Viết với một sự giản dị chân thành nhất

Dưới đây là phần trả lời phỏng vấn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong chuyến thăm và làm việc tại trung tâm William Joiner, UMass Boston, thực hiện bởi Nguyễn Bá Chung:

1. Xin ông cho biết qua về thời niên thiếu, đã theo học những môn gì, đã đặc biệt ngưỡng mộ những tác giả hoặc trường phái nào?

Thời niên thiếu tôi học hết cấp 3 trung học phổ thông (lớp 9 thời đó). Giỏi văn và giỏi cả toán, luôn đứng đầu lớp. Thời trẻ thì ngưỡng mộ nhiều người lắm, yêu nhiều tác giả lắm. Thế giới  có Huy gô, Sô lô khôp, Pautôpxk…, trong nước là những tác giả Tự Lực văn đoàn. Tôi yêu những tác giả rất khác nhau: từ Huy Cận đến Vũ Hoàng Chương, yêu cả Nguyễn Tuân cả Vũ Trọng Phụng..

2. Xin ông cho biết lý do tại sao sau khi ra tù, ông đã ngừng viết hơn hai mươi năm? Trong thời gian đó ông nghĩ gì về nền văn học đương thời?

Sau khi ra tù, không những tôi không viết mà còn không đọc được sách, nhất là đọc những sách văn học Việt Nam, những sách của các bạn tôi viết. Những trung nông không vào hợp tác xã, cuối cùng nghèo đói, những cuộc đấu tranh giữa các đôi thanh niên nam nữ yêu nhau, một người vì tập thể một người cá nhân chủ nghĩa, cuói cùng tình yêu tan vỡ. Sau khi sống và chứng kiến những chuyện trong tù, đọc những sáng tác kiểu trên đây tôi thấy như mình bị xúc phạm. Cứ tiếp tục  víêt như thế thì viết làm gì?

 3. Những biến động ngoại cảnh hoặc nội tâm nào đã làm ông bất thình lình viết trở lại? Ông đã quyết định viết “CKN2000″ vào thời điểm nào? Viết trong bao lâu? Cảm tưởng của ông khi cầm bút trở lại? Khi viết lại những điều mình đã một thời trải qua?

Tháng 3-1990 tôi bắt đầu viết trở lại. Tình hình chính trị, kinh tế trong nước và quốc tế đã có những đổi khác. Phe XHCN tan vỡ. Hệ thống chính trị tưởng rất vững chắc đã sụp đổ. Một luồng gió tự do dân chủ thổi từ Liên Xô qua Đông Âu tới VN. Tại VN, Đại Hội 6 của Đảng quyết đinh đường lối đổi mới. Có nhiều biến chuyển về  sinh hoạt vật chất và tinh thần trong xã hội. Người dân bước đầu được giải phóng. Văn học nghệ thuật có những tín hiệu đáng mừng. Riêng văn chương đã có những sáng tác của Dương Thu Hương, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Nền văn chương già nua, nhợt nhạt công thức đã trở nên tươi trẻ, có sức sống.

Trong không khí như vậy tôi đã cầm bút trở lại. Thú thật, tôi đã tưởng mình không bao giờ còn viết văn trở lại.

4. Xin ông cho biết quá trình tìm kiếm nơi xuất bản CKN2000? Ông có nghĩ là tác phẩm có thể được chính thức ra mắt không?

Tôi hoàn thành CKN2000 vào khoảng cuối năm 1991. Chỉ trong hơn 1 năm. Khi đó sức khoẻ tôi còn tốt, có thể làm viêc thâu đêm. Năm 1993, tôi gửi CKN2000 dự thi 40 năm giải phóng Thủ Đô Hà Nội (1953-1954). Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã định in. Ban chấm thi đã dự kiến giải thưởng (thấp thôi, bởi nếu cho giải cao, lại lôi thôi như Bảo Ninh thì phiền). Thế rồi có  một sự cố, NXB Hội Nhà Văn bị đe doạ khởi tố, không dám in nữa.

Tôi biết tác phẩm của tôi khó được in vì nó đụng đến điều cấm kỵ: Nói về nhà tù, về tệ mất dân chủ nghiêm trọng trong chế độ XHCN, điều chưa ai nói đến và dám nói đến.

Thế rồi điều kỳ diệu đã đến. Nó đã được xuất bản.

5. Cảm tưởng của ông khi CKN2000 được nxb Thanh niên đồng ý in?

Tôi gửi lên nhà XB Thanh Niên cầu may thôi. Gửi mà chẳng mấy hy vọng. Bởi chính biên tập viên cầm bản thảo lên  sau khi đọc được hơn 100 trang, gọi điện về cho tôi: Khó đấy anh ạ.

Nhưng rồi giám đốc Bùi Văn Ngợi quyết định in. Phó giám đốc Phạm Đức, biên tập viên Cao Giang đều rất ủng hộ. Có một điều cần phải nói là: Nhiều đoạn tôi nghĩ sẽ bị cắt nhưng vẫn được các anh giữ nguyên.

6. Cảm tưởng của ông khi CKN2000 bị thu hồi?

Lúc đầu là một cảm giác bị lăng nhục. Là buồn. Sau đó là một sự lo lắng. Lo lắng cho mình thì ít, lo lắng cho các anh ở NXB thì nhiều. Tôi gọi điện lên cho anh Bùi Văn Ngợi:

“Tôi rất áy náy. Vì tôi mà các anh bị liên luỵ.” Anh Ngợi gắt lên với tôi: “Sao anh lại nói như vậy. Chúng ta làm những việc mà chúng ta nghĩ rằng có lợi cho dân cho nước. Nếu cấp trên của chúng ta có cái nhìn khác chúng ta, quyết định khác chúng ta thì chúng ta chấp hành thôi.” Bùi Văn Ngợi đúng là một người tuyệt vời.

7. Theo ông biết, mặc dầu bị thu hồi, CKN2000 vẫn được bán chui như thế nào?

Tôi lúc nào cũng nghĩ rằng Tập tiểu thuyết CKN2000 của tôi  sẽ được đọc dài dài. Trong đời, tôi đã chứng kiến nhiều quyển tiểu thuyết bị cấm nhưng mấy chục năm sau lại được in lại. CKN2000 được in lại ngay tức thì sau khi có lệnh thu hồi tiêu huỷ. In ở hải ngoại. Và in chui ngay trong nước. Người ta dễ dàng mua được CKN2000 tại các hàng sách vỉa hè Hà Nội và các chú bé bán sách rong, những chú bé Gavroche của Hà Nội. Một chú bé bán sách rong khoe với tôi: Con bán được tám chục bộ, bạn con bán được gần trăm. Bà M, một bà bán sách vỉa hè nói: Tôi bán được gần nghìn bộ. Chắc anh được nhiều nhuận bút lắm nhỉ. Tôi cười: “Tôi có được đồng nào đâu.”

 8. Một nhà văn hải ngoại, ông Lâm Chương, sau khi đọc CKN2000, đã nói với bạn bè là từ nay ông ấy sẽ không viết về trại cải tạo nữa, vì có viết cũng không thể nào hay hơn CKN2000? Theo ông, tại sao CKN2000 lại được độc giả cũng như các nhà văn đặc biệt trân trọng như vậy?

Tôi rất cảm động khi được biết ông Lâm Chương nói như vậy về tập sách của tôi. Việc phân tích những cái hay cái chưa hay của CKN2000 thuộc bạn đọc và các nhà phê bình.

Là tác giả, tôi chỉ có thể nói rằng tôi viết CKN2000 với tất cả sự cố gắng nhằm đạt tới cái trần của mình. Tôi tự nhủ: Hãy trung thực. Viết tất cả những gì mình biết, mình trải, với tấm long bao dung, không thêm, không bớt, không thù hận. Hãy dọn mình đối thoại với vô cùng. Viết với long nhân ái, với sự tự do mình dành cho mình, để tìm ra gốc gác, căn nguyên, không hớt váng. Viết với một sự giản dị chân thành nhất. Và viết với sự luyến tiếc đến đau đớn một thời tuổi trẻ đã qua. 

