hà. Lẽ ra chúng tôi nên về để cho hai vợ chồng ông ăn tối, nhưng tôi còn muốn tận mắt xem căn phòng 20m2 mà ông đã nhắc tới nhiều lần trong CKN2000. Hiểu được ý nguyện của tôi, ông tranh thủ ăn rất nhanh rồi đưa chúng tôi về nhà. Không phải tôi “thấy sang bắt quàng làm họ” mà gọi ông là “ông nhà văn hàng xóm”. Nhà ông ở đầu ngõ, nhà bố mẹ chồng tôi ở cuối ngõ. Ngõ nhà ông ở đầu phố, ngõ nhà tôi ở giữa phố, cách nhau chưa đầy 300m. Không hiểu sao tôi và ông chưa lần nào “chạm trán” hay ít nhất “va quyệt” vào nhau. Cái ngõ ông ở trước kia ô tô có thể vào tận trong cùng, bây giờ “người người cùng lấn – nhà nhà cùng lấn” nên hai chiếc xe máy tránh nhau còn khó. Tôi lại có người bạn học cùng phổ thông, nhà ở ngay phía trước nhà ông. Hồi ôn thi đại học, nhà của cậu ấy là “tụ điểm” của chúng tôi mỗi khi có nồi mỳ được nấu vào lúc nửa đêm. Lúc ấy chúng tôi thường ra vườn hoa Nguyễn Du hoặc đứng dưới ngọn đèn đường ôn thi để cho đỡ buồn ngủ. Học đến nửa đêm, đứa nào cũng đói nên chỉ cần có một tin nhắn “có mật” thì “ruồi” bay đến đông đủ.

Sau vụ “Nhân văn giai phẩm” với những tên tuổi như Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán…, vài năm sau một số nhà văn, nhà thơ cũng bị đưa đi cải tạo không án vì “tư tưởng xét lại”. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là một trong số những người đó. Bạn bè ông bảo, giá như ông cứ ở lại Hà nội thì chưa chắc đã phải “đi”. Lúc ấy chỉ tiêu “phản động” cũng được phân đều về các tỉnh thành, giống như kiểu phân chỉ tiêu địa chủ trong thời kỳ “Cải cách ruộng đất”. BNT, với những bài viết sắc sảo phản ánh “người thực việc thực”, đã lọt ngay vào tầm ngắm của những “người lính canh gác cho Đảng trên mặt trận Văn hóa”. Ông bị bắt đi khi vợ ông mới sinh đứa con trai út.

Năm 2002, khi tôi sang NY công tác biệt phái, chị phó giám đốc của Vụ tôi cho tôi mượn một cuốn sách viết bằng tiếng Anh do một sỹ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa viết về những năm tháng đi học tập cải tạo ở miền Bắc. Tôi không đủ bình tĩnh để đọc hết cuốn sách vì tôi không tin rằng chế độ nhà tù của chúng ta lại có thể đẩy con người vào chốn cùng cực như vậy. Tôi cũng tự “trấn an” mình rằng, họ là người tù của “phía bên kia” nên họ có thể viết “quá” lên. Cũng như khi mình đọc “Bất khuất” hoặc “Sống như anh”, chế độ nhà tù của “kẻ thù” cũng đã được miêu tả đâu có khác gì địa ngục trần gian. Năm 2003, tôi tìm thấy ở thư viện NY cuốn “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên (VTH). Anh VTH “bị đi” cùng thời với nhà văn BNT. Nhưng anh may mắn hơn BNT ở chỗ anh “được” giam ở khu biệt lập và khẩu phần ăn của anh “cao cấp” hơn gấp nhiều lần những trại mà BNT đã từng đi qua.

BNT viết CKN2000 sau 27 năm im lặng. 27 năm tính từ ngày ông được ra tù sau hơn 3 năm cải tạo không án. 27 năm ấy ông gọi là 27 năm “đi tù ngoại trú”. Hàng xóm nhìn ông với con mắt cảnh giác, nhất là khi khách đến thăm ông lại là những người bạn “ở trại về”. Các anh Cảnh sát khu vực thì vẫn không quên nhiệm vụ thường xuyên “ghé thăm” kiểm tra “nhân khẩu thường trú” ban ngày cũng như ban đêm. Không một nơi nào muốn nhận ông vào làm việc. Ông đã trải qua đủ mọi thứ nghề để kiếm sống: từ khuân vác ở cảng đến kéo xe bò, rồi sửa xe đạp… Đến nỗi một cây bút vô danh cũng có thể làm ông đau đớn vì những câu nói huênh hoang, hợm hĩnh của anh ta. Bạn bè cảm thông, chia sẻ, muốn ông cầm lại bút, nhưng ông đã quyết tâm đoạn tuyệt với nó. Viết làm sao được khi ký ức về những năm tháng tù đày còn đè nặng lên cả quá khứ và cuộc sống hiện tại của ông và gia đình ông. Nếu viết thì sẽ phải viết gì đây để “trả nghĩa” với những bạn hữu trong tù. Liệu những trang sách ông sẽ viết ra có đưa ông trở lại sau song sắt không? 27 năm đủ làm cho một con người từ lúc lọt lòng trở thành người trưởng thành. 27 năm nghiền ngẫm, chắt lọc…nỗi cay đắng, thù hận đã được hóa giải. Và ông đã cầm bút trở lại. Ông viết về cuộc sống ngục tù của mình với sự dí dỏm vốn có và đầy tính nhân văn. Tôi hỏi tại sao cuốn CKN2000 của ông viết từ những năm 90 mà ông lại đặt tên cho nó là CKN2000, ông trả lời, ông hy vọng khi mình bước sang thế kỷ 21, nước mình sẽ “cởi mở” hơn và người ta sẽ có thể chấp nhận được cái sự thật của gần 30 năm về trước. Và cuối cùng như các bạn đã biết CKN2000 đã bị nghiền thành bột giấy trước khi đến được với công chúng.

Thanh Chung  (nguồn: blog Jolicoeur)

Bùi Ngọc Tấn

Một cái bánh chưng gửi vào cũng được cắt ngang dọc, xem có tài liệu gì trong ruột bánh không, không sao để dành được, chỉ hai ngày sau là mốc xám dài bằng đốt ngón tay đã mọc xù lên dọc hai bên vết cắt. Khi còn giam cứu, gói đường gửi vào cũng bị đổ tung ra. Bao thuốc bị bóc. Ðiến thuốc bị xé. Hắn và Hoá thận trọng trao đổi. Trong tù rất thận trọng. Chẳng nên làm phức tạp tình hình. Chẳng nên làm mình thêm lo lắng. ở ngoài đời tự nhiên đã bị khoác cái tội tuyên truyền phản cách mạng”. Vào đây lại thêm tội chóng đối thì chỉ có mục xương. Nên tù chính trị ai cũng giữ mồm giữ miệng. Chỉ cởi mở với rất ít người đã qua thử thách. Như với già Ðô. Với Giang.
 
Chẳng ai nói với ai những điền sâu kín trong lòng, nhưng tất cả đều hiểu rằng: Không ai chấp nhận cái thứ tù không án. Tù không có ngày về. Không một ai chấp nhận chế độ ăn uống lao dịch khủng khiếp mà họ đang chịu đựng. Hắn quý trọng anh em tù Công giáo. Tất cả đều sống kiên cường, đúng mực. Tốt với bạn tù. Không ai là Giuđa. Không ai bẩm sớ. Có lẽ đó là anh em thực hiện lời dạy của Chúa. Thử thách này cũng là thử thách trước Chúa.

Thấy Cân đang ngồi với Hoá, hắn vòng về phía sau hội trường. Ngồi một mình. Ðấy là nơi cao nhất của quả đồi được lấy làm trại tù. Hắn nhìn anh em đi vật vờ, vô mục đích. Những thân hình xác xơ trong những bộ quần áo xác xơ. Những cái đầu cúi chậm rãi đếm bước. Chờ thời gian trôi. Chờ tối xuống. Ðể ngày mai lại hệt như hôm nay. Hắn nhìn hàng rào ken dày dưới chân đồi. Cỏ mọc lút. Không ai dám tới. Ra đấy làm gì, nếu không có ý định trốn trại. ở đó vắng teo. Như cầu Hiền Lương, khu phi quân sự. Tháng Tám năm ngoái, bọn hắn đã được ra chỗ đó. Bão. Bão to làm hàng rào đổ mấy chỗ. Bọn hắn phải đẵn gỗ, đẵn cây, đẵn nứa giồng lại. Chỉ một ngày xong. Ðể nhốt chính bọn hắn. Bao giờ thì mình cũng tự làm hàng rào, làm nhà tù nhốt mình. Ðời là thế!

Già Ðô đến ngồi cạnh hắn. Già đã đi đảo một vòng và biết khối tin thời sự. Già bảo:
“Cái đám mới lên ấy nhốt chung với toán lò vôi.”
Chưa phân toán. Có một anh ở Bộ N tên là Ðức. Từ Hoả lò chuyển lên. Còn cái anh Kiều Xuân Vĩnh chính họ Cao. Dòng dõi Cao Bá Quát. Sau vì sợ tru di tam tộc nên đổi thành họ Kiều. Thấy bảo chỉ thêm cái chấm vào thôi thì chữ Cao thành chữ Kiều.
Hắn cơ hồ tuyệt vọng:
“Tình hình xấu lắm, cụ ạ. Ngoài ấy lại đang bắt.”
“Hội Vũ Lượng thổi kèn làm gì mà cũng tù chính trị.”
“Thì tôi với cụ làm gì mà cũng tù chính trị. Mưu đồ gì. Chống đối gì. Chỉ có tin tưởng ở các ông ấy quá.”
“Tội của chúng mình không phải là mất lòng tin mà là tin tưởng quá.”
“Sống thế này không điên kể cũng lạ thật.”
“Tôi cũng mong tôi điên. Thật khốn nạn vì mình vẫn không điên lên được.”
“Ðêm qua, tôi mơ thấy con bé con bên Pháp. Nó vẫn như lúc tôi từ biệt nó. Tôi mơ thấy quán rượu của bà Jeannette. Tôi vào ngồi ở quán. Con bé chạy ra hỏi: Que buvez-vous? _ Vẫn cái giọng nói ấy. Nó chẳng nhớn lên chút nào. Tôi ôm lấy nó: “Không nhận ra bố à? Con mèo con của bố”. Nó khóc, nó giãy tụt khỏi tay tôi. Rồi nó gọi: “Mẹ ơi Có khách! ! Vợ tôi ra đứng sau quầy: “ Ông dùng gì? Tôi cũng nói như một người khách: “Cho một cốc vang và một xăng-đuých! ! . Kỳ lạ… Bà Jeannette cũng không nhận ra tôi. Tôi thì nhận ra cả hai. Nhưng cứ ngồi uống như một người khách lạ.”

