Ao ước được là một người bình thường

Chiều thứ Sáu, 28/05/2004, tại khán phòng Viện Goethe, 58 Nguyễn Thái Học, Hà Nội đã diễn ra buổi đọc văn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn đến từ Hải Phòng.

Tuy trời mưa nhưng khán giả đến dự khá đông. Vì khán phòng nhỏ, không đủ chỗ ngồi nên nhiều người đã đứng nghe buổi nói chuyện của nhà văn. Ước chừng có khoảng 150-200 người đã đến dự, trong đó có một số nhà văn, dịch giả, nhà phê bình.

IMG_9605

Ảnh: Bạn đọc tham dự buổi đọc văn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Đúng 18h 5′, ông Augustin, viện trưởng Viện Goethe nói lời chào mừng đến khán giả. Ông Augustin nói rằng, đây là buổi giao lưu đầu tiên với các nhà văn Việt Nam do Viện Goethe tổ chức. Ông hy vọng rồi đây những buổi giao lưu như vậy sẽ diễn ra thường xuyên. Ông Augustin giới thiệu nhà văn Bùi Ngọc Tấn, người đã sống nhiều năm trong im lặng, rơi vào những hoàn cảnh tưởng chừng như không thể viết được nữa, nhưng rồi vẫn gắng vượt qua để cống hiến cho độc giả những tác phẩm văn học. Ông Augustin giới thiệu nhà thơ, dịch giả Dương Tường – người dẫn chương trình cho buổi tối.

Ảnh: Dương Tường và Bùi Ngọc Tấn

Ông Dương Tường có bài phát biểu ngắn giới thiệu tiểu sử nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ông Dương Tường nói, ông không quen nói trước đám đông, và đây là lần đầu tiên ông làm MC, bởi thế ông đã chuẩn bị bài nói ngắn trên một mảnh giấy. Ông xin phép đọc.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn có bài phát biểu ngắn. Ông Tấn cũng nói rằng ông rất “sợ đám đông”. Đây là lần thứ 2 ông nói chuyện trước công chúng, bởi vậy ông cũng xin phép đọc một bài chuẩn bị sẵn trên giấy. Đại ý, ông Tấn nói rằng ông hầu như không có hứng thú nói chuyện trước đám đông, nhưng trước lời mời của Viện Goethe – viện mang tên một nhà thơ vĩ đại – ông đã nhận lời.

IMG_9585

Ảnh: Nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại buổi đọc văn

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đọc truyện ngắn “Người chăn kiến”. Ông đọc chậm, giọng hơi khàn, nhưng rõ ràng.

Kết thúc truyện, cử tọa vỗ tay nồng nhiệt.

Sang phần khán giả đặt câu hỏi. Nhà thơ Dương Tường lưu ý: Nhà văn Bùi Ngọc Tấn có nhiều điều “không tiện nói”, vì thế khán giả nên “tùy nghi” đặt câu hỏi.

Dưới đây là trao đổi giữa nhà văn Bùi Ngọc Tấn và khán giả.

Một ông trung niên:
Chủ đề tư tưởng của truyện ngắn Người chăn kiến là gì? Ông lên án ai, có phải là lên án tay B trưởng không?

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (BNT): Các nhân vật của tôi là sản phẩm của một hoàn cảnh. Tôi hoàn toàn không lên án ai. Tôi chỉ muốn nói một điều: chúng ta nên thận trọng khi đối xử với con người, nên thận trọng khi đưa họ vào tù, bởi vì những ai đã phải vào tù thì khi ra khỏi đó họ vẫn khó thoát khỏi nó. Văn chương không có chức năng lên án, có chăng chỉ nói lên thân phận con người.

 

Một thanh niên: Truyện của bác rất hay, nhưng hơi ngắn. Tại sao bác không chọn một truyện khác cũng hay mà dài hơn để đọc trước công chúng?