9. Một điểm đặc biệt của CKN2000 là tuy viết về đời sống mất tự do, những khốn khó khổ đau của bao mảnh đời bất hạnh đằng sau nhửng cánh cửa xà lim, nhưng nó không phải là tiếng ca uất nghẹn đầy hận thù và bi phẩn. Ngược lại, nó nói lên những liện hệ rất người, rất nhân bản, của những cuộc đời bị đẩy xuống những hố thẳm không cùng nhưng vẫn vượt được lên trên nó, vẫn giữ được những bản sắc nhân hậu mà những kẻ có tự do lại đánh mất. Theo ông, nhờ những kinh nghiệm bản thân đặc thù hoặc một triết lý sống nào mà ông có thể thể hiện được tính nhân bản sâu sắc đó trong tác phẩm của mình?

Đời người thật ngắn ngủi  vất vả khó khăn và đau khổ  nữa. Cả những người gây đau khổ cho tôi cũng không tránh khỏi điều này. Tôi yêu cuộc đời. Tôi yêu mọi  người. Tôi ao ước người với người sống với nhau tốt hơn. Không chỉ mình tôi ao ước như vậy. Tôi nghĩ ngay cả những kẻ tàn ác cũng có lúc muốn sống tốt, sống lương thiện.

10. Với phản ứng đặc biệt trân trọng của độc giả đối với CKN2000, ông có kỳ vọng gì về các tác phẩm tương lai của văn học Việt Nam?

Là một người viết văn tôi thật hạnh phúc với sự cảm thông chia sẻ của độc giả. Đó là sức mạnh giúp tôi sống và làm việc trong những năm còn lại. Có thể nói tôi rất nghèo nhưng cũng giầu có vô cùng. Một lần nữa cho tôi được cảm ơn những bạn đọc trong nước, ngoài nước đã chia sẻ cùng tôi.

Tôi luôn hy vọng vào những thành tựu sắp tới của văn học Việt Nam, bởi kinh nghiệm sống của tôi là : Không bao giờ ngừng hy vọng.

Boston, 9 tháng 5, 2009

(Nguồn: blog Guihuongchogio)

BÙI NGỌC TẤN – ÔNG NHÀ VĂN HÀNG XÓM

Hàng năm, cứ đến giao thừa là chúng tôi tập trung đón tết ở gia đình anh Mẫn – chị Hà. Trong số 5 anh chị em (đi từ Hà nội sang) làm việc cho Liên hợp quốc (UN) ở New York thì chỉ có anh chị Mẫn Hà là đã có nhà riêng. Anh Mẫn sang New York được gần 20 năm. Chúng tôi, người nhiều thì 6 năm, người ít thì chưa được 2 năm nên đều phải ở nhà thuê. Trong các bữa ăn như vậy bao giờ trẻ con cũng có trò chơi riêng ở phòng khách. Người lớn chúng tôi ngồi ở phòng ăn, uống trà và bàn chuyện nước nhà. Bao giờ cũng bắt đầu bằng các tin tức trên các tờ báo chính thống, sau đó đến chuyện văn chương, nghệ thuật…

Một lần, sau khi nói về cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh, anh Mẫn quay sang hỏi tôi: “Ở Hải Phòng em có biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn không?”. Quả thực là cho đến tận lúc ấy, tôi chưa từng nghe thấy tên ông ấy một lần nào. Anh Mẫn nói tiếp: “thế thì chắc là em chưa đọc cuốn Chuyện kể năm 2000 đúng không?”. Chị Hà đang pha trà cho mọi người, nói ngay: “Thế thì em phải đọc đi em ạ. Hay lắm đấy!”. Cần phải nói thêm, lúc còn ở Hà Nội, tôi cũng chịu khó mua sách hay để đọc. Ơn trời, lương của UN cũng cho phép chúng tôi mon men đến được với “văn hóa đọc” – một thứ “xa xỉ phẩm” với phần đông dân chúng. Từ khi sang NY làm việc, mỗi lần về chơi hoặc có người sang, tôi đều mang hoặc nhờ bạn bè gửi sách sang. Tủ sách của nhà anh Mẫn kê kín hai bên tường phòng ăn. Đủ các thể loại sách. Tôi và chị Hà thường hay trao đổi sách cho nhau. Trước khi chúng tôi về (thường là 1,2 giờ sáng), anh Mẫn đã tìm được một bản in trên khổ giấy A4 đưa cho tôi. Ở bên này, chúng tôi hay vào Talawas hoặc Việt Nam Thư quán, thấy có cuốn nào hay thì “in chùa” ra xem (thành thực xin lỗi các tác giả trong nước). Nếu bạn nào chưa đọc cuốn này thì cũng có thể vào các trang web trên để đọc. Cuốn sách này đã từng được in ra ở trong nước, nhưng ngay sau đó bị nghiền thành bột giấy vì tác giả dám đưa vào sách những vấn đề “nhạy cảm”…

Nếu tên tuổi nhà văn Bảo Ninh gắn liền với “Nỗi buồn chiến tranh” thì “Chuyện kể năm 2000″ của nhà văn BNT cũng là một điều tương tự. Đã có quá nhiều các nhà văn, nhà phê bình có tầm cỡ viết về cuốn sách rồi nên nếu tôi có quảng cáo thêm cho nó cũng chẳng có giá trị gì. Chỉ có điều cuốn CKN2000 đã làm cho tôi thực sự bị “sốc”. Giống như một người đang mò mẫm đi trong đường hầm tối bỗng nhiên bị lôi tuột ra ngoài ánh sáng. Mất phương hướng! Rạn vỡ niềm tin. (Thế thi xứng đáng bị nghiền thành bột giấy rồi còn gì!!!)Chính điều này đã thôi thúc tôi đi tìm gặp bằng được tác giả cuốn sách để hỏi cho ra nhẽ xem có bao nhiêu phần trăm sự thật trong đấy. Hơn nữa, càng đọc sách của ông tôi càng nhận ra những địa danh quen thuộc, quen đến nỗi như ông ấy là hàng xóm nhà mình…

Cuối cùng thì dịp may cũng đã đến. Nói đúng hơn là trong cái rủi có cái may. Tháng 3 năm 2006, ông xã tôi bị ốm. Đang cuối năm tài chính bận rộn tôi cũng vội vàng xin nghỉ phép về VN với ý định sẽ đưa ông xã sang bên này điều trị. Chuyến đi gói gọn trong khoảng 10 ngày vì tôi không yên tâm để cho hai đứa con “tự quản” mặc dù thằng anh gần 20 và con em gần 15 tuổi. Trước hôm tôi đi sang lại NY hai ngày, ông xã tôi thấy vợ có vẻ hỏi han, quan tâm đến ông nhà văn BNT mới “tiết lộ” có người quen có thể giới thiệu cho tôi đến gặp nhà văn. Lúc bấy giờ đã gần 7 giờ tối. Tôi giục ông xã gọi điện ngay…

Cô Hải – nhà báo đồng ý đưa chúng tôi đi gặp nhà văn ngay buổi tối hôm ây. Không kịp cơm nước gì, hai vợ chồng phóng xe máy đến ngay hiệu sách của cô ấy ở gần “Đồng hồ 3 chuông”. Cô đã gọi điện và cho biết nhà văn đang ở nhà. Lại lên xe máy để đi ngay. Đi một đoạn thì thấy cô Hải đưa chúng tôi vào một cái ngõ… ngay sát ngõ nhà mình!!! Cô Hải giải thích: “đây là nhà con gái anh Tấn. Hai anh chị ăn cơm ở nhà con gái, nhà anh Tấn ở ngõ bên cạnh???”.
Nghe tiếng cô Hải gọi réo rắt từ ngoài cửa, nhà văn vội vàng ra đón khách. Tôi chưa kịp xác định nên xưng hô thế nào với ông nhà văn tóc đã “muối nhiều hơn tiêu”, cô Hải đã nhanh nhảu giới thiệu:
– Anh Tấn ơi, đây là chi Chung, một độc giả mới ở New York về…
Nhà văn nói:
– Quý hóa quá. Em ở tận NY về cơ à. Vào nhà đi các em.
(Chết rồi! thế thì phải gọi bằng anh thôi). Nhà văn xởi lởi, hiếu khách làm cho tôi thấy vững tâm hơn. Trước khi đi, tôi đã nghĩ đến tình huống gặp ông nhà văn được quá nhiều độc giả hâm mộ và ông ấy sẽ rất “lịch sự đãi bôi” để khỏi bị mang tiếng là “chảnh”, nhưng cũng không quá “cởi mở” để cho khách biết đường rút lui sớm. Đỡ mất thời gian.
– Vâng ạ. Bọn em ở NY, đọc sách của anh “in chùa” trên mạng. Bây giờ em về, nếu anh có cuốn nào thì em xin anh một cuốn có chữ ký của anh để sang “khoe” với bạn bè.
Còn một chi tiết tôi quên chưa nói, đến hiệu sách của cô Hải, tôi đã lấy thêm 4 cuốn nữa của ông để xin ông chữ ký, hai cuốn cho tôi và hai cuốn tặng anh Mẫn chị Hà.
Bây giờ tôi mới có dịp ngắm kỹ ông nhà văn hàng xóm nhà minh.