Già Ðô cúi đầu. Hắn thở dài, thèm được như già Ðô, giọng rầu rầu:
“Tôi mất. khả năng nằm mơ rồi. Ðã bao lần tôi ao ước năm mơ thấy vợ, thấy con. Nhất là các cháu. Lần cuối cùng tôi nằm mơ là thời gian còn ở xà lim 75 _ cách đây hơn ba năm rồi. Phải nói, tôi mong năm mơ thấy các cháu lắm. Thế rồi cầu được ước thấy. Tôi nằm mơ thấy thằng cháu lớn. Hai bố con ở dưới đầm. Nước tới cổ tôi, cổ cháu, mênh mông, nắng loá. Sóng nữa. Tôi bơi lại chỗ cháu. Và cứ thế túm đầu thằng bé mà tát nó, đánh nó. Nó khóc, nó khóc thảm thiết: “Con lạy bố rồi, bố đừng đánh con nữa”. Tôi vẫn cứ ấn nó xuống và đánh. Nó nhô lên, tóc ướt đẫm. Nó khóc. Nó gào khóc đau đớn: Con lạy bố rồi. Bố đừng đánh con nữa”. Tôi choàng tỉnh. Run lên. Toát hết mồ hôi. Trống ngực đập thình thịch. Nghĩ thương con quá. Sao tôi lại đánh nó? Tôi chỉ mong nằm mơ thấy chúng, được gặp chúng trong mơ để ôm ấp, yêu chiều. Thế mà mơ thấy nó tôi lại đi đánh nó.”

“Tôi cũng thế. Tôi cứ ngồi uống như một khách hàng, thế mới khổ chứ. “
Hắn lặng im. Hắn đang nghĩ đến cái ước mơ nằm mơ thấy con của hắn, nằm mơ thấy thằng lớn một lần nữa để hắn sửa chữa tội lỗi làm bố của hắn. Sao hắn lại đánh con hắn như đánh đòn thù? Sao hắn lại là một thằng bố độc ác, vũ phu đến thế Thàng bé gào lên trong mơ, những tiếng gào thảm thiết cứ vọng mãi bên tai hắn: “Con lạy bố rồi. Bố đừng đánh con nữa”. Sao phải lạy bố, hở con? Ôi! Con tôi, những đứa con khổ dau, côi cút ở bên kia thế giới.
Hắn than thở:
“Ðêm nào đi ngủ tôi cũng ao ước nằm mơ thấy cháu một lần nữa. Nhưng từ bấy đến nay tôi không nằm mơ thấy gì hết. Tôi hoàn toàn mất khả năng nằm mơ rồi. Ðấy là lẩn nằm mơ cuối cùng của tôi. Tôi thương nó quá.”
“Tôi cũng ít nằm mơ. Giá đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy Marseille. Thật là một thành phố… Không. Hải Phòng không thể nào bì được. Hải Phòng xa biển.”
Ðằng này biển gầm thét ngay nơi mình ngủ. Thật là vĩ đại Những người dân ở đấy thẳng thắn, cởi mở, vui tính… ông Martin với cây đàn violon và cả bầu đàn thê tử đến đâu là hội ở đó. Trẻ con người lớn quây lấy. Thật là những người vô tư lự.
“Ðời cụ thật sung sướng. Biết đây, biết đó. . Tôi thì từ bé lên rừng, ăn rau muống của cách mạng. Bây giờ lại lên rừng. Rau muống chẳng có mà ăn.”
“Tôi về nước với bao ý định tốt đẹp. Thật không ngờ.”
“Tôi ao ước được như cụ. Ðược một lần leo lên tháp Eiffel đứng trước Khải Hoàn Môn.”
Họ nói với chính họ. Mỗi người mang trong lòng nỗi khổ đau quá lớn, đến nỗi trong một lúc không còn khả năng tiếp thu được nỗi lòng người khác.
Có tiếng kẻng vang lên. Một hồi dóng dả dội vào rừng xanh. Kẻng điểm danh buổi tối.

Persecuted Writers Honored with Prestigious Awards

27 Writers from 20 Countries
Receive Hellman/Hammett Grants

A diverse group of writers from 20 countries have received Hellman/Hammett grants in recognition of the courage with which they faced political persecution, Human Rights Watch announced today.

Among the recipients is Daniel Bekoutou whose reports played a key role in the international effort to hold Chadian dictator Hissène Habré accountable for crimes against humanity committed under his rule. The Hellman/Hammett awards also recognize Maria Petreu for her outspoken criticism of extreme right ideology in Romania and Esmat Qaney whose writings have been burned and banned by successive Afghan regimes.

Each year, Human Rights Watch presents Hellman/Hammett grants to writers around the world who have been targets of political persecution. The grant program began in 1989 when the estates of American authors Lillian Hellman and Dashiell Hammett asked Human Rights Watch to design a program for writers in financial need as a result of expressing their views. This year’s grants totaled $175,000.

In many countries, governments use military and presidential decrees, criminal libel, and sedition laws to silence critics. Writers and journalists are threatened, harassed, assaulted, or jailed merely for providing information from nongovernmental sources. In addition to those who are directly targeted, many others are forced to practice self-censorship.

Short biographies of the recipients who received grants in 2001 follow.

….

 

 

Bui Ngoc Tan (Vietnam)

started a career in journalism in 1954 writing in accord with the Vietnamese Communist Party (VCP) line. Gradually, he became critical of the VCP perspective. In 1968, he was arrested as a “revisionist and antiparty element” and imprisoned without trial from 1968 to 1973. After his release, he wrote stories and novels but was banned from publishing and had to earn his living as a laborer. In 1995, he was permitted to publish again. Nhung Nguoi Ranh Viec (These People with Nothing to Do), published in 1995, and Mot Ngay Dai Dang Dang (A Very Long and Boring Day), published in 1999, are mildly critical of the ruling regime. In 2000, he published Chuyen Ke Nam 2000 (Story Told in Year 2000), a denunciation of the communist detention policy. This book was too much for the censors; it was recalled and burned. He has undergone numerous interrogations and is now under surveillance.

….

Đọc Làm Ngư­ời Là Khó: Không ai thoát đ­ược lịch sử

Bùi Ngoc Tấn 

Do cả đời bị oan khuất, bị trù dập, cả đời vác đơn đi kêu oan, cả đời đ­ược nghe những lời hứa hẹn để không bao giờ thực hiện của các quan chức, các cơ quan công quyền, và cũng bởi có đôi chút nhận xét thông thư­ờng của một ngư­ời có trí tuệ trung bình về những điều diễn ra trư­ớc mắt trong phạm vi toàn xã hội, nên niềm tin của tôi vào các thứ bậc thủ trư­ởng từ thấp tới cao và tới tối cao đã chết lâu rồi. Tôi biết vẫn còn nhiều ngư­ời tốt, nh­ưng cái trật tự này nó làm tha hoá đi tất cả. Tôi đã nói với ông Hoàng Hữu Nhân, ân nhân của tôi, một trong số rất ít ngư­ời còn có trách nhiệm với con ng­ười: “Anh như­ con gà giữa đàn vịt. ở đâu cũng trơ ra”.

 

Đến khi cầm trong tay tập hồi ký Làm ngư­ời là khó (LNLK) của ông Đoàn Duy Thành và đọc nó một mạch trong suốt một ngày, tôi càng tin ở nhận xét của mình về cái trật tự xã hội nó tha hoá con ng­ời, nó làm cho những ng­ười tốt khó có đất sống. Nh­ưng không chỉ một kết luận buồn đó. Còn một kết luận vui khác. Những ngư­ời tốt vẫn còn. Nh­ư ông Đoàn Duy Thành. Dù bao trùm lên vẫn là nỗi buồn: Những ng­ười tốt không đ­ược làm việc. Những ngư­ời trung thực, có tài bao giờ cũng chịu vất vả, hiểm nguy. Th­ường là bị vô hiệu hoá. 

Tôi thích một câu thơ Pháp mà tôi không nhớ tên tác giả: “Thần thánh chết rồi còn lại ta”. Tôi cũng mới đọc lại Nietzsche: “Ta biết quá rõ những kẻ giống với Th­ượng Đế. Chúng muốn rằng thiên hạ tin nơi chúng và hoài nghi là một tội trọng. Nh­ưng ta biết quá rõ chúng tin tư­ởng vào điều gì hơn cả”.  Thế mà tôi vẫn bị bất ngờ khi đọc Đoàn Duy Thành, bất ngờ ở chỗ những vụ chơi nhau thì từ thủ đoạn đến ngôn từ tại cấp tối cao cũng giống hệt cấp xóm cấp xã, cấp chợ cấp ph­ường. Tiếc rằng tôi không có tài viết kịch. Một vở kịch rút ra từ LNLK đang chờ một ai đó.

 

Tôi rất khâm phục trí nhớ cũng như­ năng lực viết khi tác giả đã ngoài 70 tuổi. Nh­ưng đó là điều tôi không muốn nói ở đây. Tôi biết, là một Trung ư­ơng uỷ viên, một Phó Thủ t­ướng, ông Đoàn Duy Thành đã tự hạn chế nhiều trong hồi ký của mình. Là chứng nhân của lịch sử, những chuyện “thâm cung bí sử” ông biết không chỉ có vậy. (Tôi ao ư­ớc sẽ có dịp ông công bố những nhận xét toàn diện hơn, chi tiết hơn về thời cuộc cũng như­ về những đồng cấp và th­ượng cấp của ông.) Nh­ưng là một ngòi bút trung thực, những gì ông viết ra đã nói biết bao điều.

 

Khi mới cầm tập sách, đọc lời đề từ: Làm ngư­ời là khó. Làm ngư­ời Xã hội chủ nghĩa còn khó hơn nhiều, tôi thấy như­ một sự lên gân. Như­ng đọc xong, tôi mới thấy đúng là Làm ngư­ời Xã hội chủ nghĩa còn khó hơn nhiều. Khó như­ những gì ông Thành đã kể. Khó vì không chịu làm cái công việc tịch thu nhà cửa, thực hiện “chỉ thị Z30 rất mật, tịch thu nhà từ 2 tầng trở lên, bất kể to nhỏ, trị giá bao nhiêu. Chỉ thị Z30 không đ­ược phổ biến cho các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ư­ơng, (mà) chỉ có chỉ thị bằng miệng. Hải Phòng cũng đ­ợc 1, 2 đồng chí Bộ Chính trị nhắc nhở rằng Hà Nội làm tr­ước, Hải Phòng theo Hà Nội mà làm (…) (…) Tôi trực tiếp lên Hà Nội xem việc tịch thu một số nhà. Tôi thấy chẳng khác gì cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất còn đấu tố rồi mới tịch thu. Nh­ưng Z30 chỉ đọc lệnh là tịch thu…(LNLK tr.263) Khó vì trong nông nghiệp, ông và tập thể thành uỷ Hải Phòng vẫn cứ thực hiện khoán chui tới hộ để dân khỏi đói, mặc cho tấm ưg­ơng tầy liếp Bí th­ư tỉnh uỷ Vĩnh Phúc Kim Ngọc bị kỷ luật, bị phê phán; vẫn đánh giá nghị quyết của tỉnh uỷ Vĩnh Phúc “đã đặt lợi ích của nhân dân, của đất n­ước lên trên hết, thậm chí trên cả tính mạng ngư­ời ra nghị quyết” (LNLK tr195), và đến khi Hải Phòng tự túc đ­ợc l­ương thực lại bị ng­ười đồng chí và cấp trên của mình cử một đoàn kiểm tra về và kết luận: Đi trệch hư­ớng. Khó vì không biết bao nhiêu cái đầu khô cứng đặc sệt nh­ưng lại có chức có quyền ở mọi nơi trên đất n­ớc làm thành một vòng vây trùng điệp. Như­ ông Bí th­ư tỉnh uỷ liền bên Hải Phòng phát biểu đầy lập trư­ờng cách mạng vô sản tiến công: “Nếu có giây thép gai, tôi sẽ rào luồng gió độc của Hải Phòng thổi sang”. Khó vì phải tính toán, phải dám chịu trách nhiệm để tổ chức đắp đê quai lấn biển đ­ường 14, một việc không ai tin sẽ làm đ­ược. Mà nếu đê vỡ thì sự nghiệp đi tong nh­ư lời một cấp trên của ông đã nói cùng ông. Phải đem cả cuộc đời mình ra đặt cư­ợc để có đê quai, để lấn biển, để Hải Phòng có thêm hơn 7000 héc ta đất canh tác, một kết quả khiến tôi cứ nghĩ đến cụ Nguyễn Công Trứ ngày x­a.