nhavanBNT

Nhà văn đang ở nhà nên ăn mặc rất xuềng xoàng. Áo Blu-dông xanh và quần pijama kẻ sọc. Tôi thầm nghĩ trong đầu, đúng phải là một ông “nông dân” thế này mới viết được giọng văn “nhà quê chân chất” như thế. Sau này tôi chia sẻ với ông ý nghĩ đấy, ông còn bảo:
– Em nghĩ thế còn tốt chán. Lúc anh đi ra nước ngoài, người ta còn bảo anh giống “thuế vụ” hoặc như cái anh bán vé chợ quê ấy chứ.
Ở con người ông có một cái gì đó rất mâu thuẫn, không diễn tả được. Tóc ông, như tôi đã nói ở trên “muối nhiều hơn tiêu” nhưng giọng nói thì nhiệt tình sôi nổi như người chưa đi hết một nửa quãng đời mình. Ông và cô Hải (còn trẻ hơn tôi đến 8 tuổi) xưng hô với nhau “anh anh – em em” khiến tôi nghĩ ông chắc là ông “xấu máu”. Yên tâm gọi bằng “anh Tấn”. Gia đình ông đang chuẩn bị ăn tối. Khi tôi đề nghị ông ký vào 4 cuốn sách tôi vừa mua, ông nhiệt tình nhận lời ngay. Ông ngồi vào ký sách với một vẻ hết sức trân trọng – trân trọng sự trân trọng của độc giả đối với tác phẩm của mình. 

Tôi cũng đã một lần đi xin chữ ký của một dịch giả nổi tiếng theo đề nghị của thằng con trai. Bằng một sự tình cờ nào đó tôi được anh biết đến như một “đồng nghiệp” cũ mặc dù chúng tôi chỉ có một thời gian làm cùng một cơ quan. Khi tôi vào cơ quan thì anh đã chuyển đi từ lâu rồi. Tôi mua 2 cuốn sách và đề nghị anh ký tặng cho con trai và bạn của nó. Bằng một giọng nửa đùa nửa thật, anh ấy nói:
– Hai cuốn chứ 100 cuốn mình cũng ký. Các bạn mua sách thì mình được tiền mà…
Có thể do chỗ quen biết mà anh ấy nói thật lòng, nhưng giá mà đừng nói thật thì vẫn hơn.

Tôi chăm chú nhìn nhà văn ký tặng sách. Cô nhà báo tranh thủ “tác nghiệp” ngay. Thế là tôi đã có “vật chứng” để mang về NY cho anh chị Mẫn Hà. Lẽ ra chúng tôi nên về để cho hai vợ chồng ông ăn tối, nhưng tôi còn muốn tận mắt xem căn phòng 20m2 mà ông đã nhắc tới nhiều lần trong CKN2000. Hiểu được ý nguyện của tôi, ông tranh thủ ăn rất nhanh rồi đưa chúng tôi về nhà. Không phải tôi “thấy sang bắt quàng làm họ” mà gọi ông là “ông nhà văn hàng xóm”. Nhà ông ở đầu ngõ, nhà bố mẹ chồng tôi ở cuối ngõ. Ngõ nhà ông ở đầu phố, ngõ nhà tôi ở giữa phố, cách nhau chưa đầy 300m. Không hiểu sao tôi và ông chưa lần nào “chạm trán” hay ít nhất “va quyệt” vào nhau. Cái ngõ ông ở trước kia ô tô có thể vào tận trong cùng, bây giờ “người người cùng lấn – nhà nhà cùng lấn” nên hai chiếc xe máy tránh nhau còn khó. Tôi lại có người bạn học cùng phổ thông, nhà ở ngay phía trước nhà ông. Hồi ôn thi đại học, nhà của cậu ấy là “tụ điểm” của chúng tôi mỗi khi có nồi mỳ được nấu vào lúc nửa đêm. Lúc ấy chúng tôi thường ra vườn hoa Nguyễn Du hoặc đứng dưới ngọn đèn đường ôn thi để cho đỡ buồn ngủ. Học đến nửa đêm, đứa nào cũng đói nên chỉ cần có một tin nhắn “có mật” thì “ruồi” bay đến đông đủ.

Sau vụ “Nhân văn giai phẩm” với những tên tuổi như Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán…, vài năm sau một số nhà văn, nhà thơ cũng bị đưa đi cải tạo không án vì “tư tưởng xét lại”. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là một trong số những người đó. Bạn bè ông bảo, giá như ông cứ ở lại Hà nội thì chưa chắc đã phải “đi”. Lúc ấy chỉ tiêu “phản động” cũng được phân đều về các tỉnh thành, giống như kiểu phân chỉ tiêu địa chủ trong thời kỳ “Cải cách ruộng đất”. BNT, với những bài viết sắc sảo phản ánh “người thực việc thực”, đã lọt ngay vào tầm ngắm của những “người lính canh gác cho Đảng trên mặt trận Văn hóa”. Ông bị bắt đi khi vợ ông mới sinh đứa con trai út.

Năm 2002, khi tôi sang NY công tác biệt phái, chị phó giám đốc của Vụ tôi cho tôi mượn một cuốn sách viết bằng tiếng Anh do một sỹ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa viết về những năm tháng đi học tập cải tạo ở miền Bắc. Tôi không đủ bình tĩnh để đọc hết cuốn sách vì tôi không tin rằng chế độ nhà tù của chúng ta lại có thể đẩy con người vào chốn cùng cực như vậy. Tôi cũng tự “trấn an” mình rằng, họ là người tù của “phía bên kia” nên họ có thể viết “quá” lên. Cũng như khi mình đọc “Bất khuất” hoặc “Sống như anh”, chế độ nhà tù của “kẻ thù” cũng đã được miêu tả đâu có khác gì địa ngục trần gian. Năm 2003, tôi tìm thấy ở thư viện NY cuốn “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên (VTH). Anh VTH “bị đi” cùng thời với nhà văn BNT. Nhưng anh may mắn hơn BNT ở chỗ anh “được” giam ở khu biệt lập và khẩu phần ăn của anh “cao cấp” hơn gấp nhiều lần những trại mà BNT đã từng đi qua.

BNT viết CKN2000 sau 27 năm im lặng. 27 năm tính từ ngày ông được ra tù sau hơn 3 năm cải tạo không án. 27 năm ấy ông gọi là 27 năm “đi tù ngoại trú”. Hàng xóm nhìn ông với con mắt cảnh giác, nhất là khi khách đến thăm ông lại là những người bạn “ở trại về”. Các anh Cảnh sát khu vực thì vẫn không quên nhiệm vụ thường xuyên “ghé thăm” kiểm tra “nhân khẩu thường trú” ban ngày cũng như ban đêm. Không một nơi nào muốn nhận ông vào làm việc. Ông đã trải qua đủ mọi thứ nghề để kiếm sống: từ khuân vác ở cảng đến kéo xe bò, rồi sửa xe đạp… Đến nỗi một cây bút vô danh cũng có thể làm ông đau đớn vì những câu nói huênh hoang, hợm hĩnh của anh ta. Bạn bè cảm thông, chia sẻ, muốn ông cầm lại bút, nhưng ông đã quyết tâm đoạn tuyệt với nó. Viết làm sao được khi ký ức về những năm tháng tù đày còn đè nặng lên cả quá khứ và cuộc sống hiện tại của ông và gia đình ông. Nếu viết thì sẽ phải viết gì đây để “trả nghĩa” với những bạn hữu trong tù. Liệu những trang sách ông sẽ viết ra có đưa ông trở lại sau song sắt không? 27 năm đủ làm cho một con người từ lúc lọt lòng trở thành người trưởng thành. 27 năm nghiền ngẫm, chắt lọc…nỗi cay đắng, thù hận đã được hóa giải. Và ông đã cầm bút trở lại. Ông viết về cuộc sống ngục tù của mình với sự dí dỏm vốn có và đầy tính nhân văn. Tôi hỏi tại sao cuốn CKN2000 của ông viết từ những năm 90 mà ông lại đặt tên cho nó là CKN2000, ông trả lời, ông hy vọng khi mình bước sang thế kỷ 21, nước mình sẽ “cởi mở” hơn và người ta sẽ có thể chấp nhận được cái sự thật của gần 30 năm về trước. Và cuối cùng như các bạn đã biết CKN2000 đã bị nghiền thành bột giấy trước khi đến được với công chúng.