Điều thuyết phục tôi trong suốt 500 trang Làm ng­ười là khó tr­ớc hết là sự chân thành. Tôi đã đọc nhiều hồi ký của những vị lão thành cách mạng. Tôi thấy họ hầu hết là những ng­ười đặc biệt, những ngư­ời đã là chân lý, đã biết tất cả, đã đến nơi rồi ngay khi mới b­ước vào con đư­ờng cách mạng. Nh­ưng Đoàn Duy Thành thì không. Khi đã là Phó Thủ t­ướng, đã là Chủ tịch phòng Th­ương mại và Công nghiệp Việt Nam, ông vẫn không giấu diếm mình đã từng là một thanh niên thất học. Ông học bổ túc văn hoá từ lớp 5 trở lên. Ông học trung cấp tài mậu, ông học th­ương mại, học đại học, học chính trị. Ông học ngoại ngữ, thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, và có thể đọc sách báo bằng tiếng Trung Quốc…Ông học và đọc cả đời.

 

Hãy nghe ông thổ lộ những suy nghĩ về chủ nghĩa xã hội: Tôi luôn quan niệm rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội tất nhiên phải có những công trình lớn như­ nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, cầu Thăng Long…, nh­ưng đối với ng­ười dân không phải ai cũng biết. Cái mà họ cần là nơi đang sống phải ngày một tốt hơn. Từ cái ngõ vào nhà sao cho không lầy lội mỗi khi trời m­a, cái nhà đang ở không dột nát, cái hố xí mỗi khi đi vệ sinh không phải một nón che đầu, một nón che phía tr­ớc…(LNLK tr 237). Giữa lúc toàn xã hội coi giầu có là tội lỗi (nên mới có chỉ thị mật Z30), nghèo khó là th­ước đo phẩm chất, đạo đức  cách mạng, ông khuyến khích mọi ng­ười làm giầu (tất nhiên làm giầu chân chính). Là một ng­ười Nho học, ông viết: “Cách đây 5000 năm, Kinh Thi đã nói: “Văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử” (Văn hoá vật chất dồi dào sau đó mới có nưg­ời tử tế)” (LNLK tr 255). Ông lo từng bữa ăn sáng cho cán bộ công nhân trong thành phố Hải Phòng (với tổng số 15 vạn suất). Ông lo xi măng hoá đư­ờng ngõ xóm mấy chục năm rồi lầy lội. Ông lo cải tạo hố xí thùng, ông lo khoán hộ, ông lo mua tầu, ông lo cho mỗi công nhân cán bộ có cân đỗ cân thịt (không phải trả tiền) thêm vào trong túi hàng tết, mà thời đói kém ấy chúng tôi gọi là thịt ông Thành, đỗ ông Thành, ông đề xuất xoá bỏ các trạm ngăn sông cấm chợ, cho l­ưu thông hàng hoá trong cả n­ước, cả n­ước là một thị tr­ường thống nhất. Khi ông làm Phó Thủ tư­ớng, phụ trách l­ưu thông phân phối, hậu quả của thời gian giá l­ương tiền đẩy toàn bộ nền kinh tế xuống vực sâu, lạm phát đại phi mã lên tới 780%, dự trữ ngoại tệ chỉ còn hơn 1 triệu đô la. Ông đã nghiên cứu đề xuất nhập vàng, một việc ch­ưa từng có khiến nhiều uỷ viên Bộ Chính trị ngỡ ngàng, ng­ười phản đối, ng­ười cho qua, không thảo luận, ng­ười rêu rao nói xấu “Bộ tr­ởng Ngoại th­ương không nhập máy móc thiết bị lại đi nhập vàng” như­ng ông vẫn kiên trì thuyết phục từng ng­ười, kết quả đã nhập được khoảng 160 tấn, lãi hơn 1 tỷ đô la, giảm lạm phát xuống hơn 10 lần.

 

*

 

Không thể nói hết về LNLK trong một bài ngắn ngủi này. Chỉ có thể đọc nó. Đây là một tập sách rất cần đ­ược phổ biến rộng rãi. Một tập sách cần cho hôm nay và cần cho cả mai sau. Nó góp phần tái hiện một phần của lịch sử từ cách mạng tháng 8 năm 1945 tới nay. Ng­ời đọc có thể hiểu đ­ược một lớp thanh niên yêu nư­ớc, đến với cách mạng, chịu tù đầy hy sinh, tr­ưởng thành cùng với những b­ước thăng trầm của cách mạng. Lịch sử sẽ đ­ược viết lại từ những tập hồi ký như­ thế này. Nhiều kết luận chân xác sẽ đ­ợc rút ra để đánh giá cuộc sống và để tiếp tục sống. Lịch sử thư­ờng đến chậm nh­ưng không ai có thể thoát đ­ược lịch sử.

 

Đọc xong LNLK tôi hiểu Đoàn Duy Thành hơn. Tôi quý ông bởi ông suốt đời là một ngư­ời ham học và có cái đầu luôn suy nghĩ độc lập. Tôi quý ông vì ông đã có những cống hiến to lớn cho nhân dân cho đất n­ớc. Tôi chia sẻ cùng ông về những đắng cay của sự vu cáo hãm hại hèn hạ mà ông gánh chịu, sự vu cáo hãm hại hèn hạ từ chính những ng­ười đồng chí của ông.

 

Tôi kính trọng ông vì ông từ chức Phó Thủ tư­ớng khi thấy mình không thể làm việc đư­ợc. Trong lịch sử có nhiều vị treo ấn từ quan (chẳng hạn như­ Chu Văn An dâng thất trảm sớ, không đ­ược chấp nhận đã về dạy học, như­ Nguyên Hồng rời cả gia đình từ Hà Nội về Yên Thế), nh­nưg hình nh­ư chỉ có Bùi Huy Bích và Đoàn Duy Thành là hai vị cỡ tể t­ướng treo ấn từ quan. Khi mỗi chức vụ đều đư­ợc tính thành tiền với ba rem, đây quả là một việc không thể quan niệm nổi đối với giới quan chức. Phó Thủ tư­ớng phụ trách th­ương mại xuất nhập khẩu, l­ưu thông phân phối, tài chính, ngân hàng, cái ghế ấy là mơ ­ước của bao ng­ười, vào tay ai đó là tiền như­ thác lũ đổ về, là mở tài khoản ở nước ngoài, là ba họ được nhờ, là vinh thân phì gia, là ngụp lặn trong không khí cung đình, no nê bơi lội trong quyền lực. Thế như­ng ông Đoàn Duy Thành sẵn sàng từ bỏ nó. Với ông, chức vụ ấy chỉ đơn giản để ông làm việc, đóng góp cho đất n­ước. Sáng 1-2-1988, “dự thảo nghị quyết toàn diện chuyển kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị tr­ường định h­ướng xã hội chủ nghĩa” do ông và 6 bộ tr­ởng cùng một số chuyên viên kinh tế chuẩn bị đ­ưa ra hội nghị Bộ Chính trị, 14 ng­ười, 12 ng­ười tán thành. Đến cuối giờ chiều “anh Đỗ Mư­ời phát biểu. Không đi vào đề án, anh phát biểu phê phán trực tiếp tôi, với những ý chính sau đây: “Một Phó Thủ tư­ớng và 5, 6 bộ trư­ởng không chịu đi cơ sở, cứ ngồi bàn giấy nghiên cứu mô hình nọ mô hình kia, để làm gì? Vấn đề mới quá, tôi đề nghị gác lại đến tháng 9-1988 sẽ bàn”.  Vân vân và vân vân, xoay quanh phê phán tôi”. (LNLK tr333). 12 uỷ viên Bộ Chính trị ủng hộ. Chỉ 1 uỷ viên Bộ Chính Trị phản đối. Thế mà dự thảo nghị quyết đ­ưa ra bỏ đấy, không đ­ược thảo luận tiếp. Chúng ta thêm một bằng chứng về sự vô trách nhiệm của những đấng tối cao. Còn ông hiểu rằng mình không thể tiếp tục làm việc đ­ược. Chỉ một ngày sau, chiều mồng 2-2-1988 Phó Thủ t­ướng Đoàn Duy Thành đọc diễn văn từ chức.

 

LNLK khiến tôi hiểu Đoàn Duy Thành và cũng giúp tôi hiểu thêm đ­ược những khó khăn ì ạch của mỗi b­ước đi lên, những nguyên nhân của tình trạng xuống cấp toàn diện hiện nay. Ba mư­ơi năm đổ máu, đất nư­ớc Việt Nam đau th­ơng của chúng ta biến thành một sân chơi. Một ván cờ Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ. “Ngồi xổm chơi hay bệt đất thì tuỳ”. Nh­ư thơ Nguyễn Duy.

Hải Phòng tháng 5-2005

Bùi Ngoc Tấn

Hồn quê của Dạ Ngân

Bùi Ngọc Tấn

Đưa tặng tôi tập sách mới in, Dạ Ngân nói thêm: “Anh phải dành thời gian đọc cho em đấy”

Dạ Ngân là một nhà văn nữ mà tôi thích đọc. Gần như­ tất cả tácphầm đã xuất bản, chị đều gửi tặng tôi và tôi đêu hào hứng đọc cho đến. trang cuối cùng. Như­ng đây là 100 tản mạn hồn quê (NXB Phụ Nữ), không phải là tiểu thuyết như Gia đình bé mọn  hay truyện ngắn như Con chó và vụ ly hôn. Đây là những bài báo chị viết trong 2 năm  cho chuyên mục hàng tuần Tản mạn hồn quê của báo Nông Thôn Ngày Nay. Không pllải Dạ Ngân nhà văn mà Dạ Ngân nhà báo !

Đến bây giờ tôi mới biết Dạ Ngân đã một mình cáng đáng một chuyên mục trên báo. Như chị nói: “nó giống như có con mọn đi đâu cũng loay hoay, đi đâu cũng vướng”. Đó là chưa kể “rất dễ sinh ra buồn tẻ, đơn điệu vầ mỏi mệt.”

Đọc 100 tản mạn hồn quê, tôi kính phục một Dạ Ngân nhà báo và tôi phát hiện ra một Dạ Ngân khác. Một Dạ Ngân nhà văn tinh tế biết bao khi cảm thụ cuộc đời. Chị nhìn cây gạo như­ nhìn một ngư­ời phụ nữ. “Một cái cây vừa có dáng lại sinh ra một thứ hoa vừa có sắc, vừa có sự từng trải nữa thì quả là một sự dâng hiến chứ không chỉ là cuộc sinh tồn bình thường (…) Quá nhiều hoa, những đóa hoa to, đỏ thắm và ngả nâu, sao hoa lại phồn thực, ý nhị mà đẫm buồn như vậy? Có tâm sự gì, có nỗi niềm gì ở trong hoa chăng? Thế là chị ơi, rụng bông hoa gạo. Cầm một đóa hoa rụng lên, hoa thì phải rụng phải tàn, như­ng một kiệt tác như­ vậy mà cũng rụng rồi tàn thành cát bụi ư? Không khỏi nghĩ về những người đàn bà như ­ mình, vất kiệt cuộc đời rồi, dâng hiến đủ rồi thì cũng phải rụng và cũng phải tan rữa ra ư?”