Thanh Chung  (nguồn: blog Jolicoeur)

Bùi Ngọc Tấn

Một cái bánh chưng gửi vào cũng được cắt ngang dọc, xem có tài liệu gì trong ruột bánh không, không sao để dành được, chỉ hai ngày sau là mốc xám dài bằng đốt ngón tay đã mọc xù lên dọc hai bên vết cắt. Khi còn giam cứu, gói đường gửi vào cũng bị đổ tung ra. Bao thuốc bị bóc. Ðiến thuốc bị xé. Hắn và Hoá thận trọng trao đổi. Trong tù rất thận trọng. Chẳng nên làm phức tạp tình hình. Chẳng nên làm mình thêm lo lắng. ở ngoài đời tự nhiên đã bị khoác cái tội tuyên truyền phản cách mạng”. Vào đây lại thêm tội chóng đối thì chỉ có mục xương. Nên tù chính trị ai cũng giữ mồm giữ miệng. Chỉ cởi mở với rất ít người đã qua thử thách. Như với già Ðô. Với Giang.
 
Chẳng ai nói với ai những điền sâu kín trong lòng, nhưng tất cả đều hiểu rằng: Không ai chấp nhận cái thứ tù không án. Tù không có ngày về. Không một ai chấp nhận chế độ ăn uống lao dịch khủng khiếp mà họ đang chịu đựng. Hắn quý trọng anh em tù Công giáo. Tất cả đều sống kiên cường, đúng mực. Tốt với bạn tù. Không ai là Giuđa. Không ai bẩm sớ. Có lẽ đó là anh em thực hiện lời dạy của Chúa. Thử thách này cũng là thử thách trước Chúa.

Thấy Cân đang ngồi với Hoá, hắn vòng về phía sau hội trường. Ngồi một mình. Ðấy là nơi cao nhất của quả đồi được lấy làm trại tù. Hắn nhìn anh em đi vật vờ, vô mục đích. Những thân hình xác xơ trong những bộ quần áo xác xơ. Những cái đầu cúi chậm rãi đếm bước. Chờ thời gian trôi. Chờ tối xuống. Ðể ngày mai lại hệt như hôm nay. Hắn nhìn hàng rào ken dày dưới chân đồi. Cỏ mọc lút. Không ai dám tới. Ra đấy làm gì, nếu không có ý định trốn trại. ở đó vắng teo. Như cầu Hiền Lương, khu phi quân sự. Tháng Tám năm ngoái, bọn hắn đã được ra chỗ đó. Bão. Bão to làm hàng rào đổ mấy chỗ. Bọn hắn phải đẵn gỗ, đẵn cây, đẵn nứa giồng lại. Chỉ một ngày xong. Ðể nhốt chính bọn hắn. Bao giờ thì mình cũng tự làm hàng rào, làm nhà tù nhốt mình. Ðời là thế!

Già Ðô đến ngồi cạnh hắn. Già đã đi đảo một vòng và biết khối tin thời sự. Già bảo:
“Cái đám mới lên ấy nhốt chung với toán lò vôi.”
Chưa phân toán. Có một anh ở Bộ N tên là Ðức. Từ Hoả lò chuyển lên. Còn cái anh Kiều Xuân Vĩnh chính họ Cao. Dòng dõi Cao Bá Quát. Sau vì sợ tru di tam tộc nên đổi thành họ Kiều. Thấy bảo chỉ thêm cái chấm vào thôi thì chữ Cao thành chữ Kiều.
Hắn cơ hồ tuyệt vọng:
“Tình hình xấu lắm, cụ ạ. Ngoài ấy lại đang bắt.”
“Hội Vũ Lượng thổi kèn làm gì mà cũng tù chính trị.”
“Thì tôi với cụ làm gì mà cũng tù chính trị. Mưu đồ gì. Chống đối gì. Chỉ có tin tưởng ở các ông ấy quá.”
“Tội của chúng mình không phải là mất lòng tin mà là tin tưởng quá.”
“Sống thế này không điên kể cũng lạ thật.”
“Tôi cũng mong tôi điên. Thật khốn nạn vì mình vẫn không điên lên được.”
“Ðêm qua, tôi mơ thấy con bé con bên Pháp. Nó vẫn như lúc tôi từ biệt nó. Tôi mơ thấy quán rượu của bà Jeannette. Tôi vào ngồi ở quán. Con bé chạy ra hỏi: Que buvez-vous? _ Vẫn cái giọng nói ấy. Nó chẳng nhớn lên chút nào. Tôi ôm lấy nó: “Không nhận ra bố à? Con mèo con của bố”. Nó khóc, nó giãy tụt khỏi tay tôi. Rồi nó gọi: “Mẹ ơi Có khách! ! Vợ tôi ra đứng sau quầy: “ Ông dùng gì? Tôi cũng nói như một người khách: “Cho một cốc vang và một xăng-đuých! ! . Kỳ lạ… Bà Jeannette cũng không nhận ra tôi. Tôi thì nhận ra cả hai. Nhưng cứ ngồi uống như một người khách lạ.”

Già Ðô cúi đầu. Hắn thở dài, thèm được như già Ðô, giọng rầu rầu:
“Tôi mất. khả năng nằm mơ rồi. Ðã bao lần tôi ao ước năm mơ thấy vợ, thấy con. Nhất là các cháu. Lần cuối cùng tôi nằm mơ là thời gian còn ở xà lim 75 _ cách đây hơn ba năm rồi. Phải nói, tôi mong năm mơ thấy các cháu lắm. Thế rồi cầu được ước thấy. Tôi nằm mơ thấy thằng cháu lớn. Hai bố con ở dưới đầm. Nước tới cổ tôi, cổ cháu, mênh mông, nắng loá. Sóng nữa. Tôi bơi lại chỗ cháu. Và cứ thế túm đầu thằng bé mà tát nó, đánh nó. Nó khóc, nó khóc thảm thiết: “Con lạy bố rồi, bố đừng đánh con nữa”. Tôi vẫn cứ ấn nó xuống và đánh. Nó nhô lên, tóc ướt đẫm. Nó khóc. Nó gào khóc đau đớn: Con lạy bố rồi. Bố đừng đánh con nữa”. Tôi choàng tỉnh. Run lên. Toát hết mồ hôi. Trống ngực đập thình thịch. Nghĩ thương con quá. Sao tôi lại đánh nó? Tôi chỉ mong nằm mơ thấy chúng, được gặp chúng trong mơ để ôm ấp, yêu chiều. Thế mà mơ thấy nó tôi lại đi đánh nó.”