Tôi đã nhìn cây gạo bằng đôi mắt Dạ Ngân ngắm nhìn từ xa đề tường hết vẻ phong trần độc nhất vô nhị của dáng cây. Tôi đã Nhớ heo may như­ chị nhớ, nhớ heo may ngay khi heo may đang về, đang bao bọc lấy tôi, “nó đang có mặt mà mình vãn thấy nhớ huống gì đi xa hay phải sống mà luôn thiếu nó, sự nhớ kỳ lạ này chỉ có với heo may, chỉ có gió heo may mới làm nổi”.

Hồn quê VN quá rộng.  Dạ Ngân suy nghĩ –  mặt đất và bầu trời, con ng­ười và cảnh sắc, cánh chim và hạt bụi, tất cả đều mang trong mình chất quê, hồn quê và bể dâu biến động, nhớ quên, thương tích, thăng trầm. Chị viết vê Những bó mạ hừng đông, về Ngôi chùa vô danh, về tiếng chim cu gáy trong vư­ờn, về Dáng cha ngồi, Mùi trầu ai đó, Anh em ruột thịt, về vẻ đẹp của những cánh đồng đã gặt, chỉ còn trơ lại những gốc rạ bắt đầu làm cái việc tái sinh cho đất. Chị nói với chúng ta về Nắng trọn vẹn, cái nắng như­ phớt mật, vàng nhẹ, trong nắng lại có gió, xôn xao, cởi mở chan hòa, cái nắng tác giả của bánh phồng bởi khòng có nắng sẽ không có không khí đàn ông cầm chày chòng chành bên mấy bà mấy cô cũng chòng chành chuyện vãn.

Vâng. Đây là những bài báo cho một chuyên mục hàng tuần.Như­ng là những bài báo giàu chất thơ, những bài báo về  một hồn quê được viết ra với  một ngòi bút có trách nhiệm, giàu câm xúc, những bài báo mà mỗi khi đọc nó, ta lại phải dừng lại, sống với những gì chợt trở về, chợt đến trong lòng  mình.

100 tản mạn hồn quê của Dạ Ngân đã trả cho tôi một chút tôi đã mất.

(Nguồn: Báo Phụ Nữ TPHCM ngày 5/10/07)

Thư gửi Hữu Thỉnh

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Hải phòng ngày 12-10-2001

Kính gửi Ông Hữu Thỉnh, Tổng thư ký Hội nhà văn Việt nam

Thưa Ông,

Tôi là Bùi Ngọc Tấn, hội viên Hội Nhà Văn Việt nam viết thư này gửi tới ông bởi có quá nhiều tin đồn thất thiệt xung quanh việc tôi nhận giải thưởng của Hội quan sát nhân quyền (HRW) và chuyến đi Trung quốc vừa qua của tôi.

Người nói tôi đã nhận giải, nhận tiền, người nói tôi đã từ chối giải, người nói tôi đã “ẵm gọn” 50 triệu đồng của thành phố Hải phòng, thậm chí một ông vụ trưởng còn nói tôi đã làm đơn tự nguyện không nhận giải mà xin đi Trung quốc như đòi một sự đền bù, “kỳ này chúng tôi cho đi, tiền tiêu thoải mái.”

Tôi xin phép được trình bày lại toàn bộ vấn đề để đính chính trước dư luận những sai lệch trên:

1. Về giải thưởng:

a. Khoảng tháng 3-2001 tôi có nhận được tin từ nước ngoài báo về tôi được trao giải thưởng văn học Chân Thiện Mỹ cho bộ tiểu thuyết của tôi. Tiền thưởng kèm theo giải là 3000 USD. Tôi đã tìm hiểu về tổ chức đứng ra tặng giải, và khi biết đó là tổ chức Việt nam phục quốc, tôi đã từ chối nhận giải.

b. Khoảng cuối tháng 4-2001, tôi lại nhận được tin từ nước ngoài báo về: tôi được trao giải nhân quyền Hellman-Hammett của HRW. Sau khi tìm hiểu tổ chức này, tôi đã quyết định nhận giải.

Trong nửa tháng 7 và đầu tháng 8 200l, các ông Hữu Thỉnh, Tổng Thư ký Hội Nhà văn (HNV), Nguyễn Trí Huân phó Tổng Thư ký HNV, Đỗ Kim Cuông vụ phó vụ Văn nghệ Ban Tư tưởng Văn hoá Trung Ương, Vũ Thiệu Loan, Hồ Anh Tuấn, chủ tịch, phó chủ tịch Hội Văn nghệ Hải phòng, Nguyễn Viết Lãm, nhà thơ đã đến nhà tôi khuyên tôi đừng nhận giải.

Với tất cả các ông trên tôi đã trả lời như sau: Tôi nhận giải thưởng vì:

1 Nhân quyển là một vấn đề có mặt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mãi mãi song hành cùng với nhân loại. Không một quốc gia nào trên thế giới có thể nói là mình đã giải quyết hoàn hảo vấn đề nhân quyền.

2~ Đó cũng là mục tiêu mà Đảng, Chính Phủ, Quốc Hội nước ta hết sức quan tâm để thực thi ngày một tốt hơn. Trong các nghị quyết của Đảng, Chính Phủ luôn luôn có vấn đề dân chủ hoá đời sống xã hội, chìa khoá đưa đất nước tiến lên. Tình trạng mất dân chủ hiện nay là rất nghiêm trọng dẫn tới những hậu quả khôn lường, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, cản trở sự phát triển của đất nước.

3- Giải thưởng là do những Đảng viên Đảng Cộng Sản Mỹ góp tài sản sáng lập.

 4- Tôi được tặng giải là do tập tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của tôi, trong đó tôi thuật lại trung thực cuộc đời tù tội oan ức của tôi với một thái độ chân thành và xây dựng (tôi đảm bảo với ông rằng, 4 nhân vật: ông Trần, ông Hoàng và vợ chồng người tù không án là thực đến từng chi tiết), một bộ sách được độc giả rất hoan nghênh nhưng lại bị thu hồi tiêu huỷ mà tôi luôn nghĩ đó là việc làm chưa được cân nhắc kỹ. Nếu đó là quyển sách phản động, chắc chắn tôi không nhận giải.

 5- Người ta tặng giải cho tôi không kèm theo bất cứ điều kiện nào.

 6- Tôi đã tuyên bố nhận giải, giờ đây tôi không thể phủ nhận.

 II. Về tiền thưởng kèm theo giải:

 1. Khoảng cuối tháng 6 đầu tháng 7- 2001, tiền thưởng đã hai lần được chuyển từ nước ngoài về tài tài khoản của tôi, nhưng tôi không nhận được. (người ta gọi điện về tôi mới biết) Và họ đã đề nghị gửi ít một theo đường bưu điện nhưng tôi gạt đi vì quá phiền phức hơn nữa cũng rất khó đến tay tôi.

 2- Trong khi gặp tôi, các ông Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Đỗ Kim Cuông, Vũ Thiệu Loan, Nguyễn Viết Lãm đều khẳng định với tôi rằng tiền thưởng là của CIA. Trước những thông tin từ hai chiều trái ngược nhau, tôi tự thấy cần phải có thời gian xác minh, kết luận, không thể vội vàng hấp lấp.

 Vì những lý do trên, tôi đã điện ra nước ngoài đề nghị tạm hoãn việc chuyển tiền.

 Thưa Ông,

 Đó là tất cả những gì xầy ra xung quanh việc tôi nhận giải thưởng của HRW.

 Cho đến bây giờ tôi vẫn giữ nguyên nhận thức trên. Hơn nữa cho đến nay việc nhận giải của tôi đã được nửa năm, đã là chuyện đã qua, không ai nhắc đến nữa. Việc tôi từ chối nhận giải bây giờ không chỉ làm tổn hại đến danh dự của tôi mà chắc chắn nó còn gây phương hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà Nước. Và đấy mới là điều tôi say nghĩ hơn cả.

 3- Về số tiền 50 triệu của thành phố Hải Phòng:

 Tôi cũng có nghe nói thành phố Hải Phòng quan tâm đến tôi, có thể sẽ giúp đỡ tôi số tiền khoảng 50 triệu đồng. Khi nghe tin này tôi đã phát biểu: “Nếu tôi được phép xin chính quyền làm điều gì đó thì đó không phải là tiền mà là xin chính quyền xét lại vụ án rõ ràng là oan sai của tôi.”

 Cho đến nay tôi chưa hề nhận số tiền đó.

 III. Về chuyến đi thăm và làm việc tại Trung quốc tháng 9-2001 vừa qua:

 Trong công văn Hội Nhà Văn VN gửi Thành Uỷ, Uỷ ban Nhân dân, Hội Văn Nghệ thành phố Hải Phòng (mà tôi có nhận được bản sao lục) đề nghị ra quyết định và làm thủ tục xuất cảnh cho tôi, có đoạn viết: “Việc tác giả Bùi Ngọc Tấn tham gia đoàn nhà văn đi công tác nước ngoài có thể góp phần xua tan dư luận phương Tây vẫn cho rằng: tác giả hiện vẫn bị phân biệt đối xử và bị ngược đãi về chính trị.”

Rõ ràng tôi đi Trung quốc vì cái chung chứ không phải tôi đòi hỏi một sự đền bù nào đó cho mình. Hẳn ông cũng biết năm 1998, tôi đã không nhận lời mời của một tổ chức nhà văn quốc tế mời tôi sang Châu Âu hoặc Châu Mỹ nghỉ một năm. Tôi luôn nghĩ rằng đối với một nhà văn, điều quan trọng nhất không phải là một chuyến đi ra nước ngoài.

Trong chuyến đi thăm Trung quốc vừa qua mà ông làm trưởng đoàn, thu hoạch sâu sắc nhất của lôi là về trường hợp ông Trương Hiền Lượng, nhà văn Trung quốc. Ông Trương Hiền Lượng bị tù oan 20 năm. Ông đã được sửa sai. Ông chuyên viết về nhà tù, thuật lại trung thực những gì ông đã trải. Tới nay ông đã viết và in cả chục tập sách. Nước ta đã dịch in 3 tập của ông và sẽ in 9 tập của ông. Ông được coi là một trong những nhà văn hàng đầu của Trung Quốc, “một nhà văn của bốn bức tường, nghia là nhà văn của nhà tù.” Sách của ông được nhiều nước phương Tây dịch. Ông chưa bao giờ bị phương tây nêu tên như một tồn tại về nhân quyền.

Tôi khao khát số phận đó của Trương Hiền Lượng và hy vọng rằng chuyến tôi đi thăm và làm việc tại Trung quốc vừa qua là mở đầu cho một giai đoạn mới của đời tôi.

Tôi xin gửi kèm theo đây xác nhận của Công an Hải Phòng về việc bắt tôi tù 5 năm để ông thấy rằng tôi hoàn toàn vô tội, và bản sao bức thư tôi đã gửi ông hồi tháng 7 trả lời ông về việc tôi nhận giải thưởng của HRW.