“Tôi cũng thế. Tôi cứ ngồi uống như một khách hàng, thế mới khổ chứ. “
Hắn lặng im. Hắn đang nghĩ đến cái ước mơ nằm mơ thấy con của hắn, nằm mơ thấy thằng lớn một lần nữa để hắn sửa chữa tội lỗi làm bố của hắn. Sao hắn lại đánh con hắn như đánh đòn thù? Sao hắn lại là một thằng bố độc ác, vũ phu đến thế Thàng bé gào lên trong mơ, những tiếng gào thảm thiết cứ vọng mãi bên tai hắn: “Con lạy bố rồi. Bố đừng đánh con nữa”. Sao phải lạy bố, hở con? Ôi! Con tôi, những đứa con khổ dau, côi cút ở bên kia thế giới.
Hắn than thở:
“Ðêm nào đi ngủ tôi cũng ao ước nằm mơ thấy cháu một lần nữa. Nhưng từ bấy đến nay tôi không nằm mơ thấy gì hết. Tôi hoàn toàn mất khả năng nằm mơ rồi. Ðấy là lẩn nằm mơ cuối cùng của tôi. Tôi thương nó quá.”
“Tôi cũng ít nằm mơ. Giá đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy Marseille. Thật là một thành phố… Không. Hải Phòng không thể nào bì được. Hải Phòng xa biển.”
Ðằng này biển gầm thét ngay nơi mình ngủ. Thật là vĩ đại Những người dân ở đấy thẳng thắn, cởi mở, vui tính… ông Martin với cây đàn violon và cả bầu đàn thê tử đến đâu là hội ở đó. Trẻ con người lớn quây lấy. Thật là những người vô tư lự.
“Ðời cụ thật sung sướng. Biết đây, biết đó. . Tôi thì từ bé lên rừng, ăn rau muống của cách mạng. Bây giờ lại lên rừng. Rau muống chẳng có mà ăn.”
“Tôi về nước với bao ý định tốt đẹp. Thật không ngờ.”
“Tôi ao ước được như cụ. Ðược một lần leo lên tháp Eiffel đứng trước Khải Hoàn Môn.”
Họ nói với chính họ. Mỗi người mang trong lòng nỗi khổ đau quá lớn, đến nỗi trong một lúc không còn khả năng tiếp thu được nỗi lòng người khác.
Có tiếng kẻng vang lên. Một hồi dóng dả dội vào rừng xanh. Kẻng điểm danh buổi tối.

Persecuted Writers Honored with Prestigious Awards

27 Writers from 20 Countries
Receive Hellman/Hammett Grants

A diverse group of writers from 20 countries have received Hellman/Hammett grants in recognition of the courage with which they faced political persecution, Human Rights Watch announced today.

Among the recipients is Daniel Bekoutou whose reports played a key role in the international effort to hold Chadian dictator Hissène Habré accountable for crimes against humanity committed under his rule. The Hellman/Hammett awards also recognize Maria Petreu for her outspoken criticism of extreme right ideology in Romania and Esmat Qaney whose writings have been burned and banned by successive Afghan regimes.

Each year, Human Rights Watch presents Hellman/Hammett grants to writers around the world who have been targets of political persecution. The grant program began in 1989 when the estates of American authors Lillian Hellman and Dashiell Hammett asked Human Rights Watch to design a program for writers in financial need as a result of expressing their views. This year’s grants totaled $175,000.

In many countries, governments use military and presidential decrees, criminal libel, and sedition laws to silence critics. Writers and journalists are threatened, harassed, assaulted, or jailed merely for providing information from nongovernmental sources. In addition to those who are directly targeted, many others are forced to practice self-censorship.

Short biographies of the recipients who received grants in 2001 follow.

….

 

 

Bui Ngoc Tan (Vietnam)

started a career in journalism in 1954 writing in accord with the Vietnamese Communist Party (VCP) line. Gradually, he became critical of the VCP perspective. In 1968, he was arrested as a “revisionist and antiparty element” and imprisoned without trial from 1968 to 1973. After his release, he wrote stories and novels but was banned from publishing and had to earn his living as a laborer. In 1995, he was permitted to publish again. Nhung Nguoi Ranh Viec (These People with Nothing to Do), published in 1995, and Mot Ngay Dai Dang Dang (A Very Long and Boring Day), published in 1999, are mildly critical of the ruling regime. In 2000, he published Chuyen Ke Nam 2000 (Story Told in Year 2000), a denunciation of the communist detention policy. This book was too much for the censors; it was recalled and burned. He has undergone numerous interrogations and is now under surveillance.

….

Đọc Làm Ngư­ời Là Khó: Không ai thoát đ­ược lịch sử

Bùi Ngoc Tấn 

Do cả đời bị oan khuất, bị trù dập, cả đời vác đơn đi kêu oan, cả đời đ­ược nghe những lời hứa hẹn để không bao giờ thực hiện của các quan chức, các cơ quan công quyền, và cũng bởi có đôi chút nhận xét thông thư­ờng của một ngư­ời có trí tuệ trung bình về những điều diễn ra trư­ớc mắt trong phạm vi toàn xã hội, nên niềm tin của tôi vào các thứ bậc thủ trư­ởng từ thấp tới cao và tới tối cao đã chết lâu rồi. Tôi biết vẫn còn nhiều ngư­ời tốt, nh­ưng cái trật tự này nó làm tha hoá đi tất cả. Tôi đã nói với ông Hoàng Hữu Nhân, ân nhân của tôi, một trong số rất ít ngư­ời còn có trách nhiệm với con ng­ười: “Anh như­ con gà giữa đàn vịt. ở đâu cũng trơ ra”.

 

Đến khi cầm trong tay tập hồi ký Làm ngư­ời là khó (LNLK) của ông Đoàn Duy Thành và đọc nó một mạch trong suốt một ngày, tôi càng tin ở nhận xét của mình về cái trật tự xã hội nó tha hoá con ng­ời, nó làm cho những ng­ười tốt khó có đất sống. Nh­ưng không chỉ một kết luận buồn đó. Còn một kết luận vui khác. Những ngư­ời tốt vẫn còn. Nh­ư ông Đoàn Duy Thành. Dù bao trùm lên vẫn là nỗi buồn: Những ng­ười tốt không đ­ược làm việc. Những ngư­ời trung thực, có tài bao giờ cũng chịu vất vả, hiểm nguy. Th­ường là bị vô hiệu hoá. 

Tôi thích một câu thơ Pháp mà tôi không nhớ tên tác giả: “Thần thánh chết rồi còn lại ta”. Tôi cũng mới đọc lại Nietzsche: “Ta biết quá rõ những kẻ giống với Th­ượng Đế. Chúng muốn rằng thiên hạ tin nơi chúng và hoài nghi là một tội trọng. Nh­ưng ta biết quá rõ chúng tin tư­ởng vào điều gì hơn cả”.  Thế mà tôi vẫn bị bất ngờ khi đọc Đoàn Duy Thành, bất ngờ ở chỗ những vụ chơi nhau thì từ thủ đoạn đến ngôn từ tại cấp tối cao cũng giống hệt cấp xóm cấp xã, cấp chợ cấp ph­ường. Tiếc rằng tôi không có tài viết kịch. Một vở kịch rút ra từ LNLK đang chờ một ai đó.

 

Tôi rất khâm phục trí nhớ cũng như­ năng lực viết khi tác giả đã ngoài 70 tuổi. Nh­ưng đó là điều tôi không muốn nói ở đây. Tôi biết, là một Trung ư­ơng uỷ viên, một Phó Thủ t­ướng, ông Đoàn Duy Thành đã tự hạn chế nhiều trong hồi ký của mình. Là chứng nhân của lịch sử, những chuyện “thâm cung bí sử” ông biết không chỉ có vậy. (Tôi ao ư­ớc sẽ có dịp ông công bố những nhận xét toàn diện hơn, chi tiết hơn về thời cuộc cũng như­ về những đồng cấp và th­ượng cấp của ông.) Nh­ưng là một ngòi bút trung thực, những gì ông viết ra đã nói biết bao điều.

 

Khi mới cầm tập sách, đọc lời đề từ: Làm ngư­ời là khó. Làm ngư­ời Xã hội chủ nghĩa còn khó hơn nhiều, tôi thấy như­ một sự lên gân. Như­ng đọc xong, tôi mới thấy đúng là Làm ngư­ời Xã hội chủ nghĩa còn khó hơn nhiều. Khó như­ những gì ông Thành đã kể. Khó vì không chịu làm cái công việc tịch thu nhà cửa, thực hiện “chỉ thị Z30 rất mật, tịch thu nhà từ 2 tầng trở lên, bất kể to nhỏ, trị giá bao nhiêu. Chỉ thị Z30 không đ­ược phổ biến cho các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ư­ơng, (mà) chỉ có chỉ thị bằng miệng. Hải Phòng cũng đ­ợc 1, 2 đồng chí Bộ Chính trị nhắc nhở rằng Hà Nội làm tr­ước, Hải Phòng theo Hà Nội mà làm (…) (…) Tôi trực tiếp lên Hà Nội xem việc tịch thu một số nhà. Tôi thấy chẳng khác gì cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất còn đấu tố rồi mới tịch thu. Nh­ưng Z30 chỉ đọc lệnh là tịch thu…(LNLK tr.263) Khó vì trong nông nghiệp, ông và tập thể thành uỷ Hải Phòng vẫn cứ thực hiện khoán chui tới hộ để dân khỏi đói, mặc cho tấm ưg­ơng tầy liếp Bí th­ư tỉnh uỷ Vĩnh Phúc Kim Ngọc bị kỷ luật, bị phê phán; vẫn đánh giá nghị quyết của tỉnh uỷ Vĩnh Phúc “đã đặt lợi ích của nhân dân, của đất n­ước lên trên hết, thậm chí trên cả tính mạng ngư­ời ra nghị quyết” (LNLK tr195), và đến khi Hải Phòng tự túc đ­ợc l­ương thực lại bị ng­ười đồng chí và cấp trên của mình cử một đoàn kiểm tra về và kết luận: Đi trệch hư­ớng. Khó vì không biết bao nhiêu cái đầu khô cứng đặc sệt nh­ưng lại có chức có quyền ở mọi nơi trên đất n­ớc làm thành một vòng vây trùng điệp. Như­ ông Bí th­ư tỉnh uỷ liền bên Hải Phòng phát biểu đầy lập trư­ờng cách mạng vô sản tiến công: “Nếu có giây thép gai, tôi sẽ rào luồng gió độc của Hải Phòng thổi sang”. Khó vì phải tính toán, phải dám chịu trách nhiệm để tổ chức đắp đê quai lấn biển đ­ường 14, một việc không ai tin sẽ làm đ­ược. Mà nếu đê vỡ thì sự nghiệp đi tong nh­ư lời một cấp trên của ông đã nói cùng ông. Phải đem cả cuộc đời mình ra đặt cư­ợc để có đê quai, để lấn biển, để Hải Phòng có thêm hơn 7000 héc ta đất canh tác, một kết quả khiến tôi cứ nghĩ đến cụ Nguyễn Công Trứ ngày x­a.

Điều thuyết phục tôi trong suốt 500 trang Làm ng­ười là khó tr­ớc hết là sự chân thành. Tôi đã đọc nhiều hồi ký của những vị lão thành cách mạng. Tôi thấy họ hầu hết là những ng­ười đặc biệt, những ngư­ời đã là chân lý, đã biết tất cả, đã đến nơi rồi ngay khi mới b­ước vào con đư­ờng cách mạng. Nh­ưng Đoàn Duy Thành thì không. Khi đã là Phó Thủ t­ướng, đã là Chủ tịch phòng Th­ương mại và Công nghiệp Việt Nam, ông vẫn không giấu diếm mình đã từng là một thanh niên thất học. Ông học bổ túc văn hoá từ lớp 5 trở lên. Ông học trung cấp tài mậu, ông học th­ương mại, học đại học, học chính trị. Ông học ngoại ngữ, thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, và có thể đọc sách báo bằng tiếng Trung Quốc…Ông học và đọc cả đời.

 

Hãy nghe ông thổ lộ những suy nghĩ về chủ nghĩa xã hội: Tôi luôn quan niệm rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội tất nhiên phải có những công trình lớn như­ nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, cầu Thăng Long…, nh­ưng đối với ng­ười dân không phải ai cũng biết. Cái mà họ cần là nơi đang sống phải ngày một tốt hơn. Từ cái ngõ vào nhà sao cho không lầy lội mỗi khi trời m­a, cái nhà đang ở không dột nát, cái hố xí mỗi khi đi vệ sinh không phải một nón che đầu, một nón che phía tr­ớc…(LNLK tr 237). Giữa lúc toàn xã hội coi giầu có là tội lỗi (nên mới có chỉ thị mật Z30), nghèo khó là th­ước đo phẩm chất, đạo đức  cách mạng, ông khuyến khích mọi ng­ười làm giầu (tất nhiên làm giầu chân chính). Là một ng­ười Nho học, ông viết: “Cách đây 5000 năm, Kinh Thi đã nói: “Văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử” (Văn hoá vật chất dồi dào sau đó mới có nưg­ời tử tế)” (LNLK tr 255). Ông lo từng bữa ăn sáng cho cán bộ công nhân trong thành phố Hải Phòng (với tổng số 15 vạn suất). Ông lo xi măng hoá đư­ờng ngõ xóm mấy chục năm rồi lầy lội. Ông lo cải tạo hố xí thùng, ông lo khoán hộ, ông lo mua tầu, ông lo cho mỗi công nhân cán bộ có cân đỗ cân thịt (không phải trả tiền) thêm vào trong túi hàng tết, mà thời đói kém ấy chúng tôi gọi là thịt ông Thành, đỗ ông Thành, ông đề xuất xoá bỏ các trạm ngăn sông cấm chợ, cho l­ưu thông hàng hoá trong cả n­ước, cả n­ước là một thị tr­ường thống nhất. Khi ông làm Phó Thủ tư­ớng, phụ trách l­ưu thông phân phối, hậu quả của thời gian giá l­ương tiền đẩy toàn bộ nền kinh tế xuống vực sâu, lạm phát đại phi mã lên tới 780%, dự trữ ngoại tệ chỉ còn hơn 1 triệu đô la. Ông đã nghiên cứu đề xuất nhập vàng, một việc ch­ưa từng có khiến nhiều uỷ viên Bộ Chính trị ngỡ ngàng, ng­ười phản đối, ng­ười cho qua, không thảo luận, ng­ười rêu rao nói xấu “Bộ tr­ởng Ngoại th­ương không nhập máy móc thiết bị lại đi nhập vàng” như­ng ông vẫn kiên trì thuyết phục từng ng­ười, kết quả đã nhập được khoảng 160 tấn, lãi hơn 1 tỷ đô la, giảm lạm phát xuống hơn 10 lần.

 

*

 

Không thể nói hết về LNLK trong một bài ngắn ngủi này. Chỉ có thể đọc nó. Đây là một tập sách rất cần đ­ược phổ biến rộng rãi. Một tập sách cần cho hôm nay và cần cho cả mai sau. Nó góp phần tái hiện một phần của lịch sử từ cách mạng tháng 8 năm 1945 tới nay. Ng­ời đọc có thể hiểu đ­ược một lớp thanh niên yêu nư­ớc, đến với cách mạng, chịu tù đầy hy sinh, tr­ưởng thành cùng với những b­ước thăng trầm của cách mạng. Lịch sử sẽ đ­ược viết lại từ những tập hồi ký như­ thế này. Nhiều kết luận chân xác sẽ đ­ợc rút ra để đánh giá cuộc sống và để tiếp tục sống. Lịch sử thư­ờng đến chậm nh­ưng không ai có thể thoát đ­ược lịch sử.

 

Đọc xong LNLK tôi hiểu Đoàn Duy Thành hơn. Tôi quý ông bởi ông suốt đời là một ngư­ời ham học và có cái đầu luôn suy nghĩ độc lập. Tôi quý ông vì ông đã có những cống hiến to lớn cho nhân dân cho đất n­ớc. Tôi chia sẻ cùng ông về những đắng cay của sự vu cáo hãm hại hèn hạ mà ông gánh chịu, sự vu cáo hãm hại hèn hạ từ chính những ng­ười đồng chí của ông.