Trân trọng,

(ký tên)

(Bùi Ngọc Tấn)

 

Nơi gửi:

- Như trên

- Các ông: Nguyễn Trí Huân,

Đỗ Kim Cuông, Vũ Thiệu Loan,

Hồ Anh Tuấn, Nguyễn Viết Lãm

Đình Kính (để biết)

 

o0o

Gặp nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người kể chuyện năm 2000

Ghi chép của Nguyễn Ðạt/Người Việt

Chúng tôi từng mong gặp người đã can đảm nói lên sự thật trong lao tù Cộng Sản, nên khi biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả Chuyện Kể Năm 2000 có mặt tại Sài Gòn, chúng tôi rất mừng. Ông từ nhà ở Hải Phòng, vào Sài Gòn có việc đã hai tuần lễ, mùa World Cup 2006, nhà thơ Ý Nhi mới biết. Thân quen nhà văn Bùi Ngọc Tấn từ lúc gặp ở Hà Nội, nhà thơ Ý Nhi mời tác giả “Chuyện Kể Năm 2000” uống cà phê tại cái quán xinh đẹp trên lầu thượng của tòa soạn một tờ báo nhi đồng, đường Phạm Ngọc Thạch (đường Duy Tân cũ). Tôi được nhà thơ Ý Nhi mời cùng tới uống cà phê, mừng quên cả kiểm soát còn “pin” hay không trong cái máy chụp ảnh, định ghi hình kỷ niệm buổi gặp.

Có lẽ thức khuya xem bóng đá World Cup, trận đội tuyển Ðức gặp đội tuyển Argentina, nhà văn Bùi Ngọc Tấn tới trễ. Ông người tầm thước, trẻ hơn tuổi bảy mươi ba của ông, còn khỏe mạnh, giống một nông dân có chữ, vừa buông nông cụ để lấy sách ra giảng giải cho con cháu.

Tôi nói với nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tôi không hình dung ông còn khỏe mạnh tốt tươi sau “một mùa địa ngục” trong lao tù Cộng Sản. Ông cho biết, ông bị giam giữ 5 năm, từ 1968-1973. Vào tù sau Vũ Thư Hiên một năm, và ra tù trước tác giả “Ðêm Giữa Ban Ngày” 3 năm. Cùng bị tù vì tội “xét lại” chế độ Cộng Sản, vào thời kỳ “mùa băng tan” ở Liên Xô.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã vào Sài Gòn vài lần trước đây, lần này có đi cùng “nội tướng.” Nhà thơ Ý Nhi nói: “Phải kính phục bà xã anh Tấn. Không có chị, gia đình anh làm sao chống chỏi, tồn tại được từ lúc anh vào tù. Và anh đã tiếp tục viết, một lẽ sống của nhà văn.”

Khi chúng tôi biết nhà xuất bản Thanh Niên ở Hà Nội vừa in xong “Chuyện Kể Năm 2000” in thành 2 quyển, của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, thì vị giám đốc nhà xuất bản bị buộc thôi việc. “Chuyện Kể Năm 2000” bị thu gom, nghiền nát thành bột. Nghiền nát thành bột, hiệu quả có ngang bằng cuộc “phần thư” của Tần Thủy Hoàng? Nhưng tất nhiên, may thay vẫn có một vài quyển thoát khỏi số phận, như một người cháu chắt của Nguyễn Trãi thoát khỏi họa tru di tam tộc. Và tại Sài Gòn “Chuyện Kể Năm 2000” xuất hiện, tất nhiên là những quyển chụp lại (photocopy), bán với giá rất cao, 100,000 đồng/quyển.

Người em tôi ở Mỹ, cũng lập tức biết tin về quyển sách này ở Việt Nam, nói tôi tìm mua giùm. Tới khi tôi tìm mua được, chờ có người thân quen nào ở Mỹ về, sẽ gửi cho người em, thì em tôi cho biết thôi đừng gửi nữa, vì đã mua được quyển sách này, in ấn tại Mỹ.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn cho biết, ở Mỹ có in và tái bản “Chuyện Kể Năm 2000,” gửi tiền tác quyền cho ông được 1,000 USD lần phát hành đầu tiên. Ở Canada in và tái bản 3 lần, trả tiền tác quyền đủ cả 3 lần. Ðài BBC đọc “Chuyện Kể Năm 2000” liên tục trong 3 tháng, trả tiền tác quyền cho ông được 3,000 USD.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn không nói ra, nhưng tôi thấy trong ánh mắt ông, niềm vui về xử sự của người Việt Nam ở hải ngoại, đối với một người cầm bút dũng cảm trong nước.

Ông nói, hiền hòa, điềm tĩnh và chân thật, và do vậy, tôi nghĩ đấy là điều ông cương quyết, rằng ông sẽ khởi kiện sự vu cáo của giới cầm quyền văn hóa chính trị Cộng Sản đối với tác giả “Chuyện Kể Năm 2000.” Họ đã lên án “Chuyện Kể Năm 2000” là âm mưu chống phá nhà nước cách mạng, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, và kích dục.

Chúng tôi cùng cười rộ. Một quyển sách ghi lại thực tế lao tù của một tù nhân, thuần túy nội dung quyển sách như vậy, và mục đích duy nhất của quyển sách cũng chỉ là như vậy. Vậy mà tác giả quyển sách bị tròng vào cổ những vòng dây thừng ác hại nhất mà giới cầm quyền có thể nghĩ ra.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chỉ lưu lại ở đây vài ngày nữa, sáng mai ông có việc đi Cà Mau, nhân tiện thăm tác giả “Cánh Ðồng Bất Tận,” Nguyễn Ngọc Tư. Tôi lấy máy ảnh để chụp tấm ảnh kỷ niệm buổi gặp gỡ cảm động. Xui thay, máy chụp hình hết “pin!”

Ấy tuy nhiên, đấy là tai nạn kỹ thuật quá nhỏ nhặt, không làm bớt đi điều gì. Và trong buổi uống cà phê với tác giả “Chuyện Kể Năm 2000,” người em tôi nói ở trên gọi điện thoại thăm hỏi tôi. Thế là, giữa cuộc điện thoại của hai anh em, có tiếng nói của một nhà văn dũng cảm, mà người em tôi cùng rất nhiều người Việt Nam ở hải ngoại quý mến.

Nguyễn Ðạt

TRUYỆN KHÔNG TÊN

Chị Sợi cho rằng tất cả mọi người trong ngõ ánh Hồng đều biết rõ công việc của chị. Chị chấp nhận điều ấy. Với chị đó cũng là một nghề, một nghề như những nghề khác dù nó bị mọi người khinh bỉ. Dào ôi. Ai khinh thì cứ việc. Chị có cần người ta trọng đâu. Chị cần tiền. Để nuôi bà mẹ già nằm liệt sáu bảy năm nay. éể có cái và vào miệng. Để có tí phấn son bôi lên mặt, giấu đi làn da đen đủi nhăn nheo, cặp môi tái nhợt của mình. Để có thể mua một bộ cánh mới khi bộ cánh chị mặc trên người đã mòn, sờn, bạc, khiến chẳng còn ai muốn nhìn chị.

Chị còn cần tiền để phòng khi mẹ chị nằm xuống. ít nhất cũng phải có bộ áo quan. Chị đã dành dụm mua được mấy tấm gỗ cốp pha, đã nhờ người cưa cắt sẵn nhưng chưa ghép mộng, mấy mét vải diềm bâu để liệm cho cụ. Tất cả cất trên gác lửng. Cả vải. Cả gỗ. Không thể để dưới gầm giường. ở đó phân gio, nước giải của mẹ chị nằm ốm liệt giường hôi thối lắm.

Chị cũng đã tích được một ít tiền, cứ định sẽ không bao giờ đụng đến, nhưng rồi vẫn cứ phải lấy ra tiêu. Bởi vì có khi cả tuần lễ không bán được hàng, lại chẳng có một người khách nào đến nhà chị.

Chị Sợi có một mẹt hàng bán các thứ linh tinh ở đầu hẻm: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích quy. Mùa nóng chị bán cả bia hơi. Khổ nỗi là chị chẳng thể nào cạnh tranh nổi với các hàng quán san sát gần đó. Họ có lều quán. Họ có cái bán mái nhô ra. Họ có cả căn nhà mặt tiền của họ. Hàng của họ trông vui mắt, sạch sẽ, sang trọng, nhiều loại, mới tinh, đầy vẻ mời chào. Chứ không như hàng của chị. Vạ ra vỉa hè thì chớ. Lại còn bụi bậm, bạc phếch, cũ kỹ. Không biết bao Vinataba của chị bóc bán được chưa mà vỏ bao đã nhợt ra hết cả.

Để làm bớt đi vẻ nghèo nàn tiều tụy của mẹt hàng, chị Sợi đã ngồi lảnh ra một nơi, cách xa cái đám phồn hoa kia. Khách của chị cũng muốn như thế.

Đó là những người ăn xin. Vâng. Những người ăn mày là khách hàng chủ yếu của chị. Những người này cũng muốn có một lúc dừng chân sau khi đã rạc cẳng trên các vỉa hè. Những người này cũng muốn trở lại làm người, cất đi trong chốc lát bộ mặt nhăn nhó đau khổ của mình khi đi ăn xin. Họ cũng muốn chuyện trò đôi câu một cách bình đẳng ngang hàng với những người không phải là ăn xin như họ. Họ cũng muốn ăn một cái bánh bích quy, cũng muốn lấy cái điếu cày của chị kéo một hơi cho đã, rồi chiêu một ngụm nước chè trước nụ cười tán thưởng của chị. Sang hơn thì làm một điếu Vinataba. Để rồi lại đi.

Chị Sợi quen rất nhiều ăn mày. Chị biết có những người đi ăn mày để có tiền bó cái bậc hè. éể láng nốt góc sân còn dở dang. Để thêm vào xây cái bể. Chị biết có những người ăn xin vì không muốn làm nghề gì khác. Nhiều người trong số họ là những người tình chốc lát của chị. Cô điếm già, xấu, nhăn nheo, gầy gò còn có thể có khách nào ngoài đám ăn mày.

Người ta đi tới, ngồi xuống, uống chén nước chị rót và khẽ nháy mắt, hất hàm về phía trong hẻm. Chị khẽ gật. Người ấy đi. éi thẳng hè phố để rồi lát nữa mới quay lại. Chị Sợi thu xếp tất cả hàng họ vào thúng, bưng về nhà, đổ chậu phân nước giải dưới gầm giường bà mẹ, rồi đi tắm rửa bằng xà phòng thơm, lại còn xịt vào người, xịt vào giường bà mẹ, xịt lên gác lửng tí nước hoa rẻ tiền, kéo tấm ri đô che khuất một phía chiếc giường có người mẹ đang nằm khô như một cái xác nặng mùi hôi thối tỏa ra.

Chị đã làm mọi cách để mẹ chị luôn trong trạng thái sạch sẽ nhất. Chị khoét chiếu, khoét giát giường đặt chậu bên dưới. Quần của cụ, chị cắt khâu lấy mà không một hãng thời trang nào có thể nghĩ ra. Nó chỉ có một mảnh vải ở đằng trước che kín bụng và dính vào hai ống.

Tuy vậy cũng chẳng thể nào tránh được mùi hôi. Cũng may, người khách mới đến có thể nghĩ rằng đó không phải là mùi trong nhà chị. Bởi vì ngay trước nhà chị, phía bên kia con hẻm là một cái nhà xí công cộng. Nó dài đến non chục mét, phân, nước giải, nước mưa ngập ngụa ra đến sát hẻm. Mùi nó còn nặng hơn nhiều, nhất là những hôm có gió mạnh.

Nhờ cái nhà xí công cộng mà chị Sợi cảm thấy yên tâm khi có khách. Thứ nhất là vấn đề mùi như đã nói. Thứ hai, có nó nên không có những nhà bên kia đường hau háu nhìn sang. Cả một quãng dài, chỉ có một cánh cổng duy nhất là nhà chị. Những nhà liền bên, phía trong và phía ngoài đều xây tường cao, tìm mọi cách quay ngõ ra hướng khác. Quãng hẻm nhà chị thật vắng vẻ. Thảng hoặc ai có việc đi qua đấy, đều nín thở cắm mặt bước cho nhanh.

Từ vỉa hè phố chính, chị bưng thúng hàng về, mở khóa cổng nhà chị trong cái hẻm không một bóng người và người bạn tình tới sau cũng vậy. Anh ta chỉ khẽ đẩy cánh cổng gỗ, bước vào rất nhanh và cũng rất nhanh khép cánh cổng gỗ lại, chị chỉ việc đi ra, cài chốt cửa, thì thầm: “Vào đi, vào đi”. Thế là xong. Yên tâm. Chắc chắn chẳng một ai nhìn thấy. Chị không xấu hổ. Nhưng chị sợ. Chị sợ người ta sẽ xúc chị xuống trại 26 là trại cải tạo gái điếm và nếu vậy thì mẹ chị ai trông? Vì tuy rằng chị là điếm thật nhưng có như những cô điếm khác đâu. Họ trẻ trung, xinh đẹp, đắt khách, sang trọng, hái ra tiền. Khách đến nhà chị năm thì mười họa, lại là thứ khách mạt hạng, tiền kiếm được cho mỗi lần đi khách của chị có đáng là bao! Cho nên những người không biết thì ái ngại cho chị về cái nhà xí công cộng mênh mông trước cửa, còn chị, chị cám ơn nó. Và chị đâm lo khi nghe mong manh rằng đang có chủ trương phá đi cái nhà xí ấy. Chị còn nghe nói hai hộ làm ăn gì đó một ở phường, một ở quận sẽ chia đôi khu đất ấy, làm nhà tầng ở đó. Thật nguy. Chị sẽ bị dồn vào bước đường cùng. Sống bằng gì? Làm ăn ra sao khi đối diện với nhà chị là hai gia đình lúc nào cũng người ra người vào tấp nập? Rồi chị lại tự nhủ. Thôi, ngày nào biết ngày ấy. Phải hết sức tằn tiện. Tương lai còn khó khăn. Thế này là tốt lắm rồi. Được đến đâu hay đến đó. Biết đâu mà lo trước.

Thực ra chị Sợi có chi tiêu một khoản nào gọi là hoang phí đâu. Cứ gọi là những khoản bất hợp pháp cũng không. Làm hôm nay nhưng luôn nghĩ tới ngày mai. Ngay trong một năm cũng có hai đợt ế khách. Trừ dịp Tết ra không kể, cứ đến ngày mùa là thành phố vắng bóng ăn mày. Họ trở về quê hương, gặt rồi cấy hái. Chỉ đến lúc nông nhàn, họ mới rời làng ra đi. Quãng thời gian ấy chị sống chỉ bằng cái mẹt hàng, bán cho những chú bé đánh giày hay những khách bộ hành đi ngang qua. Nên bí lắm chị mới rút từ số tiền dành dụm được ra một ít để chi tiêu.

Thế giới của chị Sợi là thế giới ăn mày nên chị rất hiểu họ. Có ông ăn mày giả làm người tỉnh T, chị bảo không phải. Người ở đây thôi. Người tỉnh T, không nói giọng ấy, có muốn nghe tiếng vùng T không, tôi nói cho mà nghe. Lại còn anh nói lỡ độ đường. Chị bảo đừng nói thế. Cứ nói là đi ăn xin. Lỡ độ đường gì mà hôm nào cũng lỡ độ đường.
Xấu gì chuyện phải đi ăn xin. Ăn mày là ai, ăn mày là ta… Nghe chuyện chị, những người ăn mày ngồi chung quanh cái thúng của chị thấy tự tin hơn. Họ cởi mở cùng chị, quý chị rồi dần dần đi cùng chị từ vỉa hè phố chính vào nhà chị trong ngõ thối.

Trong số những người chồng hờ ấy, chị đặc biệt yêu quý một anh ăn mày trẻ, còn ít tuổi hơn chị. Anh ta đến với chị không như người đến với gái làng chơi.

Chị có thể nói thật với anh tất cả. Ví như khi hai người đã đi qua bức ri đô che cái giường có bà cụ già nằm giả cách ngủ, trèo lên gác lửng và khi anh đã nắm tay chị, chị bảo:

- Anh có tiền đưa em vài đồng, em ra ngoài kia ăn cái gì tí đã. Em chưa ăn. éói quá.

Anh đưa tiền ngay. Bởi vì chính anh đã khuyên chị tuyệt đối không đụng đến số tiền dành lo ma chay cho cụ. Để anh một mình trên gác lửng, chị cầm tiền anh đưa, mở cổng đi. Một lát sau chị về mang theo cho anh một cái bánh mì và một bát gân bò cùng với bạc nhạc hầm, gọi là món nhừ.

- Anh ăn đi. Hôm nay họ nấu hơi mặn, nhưng ngon lắm. Em ăn hai suất. Húc như cẩu.

Sau khi yêu nhau bên những tấm ván quan tài còn để mộc và chưa ghép mộng, bao giờ anh cũng nán lại trò chuyện, hỏi chị về diễn biến bệnh tật của bà cụ, công việc của chị, còn chị thì ngắm nghía cái chân khoèo của anh, cái chân mà chị biết rằng trước đây nó cũng lành lặn, bình thường như cái chân bên kia, chỉ vì giả què lâu quá, nên đã thành què thật. Anh đã kể cho chị nghe chuyện chân anh. Còn chị kể cho anh chuyện mẹ chị. Khi bị ngã gẫy xương hông, nằm liệt, ba năm đầu cụ hát. Ba năm sau cụ chửi. Và một năm nay cụ yên lặng. Mỗi khi có khách lên gác lửng cùng chị, cụ nhắm mắt giả cách ngủ. Anh thương chị. Chị thương anh. Chính anh đã mượn cưa, bào ở đâu về cưa, bào, đo, cắt mộng mấy tấm gỗ cốp pha, ráp thành cái áo quan cho cụ. Và cũng chính anh, dù què một chân cũng đã bắc ghế trèo lên, xây thêm hai hàng gạch pa panh tường bao cho nó cao thêm, chắn bớt cái hơi nhà xí tạt vào.

Người thứ hai chị Sợi yêu quý là một phụ nữ. Một bà già. Bà cụ Mít. Đó là một bà già thấp bé, lại còng, mặt chằng chịt vết nhăn, chẳng biết bao nhiêu tuổi nữa. Chính bà Mít cũng không biết mình bao nhiêu tuổi.

Hôm ấy, chị dọn hàng, ngồi từ sáng đến trưa mà chẳng bán được một hào. Vét hết tiền trong người mua được một bát cơm, một bát canh suông định ăn thì bà Mít đến chìa tay xin. éang cầm đũa, chị hạ xuống, thành thật:

- Bà ơi! Con không còn một hào nào trong người. Có ít tiền lẻ mang đi để trả lại cho khách, mua được bát cơm, bát canh này đây, bà ăn đi.

Bà ăn mày toan bước đi tiếp. Nhưng chị Sợi đã kéo tay bà:

- Bà ngồi xuống đây. Bà ăn đi. Con mời bà thật đấy.

Bà cụ ăn. Thế là từ đấy quen nhau. Thỉnh thoảng trên đường đi ăn xin, bà lại ghé qua chỗ chị. Bà móc trong bị ra khi quả chuối, khi quả cam, lúc nắm xôi và kể lai lịch những món ăn sang trọng ấy của bà. Ai cho. Ai thương người. Ai xởi lởi. Ai xua đuổi. Nhà nào làm giỗ, cho bà cả bát miến thừa mà không mang về đây được. Bà cũng kể cho chị biết vì sao bà phải đi ăn xin. Bà ở vùng Hà Nam, Phong Cốc. Anh con trai duy nhất của bà a dua với bọn xấu trong làng đi ăn trộm lợn. án xử hai năm. Trong tù bị bọn đầu gấu đánh chết. Người con dâu bỏ đi lấy chồng, để lại cho bà hai đứa cháu gái, đứa chín tuổi, đứa bảy tuổi.

- Bây giờ một đứa lên tám, một đứa lên mười rồi cô ạ. Vài năm nữa, chúng nó lớn khôn là tôi không lo gì nữa. Tôi có chết cũng không ân hận.

Một lần bà Mít đến, nắm lấy bàn tay chị:

- Em ơi. Chị nhờ em một cái này được không.

Bà ngập ngừng. Chị Sợi không hiểu chuyện gì. Nhưng rõ ràng là một việc hệ trọng, rất hệ trọng đối với bà.

- Giúp chị với em nhé. Chị tin ở em.

Thì ra bà muốn gửi chị tiền. Tiền là vàng, là cuộc sống của hai đứa cháu côi cút của bà ở quê. Chúng còn bé lắm. Chúng mồ côi, chúng mong bà. Chúng cần tiền của bà. Bà phải nuôi chúng. Chúng chưa thể tự kiếm sống được, chưa thể tự lo liệu được. Để nhiều tiền trong người, bà sợ. Suốt ngày đi bộ rạc cẳng mà đêm cứ ngủ chập chờn. Nên nghe chừng thấy nằng nặng hầu bao, bà phải mang tiền về quê. Bà nói với chị rằng bà cũng muốn về quê lắm để được nhìn mặt chúng nó. Để nằm ngủ với chúng. Để bà ôm chúng. Để chúng ôm bà. Để nấu một bữa cơm nóng, bà cháu ngồi ăn, đơm đơm xới xới. Để tắm rửa giặt giũ cho chúng nó. Để xem hai chị em có quấn túm thương yêu bảo ban nhau mà sống khi bà vắng nhà không. Về quê sung sướng là thế nhưng lại tốn kém, mất ngày mất buổi, ảnh hưởng tới số tiền kiếm được.

- Thoạt đầu tôi lo nên cứ phải về nhà luôn, chứ bây giờ cũng đỡ rồi. Nghe chừng chị em cũng biết thân biết phận, thương yêu nhau. Bà con xóm làng cũng thương, qua lại trông nom bảo ban. Tôi cũng yên lòng. Với lại còn khỏe ngày nào phải cố ngày ấy cô ạ. Chứ tôi nghe trong người tôi biết, sức cạn lắm rồi. Ngộ nhỡ nằm đấy thì khổ cả bà, cả cháu.

Bà bật cười:

- Cháu cô còn biết cuốc vườn, trồng rau, lại nuôi được một con gà mái đẻ. Chuyến trước tôi về cứ nhất định luộc trứng cho bà ăn.

Chị Sợi nhận những đồng tiền bà gửi. Những đồng tiền giống những đồng tiền chị nhận từ tay những vị khách ăn mày của chị: Nhàu nát quăn queo bẩn thỉu, rồi loại tiền hai trăm, ba trăm, họa hoằn lắm mới có tờ giấy một nghìn. Những tờ giấy bạc không biết đã qua tay bao nhiêu người đã bạc thếch, thẫm đen, đẫm mồ hôi, mỡ và ghét bẩn, nhưng nó vẫn là tiền, là mồ hôi nước mắt, là cuộc sống. Chị nắm chặt tay bà:

- Bà yên tâm. Tiền bà gửi con không suy suyển một xu.