 

Tôi kính trọng ông vì ông từ chức Phó Thủ tư­ớng khi thấy mình không thể làm việc đư­ợc. Trong lịch sử có nhiều vị treo ấn từ quan (chẳng hạn như­ Chu Văn An dâng thất trảm sớ, không đ­ược chấp nhận đã về dạy học, như­ Nguyên Hồng rời cả gia đình từ Hà Nội về Yên Thế), nh­nưg hình nh­ư chỉ có Bùi Huy Bích và Đoàn Duy Thành là hai vị cỡ tể t­ướng treo ấn từ quan. Khi mỗi chức vụ đều đư­ợc tính thành tiền với ba rem, đây quả là một việc không thể quan niệm nổi đối với giới quan chức. Phó Thủ tư­ớng phụ trách th­ương mại xuất nhập khẩu, l­ưu thông phân phối, tài chính, ngân hàng, cái ghế ấy là mơ ­ước của bao ng­ười, vào tay ai đó là tiền như­ thác lũ đổ về, là mở tài khoản ở nước ngoài, là ba họ được nhờ, là vinh thân phì gia, là ngụp lặn trong không khí cung đình, no nê bơi lội trong quyền lực. Thế như­ng ông Đoàn Duy Thành sẵn sàng từ bỏ nó. Với ông, chức vụ ấy chỉ đơn giản để ông làm việc, đóng góp cho đất n­ước. Sáng 1-2-1988, “dự thảo nghị quyết toàn diện chuyển kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị tr­ường định h­ướng xã hội chủ nghĩa” do ông và 6 bộ tr­ởng cùng một số chuyên viên kinh tế chuẩn bị đ­ưa ra hội nghị Bộ Chính trị, 14 ng­ười, 12 ng­ười tán thành. Đến cuối giờ chiều “anh Đỗ Mư­ời phát biểu. Không đi vào đề án, anh phát biểu phê phán trực tiếp tôi, với những ý chính sau đây: “Một Phó Thủ tư­ớng và 5, 6 bộ trư­ởng không chịu đi cơ sở, cứ ngồi bàn giấy nghiên cứu mô hình nọ mô hình kia, để làm gì? Vấn đề mới quá, tôi đề nghị gác lại đến tháng 9-1988 sẽ bàn”.  Vân vân và vân vân, xoay quanh phê phán tôi”. (LNLK tr333). 12 uỷ viên Bộ Chính trị ủng hộ. Chỉ 1 uỷ viên Bộ Chính Trị phản đối. Thế mà dự thảo nghị quyết đ­ưa ra bỏ đấy, không đ­ược thảo luận tiếp. Chúng ta thêm một bằng chứng về sự vô trách nhiệm của những đấng tối cao. Còn ông hiểu rằng mình không thể tiếp tục làm việc đ­ược. Chỉ một ngày sau, chiều mồng 2-2-1988 Phó Thủ t­ướng Đoàn Duy Thành đọc diễn văn từ chức.

 

LNLK khiến tôi hiểu Đoàn Duy Thành và cũng giúp tôi hiểu thêm đ­ược những khó khăn ì ạch của mỗi b­ước đi lên, những nguyên nhân của tình trạng xuống cấp toàn diện hiện nay. Ba mư­ơi năm đổ máu, đất nư­ớc Việt Nam đau th­ơng của chúng ta biến thành một sân chơi. Một ván cờ Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ. “Ngồi xổm chơi hay bệt đất thì tuỳ”. Nh­ư thơ Nguyễn Duy.

Hải Phòng tháng 5-2005

Bùi Ngoc Tấn

Hồn quê của Dạ Ngân

Bùi Ngọc Tấn

Đưa tặng tôi tập sách mới in, Dạ Ngân nói thêm: “Anh phải dành thời gian đọc cho em đấy”

Dạ Ngân là một nhà văn nữ mà tôi thích đọc. Gần như­ tất cả tácphầm đã xuất bản, chị đều gửi tặng tôi và tôi đêu hào hứng đọc cho đến. trang cuối cùng. Như­ng đây là 100 tản mạn hồn quê (NXB Phụ Nữ), không phải là tiểu thuyết như Gia đình bé mọn  hay truyện ngắn như Con chó và vụ ly hôn. Đây là những bài báo chị viết trong 2 năm  cho chuyên mục hàng tuần Tản mạn hồn quê của báo Nông Thôn Ngày Nay. Không pllải Dạ Ngân nhà văn mà Dạ Ngân nhà báo !

Đến bây giờ tôi mới biết Dạ Ngân đã một mình cáng đáng một chuyên mục trên báo. Như chị nói: “nó giống như có con mọn đi đâu cũng loay hoay, đi đâu cũng vướng”. Đó là chưa kể “rất dễ sinh ra buồn tẻ, đơn điệu vầ mỏi mệt.”

Đọc 100 tản mạn hồn quê, tôi kính phục một Dạ Ngân nhà báo và tôi phát hiện ra một Dạ Ngân khác. Một Dạ Ngân nhà văn tinh tế biết bao khi cảm thụ cuộc đời. Chị nhìn cây gạo như­ nhìn một ngư­ời phụ nữ. “Một cái cây vừa có dáng lại sinh ra một thứ hoa vừa có sắc, vừa có sự từng trải nữa thì quả là một sự dâng hiến chứ không chỉ là cuộc sinh tồn bình thường (…) Quá nhiều hoa, những đóa hoa to, đỏ thắm và ngả nâu, sao hoa lại phồn thực, ý nhị mà đẫm buồn như vậy? Có tâm sự gì, có nỗi niềm gì ở trong hoa chăng? Thế là chị ơi, rụng bông hoa gạo. Cầm một đóa hoa rụng lên, hoa thì phải rụng phải tàn, như­ng một kiệt tác như­ vậy mà cũng rụng rồi tàn thành cát bụi ư? Không khỏi nghĩ về những người đàn bà như ­ mình, vất kiệt cuộc đời rồi, dâng hiến đủ rồi thì cũng phải rụng và cũng phải tan rữa ra ư?”

Tôi đã nhìn cây gạo bằng đôi mắt Dạ Ngân ngắm nhìn từ xa đề tường hết vẻ phong trần độc nhất vô nhị của dáng cây. Tôi đã Nhớ heo may như­ chị nhớ, nhớ heo may ngay khi heo may đang về, đang bao bọc lấy tôi, “nó đang có mặt mà mình vãn thấy nhớ huống gì đi xa hay phải sống mà luôn thiếu nó, sự nhớ kỳ lạ này chỉ có với heo may, chỉ có gió heo may mới làm nổi”.

Hồn quê VN quá rộng.  Dạ Ngân suy nghĩ –  mặt đất và bầu trời, con ng­ười và cảnh sắc, cánh chim và hạt bụi, tất cả đều mang trong mình chất quê, hồn quê và bể dâu biến động, nhớ quên, thương tích, thăng trầm. Chị viết vê Những bó mạ hừng đông, về Ngôi chùa vô danh, về tiếng chim cu gáy trong vư­ờn, về Dáng cha ngồi, Mùi trầu ai đó, Anh em ruột thịt, về vẻ đẹp của những cánh đồng đã gặt, chỉ còn trơ lại những gốc rạ bắt đầu làm cái việc tái sinh cho đất. Chị nói với chúng ta về Nắng trọn vẹn, cái nắng như­ phớt mật, vàng nhẹ, trong nắng lại có gió, xôn xao, cởi mở chan hòa, cái nắng tác giả của bánh phồng bởi khòng có nắng sẽ không có không khí đàn ông cầm chày chòng chành bên mấy bà mấy cô cũng chòng chành chuyện vãn.

Vâng. Đây là những bài báo cho một chuyên mục hàng tuần.Như­ng là những bài báo giàu chất thơ, những bài báo về  một hồn quê được viết ra với  một ngòi bút có trách nhiệm, giàu câm xúc, những bài báo mà mỗi khi đọc nó, ta lại phải dừng lại, sống với những gì chợt trở về, chợt đến trong lòng  mình.

100 tản mạn hồn quê của Dạ Ngân đã trả cho tôi một chút tôi đã mất.

(Nguồn: Báo Phụ Nữ TPHCM ngày 5/10/07)

Thư gửi Hữu Thỉnh

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Hải phòng ngày 12-10-2001

Kính gửi Ông Hữu Thỉnh, Tổng thư ký Hội nhà văn Việt nam

Thưa Ông,

Tôi là Bùi Ngọc Tấn, hội viên Hội Nhà Văn Việt nam viết thư này gửi tới ông bởi có quá nhiều tin đồn thất thiệt xung quanh việc tôi nhận giải thưởng của Hội quan sát nhân quyền (HRW) và chuyến đi Trung quốc vừa qua của tôi.

Người nói tôi đã nhận giải, nhận tiền, người nói tôi đã từ chối giải, người nói tôi đã “ẵm gọn” 50 triệu đồng của thành phố Hải phòng, thậm chí một ông vụ trưởng còn nói tôi đã làm đơn tự nguyện không nhận giải mà xin đi Trung quốc như đòi một sự đền bù, “kỳ này chúng tôi cho đi, tiền tiêu thoải mái.”