Bà Mít rân rấn:

- Cô phúc đức quá. Cầu trời Phật phù hộ độ trì cho cô.

Chính chị Sợi chảy nước mắt. Vì cảnh ngộ của bà. Vì hai đứa bé gái mồ côi ở một nơi xa mà chị chưa hề biết mặt. Chị chảy nước mắt vì đây là tất cả niềm tin to lớn của ba con người còn khốn khổ hơn cả chị đặt vào nơi chị khiến chị tự hào và trách nhiệm của chị thấy nặng nề. Chị không có quyền phụ lòng tin cao cả ấy.

Chị Sợi đã quen với những món tiền bà cụ Mít gửi, với nét mặt tin cậy pha lẫn biết ơn, sung sướng của bà cụ ăn mày già khi bà trao tiền cho chị, những món tiền nhỏ nhoi, khi hai chục ngsau lại thêm bốn cái túi đựng bánh kẹo bằng ni-lông. Bà cụ gửi chị tất cả. Đó là cái vải liệm của bà, những cái túi bọc bàn chân bàn tay cho bà khi bà chết. Chị nhìn bà, mãi mới nói được một câu:

- Bà ơi. Bà cẩn thận thế hở bà.

- Chẳng biết ông giời còn để sống bao lâu nữa cô ạ. Đi qua chỗ người ta đang xây nhà. Vỏ bao xi-măng nhiều quá. Nói khó mãi, người ta thương, cho hai bao. Thế là mới nghĩ đến túi ni-lông. Cứ chuẩn bị trước đi là vừa cô ạ. Ngộ nhỡ đùng một cái, ông giời ông ấy bắt mình đi, các cháu cô còn dại lắm, chúng nó biết xoay xở làm sao. Cái chiếu cũng không biết mua đâu. Chẳng lẽ lại lấy chiếu nằm của chúng nó. Với lại giấy xi-măng này tốt hơn chiếu đấy cô ạ. éịnh xin mấy cái bao dứa nhưng người ta không cho. Mua thì không có tiền. Bao giấy cũng tốt chán.

Chị thẫn thờ nhìn theo bà cụ ăn mày đi trong gió bấc hun hút mà thấy thương cho mình, thương cho bà, thương cho những kiếp người khổ cho đến lúc chết. Rồi lại nghĩ đến mẹ. Dù sao mẹ chị cũng còn sung sướng hơn bà Mít. Mẹ chị còn có mấy tấm gỗ cốp pha, mấy mét diềm bâu. Có lẽ chị cũng phải kiếm mấy cái túi ni-lông phòng xa như bà Mít!

Mùa rét bao giờ cũng là thời gian gay go của chị. Hàng họ ế ẩm. Khách đến nhà cũng ít. Bù lại với đám ăn mày, mùa rét là mùa cưới xin, mùa bốc mả. Trong khi hiếu, hỷ, người ta rộng rãi với ăn mày. Bà cụ Mít vẫn thỉnh thoảng tới chỗ chị để cho chị hòn xôi, miếng thịt. Bà kêu rét và gửi chị thêm một ít tiền. Chị bảo bà đã gửi bốn lần tiền rồi sao không mang về cho các cháu kẻo chúng nó mong, đã lâu rồi bà chưa về nhưng bà Mít nói: “Tôi cố thêm ít ngày nữa. Rồi về ở với chúng nó một thời gian. Ngoài giêng tôi mới ra. Bà cháu xa nhau lâu quá rồi. Lại còn phải cố mua cho mỗi đứa một bộ quần áo mới mặc Tết”.

Chị Sợi kiểm kê số tiền bà Mít gửi trong những đợt ấy. Chị khoe với anh què hôm anh đến với chị:

- Xem em nhiều tiền không này!

Anh què bảo:

- Lần cuối bà ấy đến gửi là cách nửa tháng rồi à? Thế thì bà ấy sắp quay lại đấy.

Chị cũng nghĩ vậy. Mỗi lần bà Mít gửi tiền cách nhau khoảng chục ngày. Chỉ ngày một ngày hai, bà sẽ về cầm chỗ tiền này cùng với số tiền bà mới xin được đem về quê nuôi cháu. Cả hai cùng mừng cho bà. Họ hình dung ra hai đứa cháu bà vui sướng như thế nào khi bà về, chìa ra cho mỗi đứa một bộ quần áo mới. Họ cũng mong bà xin được nhiều và sớm về đây lấy chỗ tiền bà gửi, bởi vì những đợt gió bấc giá lạnh thỉnh thoảng điểm mưa phùn tê cóng khiến chị Sợi cũng thấy buốt cả đầu óc và phải nghỉ bán hàng.

Nhưng cả tháng sau bà Mít vẫn không quay lại. Chị Sợi biết rằng có chuyện chẳng lành nhưng vẫn hy vọng được thấy dáng người nhỏ còng còng của bà trong tấm ni-lông vá víu chống gậy, khoác bị bước tới. Chị chưa chờ ai đến như vậy. Lo lắng. Hy vọng. Tuyệt vọng. Chắc chắn bà Mít đã chết ở đâu rồi!

Chị Sợi kiểm lại số tiền bà Mít gửi một lần nữa. Rồi gấp những tờ giấy xi-măng, những túi ni-lông. Cho tất cả vào một cái túi xách. Bây giờ chị không chờ bà Mít nữa. Chị chờ anh què đến. Chị bảo anh:

- Bà Mít chết thật rồi. Anh phải giúp em. ở đây trông nom, cơm nước, rửa ráy cho mẹ em vài ngày. Em phải đi đây.

- Em biết quê bà ở đâu mà tìm?

- Cứ về Hà Nam, Phong Cốc hỏi. Thế nào cũng ra. Hỏi dân. Hỏi tòa án.

Phải đem chỗ tiền này về cho hai đứa trẻ mồ côi. Phải thực hiện nguyện ước của bà cụ, kể cả việc mua hai bộ quần áo mới cho chúng nó.

Buổi sáng hôm ra đi, từ biệt mẹ, từ biệt anh què, bước tới cửa chị sững lại: một dẫy xe máy sáng loáng dựng ở đầu hẻm, một đám người đi ủng đang cầm thước, cầm dây, lội vào khu nhà xí ngập ngụa đo và ghi chép. Tim chị thắt lại vì lo. Đúng là người ta sắp xây nhà tầng ở trước cửa nhà chị! Nhưng chị không có thời gian dừng lại. Phải đi ngay kẻo lỡ mất chuyến tàu…

Ngã Sáu Một ngày chủ nhật 27-7. Mưa

Bùi Ngọc Tấn

Bùi Ngọc Tấn kể chuyện bạn bè

vvbb

TRẦN THIÊN ĐẠO

Cứ suy theo nhan đề, thì chúng ta có thể xếp các trang Viết về bè bạn – Tập chân dung văn nghệ sĩ (NXB Hải Phòng, 2003) của Bùi Ngọc Tấn cùng một loại với mấy tập sách đã ra mắt bạn đọc vài ba năm nay.

 

Chẳng hạn như các cuốn Chân dung và đối thoại – Bình luận văn chương (NXB Thanh Niên, 1999), rất ăn khách độ nào, của Trần Đăng Khoa; Cây bút, đời người – Tập chân dung văn học (NXB Trẻ, 2002); giải phê bình văn học Hội Nhà văn 2003, của Vương Trí Nhàn; Nhà văn Việt Nam hiện đại – Chân dung & Phong cách (NXB Văn học 2003) của Nguyễn Đăng Mạnh hay Một thoáng nhân văn (NXB Khoa học xã hội, 2004) của Nguyên An… thảy đều là những tác phẩm phác hoạ chân dung các tay bút hiện đại còn sống hay đã khuất.

Mỗi tác giả một phong cách, không ai giống ai. Trần Đăng Khoa, trịch thượng; Vương Trí Nhàn, bay bướm. Nguyễn Đăng Mạnh, đạo mạo; Nguyên An, thử nghiệm tìm tòi… Còn Bùi Ngọc Tấn, thì cứ ngấm ngầm sôi bỏng, tựa như câu văn chữ viết của ông lúc nào cũng vọt ra từ trái tim và máu huyết.
Vậy nên có chuyện như vầy. Với Bùi Ngọc Tấn, chúng ta giờ đây không thể đọc ông như đọc bất luận tác phẩm nào của bất luận nhà văn nào, cho dầu đó là truyện ngắn, tiểu thuyết, hay hồi ký… Một là vì, sau thời gian hai mươi bảy năm trời bị im hơi lặng tiếng. Hai là, về phần chúng ta, làm sao có thể dửng dưng đứng ngoài mà nhìn, đọc ông một cách bàng quan, ngoại cuộc, xa lạ.

VIẾT VỀ BÈ BẠN…

Các bức chân dung Bùi Ngọc Tấn phác hoạ trong tập sách kể ra không nhiều so với mấy cuốn cùng loại nhắc tới trên. Đếm không quá đầu mười ngón tay. Nhưng ở đây, chiều sâu và bề dày đâu phải đo bằng những con số, mà nằm chính ở mật độ keo sơn các đương sự gắn bó với nhau. Bởi vì ở đây, toàn là chân dung các văn nghệ sĩ bè bạn của tác giả, đồng hội đồng thuyền với ông từ thuở nảo thuở nào:
“Các bạn tôi là tuổi trẻ của tôi, là một phần của cuộc đời tôi. (…) Họ là các nhà văn, nhà báo, hoạ sĩ, tức là những nghệ sĩ (..). Tôi viết về sự nhếch nhác trần ai của họ, của những người làm nghề mà các chân dung văn nghệ sĩ khác chưa nói tới hoặc chỉ nói qua”. (sđd, tr.6-7).

Những bạn bè nối khố, rất thân,rất gần, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi. Và, đặc biệt trong suốt thời gian 27 năm ròng ông bị loại trừ, chẳng nề tai hoạ có thể ập tới bất kỳ lúc nào, đã cứ đương nhiên chơi thân với ông, đã mến tặng ông những miếng khi đói bằng một gói khi no, về vật chất và về cả tinh thần: “Thịt ăn hết đã lâu, nhưng tình còn đó cho đến tận bây giờ”. (sđd, tr.329). Keo sơn, gắn bó với nhau trong vui chơi cũng như trong hoạn nạn. Dẫu rằng, tận đáy lòng, giá như họ có lảng tránh mình đi nữa thì ông cũng không nỡ thốt nên lời oán trách. Thấu rõ rằng chính tình thế cay nghiệt mới bắt họ phải tạm thời thờ ơ, lơ là với mình, như trong trường hợp Nguyên Hồng:
“Tôi không trách Nguyên Hồng về chuyện anh không tặng tôi sách. Tôi biết anh là người yêu quý vợ chồng tôi. Tôi biết anh là người thuỷ chung đôn hậu. Tôi thương anh. Tôi thương tôi. Mỗi chúng ta đều đáng thương. Anh đã vướng nhiều chuyện lôi thôi. Anh tránh tôi, buộc phải tránh dù lòng anh không muốn. Chúng ta mấy khi được là chúng ta đâu”. (sđd, tr.463)

Đến như Nguyên Hồng, một nhà văn tầm cỡ, có hạng – một con người hằng biết tự trọng, có bản lĩnh, đã dám từ bỏ mọi chức vụ, mọi quyền lợi, dắt vợ con lủi về thui thủi trong gian nhà vách đất ở ấp Cầu Đen, đồi Cháy, là bạn với núi rừng Yên Thế – một Hoàng Hoa Thám tân thời: “Ông đéo chơi với chúng mày nữa. Ông về  Nhã “. (sđd, tr.337), như ông đã rỉ vào tai Tô Hoài, trong một buổi giáp mặt nước mắt lưng tròng. Đến như Nguyên Hồng như vậy đó, mà cũng chẳng tài nào thoát khỏi hoàn cảnh buộc mình phải chà đạp tình nghĩa và giày xéo tâm hồn.
Thế mới biết tinh thần và tâm trạng con người bấy giờ bị vùi dập, nát nghếu và tả tơi tới mức nào!

CHÂN BƯỚC GẬP GHỀNH.

Mà không những vậy thôi đâu, họ còn phải đồng thời nếm đủ mọi mùi vị lưỡi tê tân khổ. Gánh chịu bao nhiêu là đói rách thể xác và đau đớn tinh thần ngày càng chồng chất đè nặng trên đầu. Gói mình trong bầu không khí ngột ngạt không ngớt bủa vậy, thiếu thốn ngặt nghèo. Vậy mà tác giả và bè bạn của ông vẫn cứ phải chân bước gập ghềnh trên đường thế đồ gót rỗ kì khu không chừa một ai này.

Bè bạn của ông, trước hết, là Nguyên Hồng (phần thứ hai, dưới nhan đề Một thời đã mất, sđd, tr. 297-499) – đã phải lánh mình chui rúc trong rừng sâu núi thẳm. Rồi tiếp theo, kể theo thứ tự xuất trình trong tập sách, là những Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân (đề mục Rừng xưa xanh lá, sđd, tr.11-28, Dương Tường (Tôi là bạn ông Dương Tường, sđd, tr.29-58). Lê Mạc Lân (Thời gian gấp ruổi, sđd, tr.59-91), Lê Bầu (Lê Bầu người hiểu giá trị của thời gian, sđd, tr.93-118), Nguyễn Thị Hoài Thanh (Một mơ ước về kiếp sau, sđd, tr.119-144), Hứa Văn Định (Quyển sách tặng Định, sđd, tr. 145-170), Nguyên Bình (Nguyên Bình với cô gái mồ côi và hòn đảo, sđd, tr. 171-200). Lê Đại Thanh (Một ông già sống cho đến khi chết, sđd, tr. 201-228). Nguyễn Thanh Bình (Cuộc phiêu lưu mầu trắng, sđd, tr.229-252) và cuối cùng là Vũ Tín (Thời trai trẻ đã qua, sđd, tr. 253-281).

Họ thảy đều “mang nghiệp chướng trong mình” (sđd, tr.7). Thảy đều đã trải qua số phận long đong, nghiệt ngã chẳng kém gì tác giả, từ bấy lâu rồi. Ông vụt “nhớ đến một câu của Pa-u-tốp-xki (…). Tôi viết cho bạn bè tôi và vào tuổi này họ đang ít dần “đến bây giờ tôi mới ngấm câu này”  (sđd, tr. 91). Khiến ông “bỗng hiểu ra một điều đơn giản: Cuộc đời thật ngắn ủi và thế hệ chúng tôi đã bắt đầu sự kết thúc kiếp phù sinh của mình. Tất cả chúng tôi sắp đi qua hành tinh này mà không để lại vết xước nào”. (sđd, tr. 169).
Vậy thì phải viết về họ, phải viết “về sự nhếch nhác trần ai của họ” (sđd, tr. 7), e rằng thời gian như thoi đưa, mau lẹ “gấp ruổi” (sđd, tr. 59) quá rồi, không thôi mình lại chẳng kịp hằn sâu dấu vết.

NHẾCH NHÁC TRẦN AI

* Thì họ cũng như ông, để sống còn, để nuôi vợ nuôi con, đã phải dấu mình bán chữ – bán chui, bán lén (hương hồn của những Trần Dần, của những Phùng Quán… đâu rồi). “… những người đang đi vào con đường viết lách, những cộng tác viên của một vài tờ báo, những người đang muốn có một cái truyện ký đầu tiên, hay cũng đã có một hai cái tin đăng báo và giờ đây đang giao du với những cán bộ biên tập các nhà xuất bản, những người đã có một vài sáng tác được in đang muốn kết nạp vào hội văn nghệ địa phương, kể cả hội nhà văn, rất cần bản thảo như một chứng chỉ”. (sđd, tr. 82), hoặc, ban ngày ban mặt hơn, cho tỉnh uỷ nọ: “muốn có một bộ lịch sử Đảng bộ (…)mà không thể không có bản thảo, không thể không xuất bản tập lịch sử đảng bộ” (sđd, tr. 86-87). Lê Bầu. Lê Mạc Lân… đã nếm mùi tân khổ này.

* Thì họ cũng như ông, để còn sống, để nuôi vợ nuôi con, đã phải bán máu - bán những dòng máu đỏ đang thật sự chảy trong huyết quản, khi mình đà là những bộ xương bọc da, ốm nhom ốm nhách, lại còn phải dở trò gian lận, để bán được nhiều hơn bận trước. Chỉ cần “đeo thêm chì vào người để đạt trọng lượng 70 ký lô và bán được 250, 300 cc. (…) Thế là mất đi một tí máu, nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui” (sđd, tr. 79). Rất vui, chua chát thay cho cuộc sống đoạ đày. Đoạ đày thể xác, đoạ đày tinh thần loại người lao động trí óc, khi họ ngơ ngáo ngồi chờ phiên mình: “Ngượng nghịu nhìn nhau. Rồi cũng quen dần. Lương thiện thì rõ ràng là lương thiện rồi. Nhưng nó tố cáo bước đường cùng. (…) Quần áo chỉn chu. Tóc chải gọn gàng. Mặt mũi sáng sủa, đi lại rón rén nhẹ nhàng chỉ trông cũng biết là người có học” (sđd, tr. 80-81). Dương Tường, (lại) Lê Mạc Lân… đã dấn thân sống tạm bợ như vậy một thời gian dài.

* Thì họ cũng như ông, để sống còn và, lần này, để “mơ ước về kiếp sau” (sđd, tr. 119)- đã phải trải qua cuộc đời lận đận chẳng kém gì cảnh ngộ lao lung và bị loại trừ ông từng gánh chịu. Cả cuộc đời bầm dập của Nguyễn Thị Hoài Thanh xuất phát từ “cái chuyện Nguyễn Cao Kỳ (tư lệnh không quân rồi phó thủ tướng nguỵ) là anh ruột (của) chị…” (sđd, tr.123), cộng thêm vô đó một thứ lộc trời cho: “Năm ấy, (chị) còn đang tuổi ba mươi. Thời con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần li dị. Vẻ đẹp của tuổi ba mươi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa” (sđd, tr. 126). Một thân một bóng nuôi con. Mẹ con chị ở nhà tập thể có chung mỗi một ô cửa ra vào độc nhứt, nửa gian phía ngoài dành cho mẹ con chị, nửa gian trong là kho chứa dụng cụ. Rồi một hôm, người ta bỗng dưng khoá cửa… kho dụng cụ, để “bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa“, vì chị đã một mực không chịu “ra đụng vào chạm” (sđd, tr.126) với ông trưởng phòng. Rồi sau đó, cũng vì đã, lần này, “cự tuyệt thẳng thừng”(sđd, tr.127) ông chủ nhiệm, mà gian buồng chị ở bỗng dưng đầy nghẹt bàn ghế như nêm cối, chật cứng hết phương ra vào được nữa… Cuộc đời Nguyễn Thị Hoài Thanh rồi cứ thế mà tiếp diễn. Đau đớn thay, phận đàn bà”.

* Thì họ cũng như ông… Còn nhiều cảnh tình khác nữa, mà những Hứa Văn Định, Nguyên Bình, Lê Đại Thanh, Nguyễn Thanh Bình, Vũ Tín… đã sống qua. Mà ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn đã níu kéo thời gian làm sống trở lại dưới mắt mình.

MỘT THỜI CÒN ĐÓ

Cũng tựa như nhà văn Pháp đầu thế kỷ XX tìm lại thời gian đã mất, Bùi Ngọc Tấn tái dựng khoảng thời gian ông và các văn nghệ sĩ bè bạn của ông đã trải qua. Còn đó, trên hơn 530 trang sách, khoảng thời gian đầy giông tố, bão bùng trùm phủ lên đầu hầu hết mọi người, mà bọn nhà văn nhà báo thi sĩ hoạ sĩ là những gương mặt gánh chịu nhiều hơn hết. Họ thuộc thành phần chân yếu tay mềm, dễ bề vùi dập, dễ bề vò nát. “… chúng tôi đều viết về con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, và khao khát được viết thật hơn, không chỉ có những thuận lợi mà còn những khó khăn, không chỉ những người trung thực, mà còn những kẻ quan liêu, những tên nịnh hót”. (sđd, tr. 185). Và nhứt là vì họ “có cái đầu (…)để nghĩ”, độc lập, không lệ thuộc, không xu phụ- trong “tình trạng có những cái đầu chỉ nghĩ theo những điều mà những cái đầu khác đã nghĩ sẵn cho mình”. (sđd, tr. 73). Thế là dĩ nhiên họ bị “gay go” (sđd, tr. 185) cả lũ.

Hệt như chính ông trước kia, “một kẻ mới tập tọng vào nghề khi viết luôn có ở trước mặt những nhà phê bình. Họ nghiêm khắc nhìn tôi”. Hệt như Nguyên Hồng bấy giờ: “Mình lăn lộn mình nghiền ngẫm, mình đọc, có khi 5 năm chục năm mới xong một quyển sách, mấy ông phê bình đọc vài đêm xong sáng tác của mình, thế là các ông ấy phán. Nào là chưa sâu, nào là thiếu tính giai cấp, hiện thực bị phản ánh một cách phiến diện“. (sđd, tr. 388).

Qua ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn, mọi tình huống dầu đen tối hay cười ra nước mắt đến đâu, mọi cảnh ngộ dầu đau đớn hay tủi nhục đến đâu, thảy đều được miêu tả, trình bày một cách rất mực hiền lành, trung hậu. Câu văn cứ như phẳng lỳ, nhẵn nhụi, không lồi lõm, gồ ghề. Ngôn từ cứ như bình dị, không lời cao tiếng thấp,  không mát mẻ chua chát. Thể như sự việc thuật lại chỉ là một mớ dữ kiện ngoại tại, không dích líu tới mình. Thể như tác giả chỉ là kẻ đứng ngoài mà nhìn, hờ hững quan sát thế cuộc. Dẫu rằng mắt đẫm lệ trong miền xa cách.

Nhưng đó là lớp vỏ bọc ngoài.
Và trong trường hợp này, chúng ta chớ nên coi thường bãi nước đọng, như ngạn ngữ Pháp đã nhắc: il faut se méfier de l’eau qui dort.
Chính nhờ thứ bút pháp phẳng lì và bình dị này mà tâm tình sôi sục của Bùi Ngọc Tấn khôn thôi âm ỉ trong lòng tập sách vẫn cứ vang dội vào tai những ai chịu lắng nghe.
T.T.Đ

(Nguồn: Tạp chí Sông Hương)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.