Tôi xin phép được trình bày lại toàn bộ vấn đề để đính chính trước dư luận những sai lệch trên:

1. Về giải thưởng:

a. Khoảng tháng 3-2001 tôi có nhận được tin từ nước ngoài báo về tôi được trao giải thưởng văn học Chân Thiện Mỹ cho bộ tiểu thuyết của tôi. Tiền thưởng kèm theo giải là 3000 USD. Tôi đã tìm hiểu về tổ chức đứng ra tặng giải, và khi biết đó là tổ chức Việt nam phục quốc, tôi đã từ chối nhận giải.

b. Khoảng cuối tháng 4-2001, tôi lại nhận được tin từ nước ngoài báo về: tôi được trao giải nhân quyền Hellman-Hammett của HRW. Sau khi tìm hiểu tổ chức này, tôi đã quyết định nhận giải.

Trong nửa tháng 7 và đầu tháng 8 200l, các ông Hữu Thỉnh, Tổng Thư ký Hội Nhà văn (HNV), Nguyễn Trí Huân phó Tổng Thư ký HNV, Đỗ Kim Cuông vụ phó vụ Văn nghệ Ban Tư tưởng Văn hoá Trung Ương, Vũ Thiệu Loan, Hồ Anh Tuấn, chủ tịch, phó chủ tịch Hội Văn nghệ Hải phòng, Nguyễn Viết Lãm, nhà thơ đã đến nhà tôi khuyên tôi đừng nhận giải.

Với tất cả các ông trên tôi đã trả lời như sau: Tôi nhận giải thưởng vì:

1 Nhân quyển là một vấn đề có mặt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mãi mãi song hành cùng với nhân loại. Không một quốc gia nào trên thế giới có thể nói là mình đã giải quyết hoàn hảo vấn đề nhân quyền.

2~ Đó cũng là mục tiêu mà Đảng, Chính Phủ, Quốc Hội nước ta hết sức quan tâm để thực thi ngày một tốt hơn. Trong các nghị quyết của Đảng, Chính Phủ luôn luôn có vấn đề dân chủ hoá đời sống xã hội, chìa khoá đưa đất nước tiến lên. Tình trạng mất dân chủ hiện nay là rất nghiêm trọng dẫn tới những hậu quả khôn lường, làm suy giảm lòng tin của nhân dân, cản trở sự phát triển của đất nước.

3- Giải thưởng là do những Đảng viên Đảng Cộng Sản Mỹ góp tài sản sáng lập.

 4- Tôi được tặng giải là do tập tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của tôi, trong đó tôi thuật lại trung thực cuộc đời tù tội oan ức của tôi với một thái độ chân thành và xây dựng (tôi đảm bảo với ông rằng, 4 nhân vật: ông Trần, ông Hoàng và vợ chồng người tù không án là thực đến từng chi tiết), một bộ sách được độc giả rất hoan nghênh nhưng lại bị thu hồi tiêu huỷ mà tôi luôn nghĩ đó là việc làm chưa được cân nhắc kỹ. Nếu đó là quyển sách phản động, chắc chắn tôi không nhận giải.

 5- Người ta tặng giải cho tôi không kèm theo bất cứ điều kiện nào.

 6- Tôi đã tuyên bố nhận giải, giờ đây tôi không thể phủ nhận.

 II. Về tiền thưởng kèm theo giải:

 1. Khoảng cuối tháng 6 đầu tháng 7- 2001, tiền thưởng đã hai lần được chuyển từ nước ngoài về tài tài khoản của tôi, nhưng tôi không nhận được. (người ta gọi điện về tôi mới biết) Và họ đã đề nghị gửi ít một theo đường bưu điện nhưng tôi gạt đi vì quá phiền phức hơn nữa cũng rất khó đến tay tôi.

 2- Trong khi gặp tôi, các ông Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Đỗ Kim Cuông, Vũ Thiệu Loan, Nguyễn Viết Lãm đều khẳng định với tôi rằng tiền thưởng là của CIA. Trước những thông tin từ hai chiều trái ngược nhau, tôi tự thấy cần phải có thời gian xác minh, kết luận, không thể vội vàng hấp lấp.

 Vì những lý do trên, tôi đã điện ra nước ngoài đề nghị tạm hoãn việc chuyển tiền.

 Thưa Ông,

 Đó là tất cả những gì xầy ra xung quanh việc tôi nhận giải thưởng của HRW.

 Cho đến bây giờ tôi vẫn giữ nguyên nhận thức trên. Hơn nữa cho đến nay việc nhận giải của tôi đã được nửa năm, đã là chuyện đã qua, không ai nhắc đến nữa. Việc tôi từ chối nhận giải bây giờ không chỉ làm tổn hại đến danh dự của tôi mà chắc chắn nó còn gây phương hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà Nước. Và đấy mới là điều tôi say nghĩ hơn cả.

 3- Về số tiền 50 triệu của thành phố Hải Phòng:

 Tôi cũng có nghe nói thành phố Hải Phòng quan tâm đến tôi, có thể sẽ giúp đỡ tôi số tiền khoảng 50 triệu đồng. Khi nghe tin này tôi đã phát biểu: “Nếu tôi được phép xin chính quyền làm điều gì đó thì đó không phải là tiền mà là xin chính quyền xét lại vụ án rõ ràng là oan sai của tôi.”

 Cho đến nay tôi chưa hề nhận số tiền đó.

 III. Về chuyến đi thăm và làm việc tại Trung quốc tháng 9-2001 vừa qua:

 Trong công văn Hội Nhà Văn VN gửi Thành Uỷ, Uỷ ban Nhân dân, Hội Văn Nghệ thành phố Hải Phòng (mà tôi có nhận được bản sao lục) đề nghị ra quyết định và làm thủ tục xuất cảnh cho tôi, có đoạn viết: “Việc tác giả Bùi Ngọc Tấn tham gia đoàn nhà văn đi công tác nước ngoài có thể góp phần xua tan dư luận phương Tây vẫn cho rằng: tác giả hiện vẫn bị phân biệt đối xử và bị ngược đãi về chính trị.”

Rõ ràng tôi đi Trung quốc vì cái chung chứ không phải tôi đòi hỏi một sự đền bù nào đó cho mình. Hẳn ông cũng biết năm 1998, tôi đã không nhận lời mời của một tổ chức nhà văn quốc tế mời tôi sang Châu Âu hoặc Châu Mỹ nghỉ một năm. Tôi luôn nghĩ rằng đối với một nhà văn, điều quan trọng nhất không phải là một chuyến đi ra nước ngoài.

Trong chuyến đi thăm Trung quốc vừa qua mà ông làm trưởng đoàn, thu hoạch sâu sắc nhất của lôi là về trường hợp ông Trương Hiền Lượng, nhà văn Trung quốc. Ông Trương Hiền Lượng bị tù oan 20 năm. Ông đã được sửa sai. Ông chuyên viết về nhà tù, thuật lại trung thực những gì ông đã trải. Tới nay ông đã viết và in cả chục tập sách. Nước ta đã dịch in 3 tập của ông và sẽ in 9 tập của ông. Ông được coi là một trong những nhà văn hàng đầu của Trung Quốc, “một nhà văn của bốn bức tường, nghia là nhà văn của nhà tù.” Sách của ông được nhiều nước phương Tây dịch. Ông chưa bao giờ bị phương tây nêu tên như một tồn tại về nhân quyền.

Tôi khao khát số phận đó của Trương Hiền Lượng và hy vọng rằng chuyến tôi đi thăm và làm việc tại Trung quốc vừa qua là mở đầu cho một giai đoạn mới của đời tôi.

Tôi xin gửi kèm theo đây xác nhận của Công an Hải Phòng về việc bắt tôi tù 5 năm để ông thấy rằng tôi hoàn toàn vô tội, và bản sao bức thư tôi đã gửi ông hồi tháng 7 trả lời ông về việc tôi nhận giải thưởng của HRW.

Trân trọng,

(ký tên)

(Bùi Ngọc Tấn)

 

Nơi gửi:

- Như trên

- Các ông: Nguyễn Trí Huân,

Đỗ Kim Cuông, Vũ Thiệu Loan,

Hồ Anh Tuấn, Nguyễn Viết Lãm

Đình Kính (để biết)

 

o0o

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.