BNT: Tôi thường hay bị “tra tấn” bằng cách phải nghe người khác đọc truyện. Vì thế, tôi chọn truyện (ngắn) này chỉ vì tôi muốn các bạn bị “tra tấn” ít nhất.

(Hội trường vỗ tay)

Một thanh niên: Ông nói ông rất sợ đám đông… Hình như nhà văn là những người không có con đường nào khác để hòa nhập được với cuộc đời nên mới tìm đến thơ văn?

BNT: Tôi chỉ nói kinh nghiệm của tôi: Phải hòa nhập cuộc sống thì anh mới có thể viết được. Nếu anh biết vui cái vui, buồn cái buồn của cuộc đời thì anh mới có thể cầm bút…

Dương Tường (xin phép nói xen vào): Chính tôi cũng sợ đám đông. Nhưng vì tôi quý mến Viện Goethe, quý mến các bạn nên mới nhận lời làm MC hôm nay. Nhưng cái đó lại là chuyện khác, nếu tôi có dịp ngồi riêng với anh, được giao tiếp riêng với anh nó sẽ khác.

Một ông trung niên
: Giới thiệu một cách trần truồng sự việc, có phải ông để cho nhân vật lên án thay tác giả?

BNT: Như tôi đã nói, điều tôi muốn gửi gắm, đó là khi xử lý con người, hãy nên thận trọng. Riêng với bản thân tôi, đã vào tù, khi bước chân ra, mới thấy khó mà thoát khỏi nó. Phải làm sao để chúng ta sống với nhau thật lòng, yêu thương nhau, tránh được những đau khổ.

IMG_9634

Ảnh: Bạn đọc và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Một thanh niên: Cháu rất ngưỡng mộ bác. Chuyện kể năm 2000 là một kiệt tác. Chính sự suy diễn quy chụp đã khiến cho nó có màu sắc khác. Cũng như nhiều người đến với nghệ thuật nhưng không nhìn thấy phương diện nghệ thuật của tác phẩm. Nhà văn chính là người quan sát và phát hiện ra sự mâu thuẫn của con người. Có lúc, cháu nghĩ mình không thể tiếp tục được con đường văn chương. Nhiều lúc, cảm thấy mình mất tự do ghê gớm, lúc nào cũng biết là mình bị theo dõi. Đó là sự nguy hiểm không được lên tiếng. Còn bác, bác làm thế nào để vượt qua, để tiếp tục sáng tác?

BNT: Có lúc tôi đã xác định làm việc khác, đã ngừng viết trên hai mươi năm, thậm chí cảm thấy không viết được nữa. Có lần tôi đi thăm con gái. Ở một mình trong phòng, vì không biết làm gì suốt hơn mười tiếng đồng hồ, sau khi đã cầm chổi giết hết hơn 100 con nhện… tôi với đại một cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Việt Nam, được coi là nổi tiếng trong nước. Đọc được mấy trang, ngồi một mình nhưng tôi đỏ mặt vì ngượng. Đọc cuốn sách đó, tôi thấy sao người ta có thể viết ra nhiều điều dối trá, tránh né đến thế, lại còn giả vờ táo bạo, đổi mới nữa? Rồi tôi chợt hiểu rằng chỉ có viết thật, thật với lòng mình. Người ta không thể lảng tránh sự thật, và tôi chấp nhận. Khi cầm bút trở lại, tôi chấp nhận mọi khó khăn. Người ta liệt sách của tôi vào loại “có vấn đề”. Thế đấy, nhưng không có vấn đề thì viết làm gì? (Hội trường vỗ tay).

Tôi viết không phải để khoe mình, mỗi lần viết, tôi thấy mình tốt hơn lên, tôi dọn sạch mình để đối thoại với vô cùng, chứ tôi không viết vì cái nọ cái kia. Vâng, tôi viết rất khó khăn và “nguy hiểm nữa” vì trước mặt tôi luôn có một nhà phê bình, một nhà biên tập, và một nhà… công an nữa.

Trong một lần đi dự trại sáng tác ở Đại Lải – ở đây có rất nhiều trai thanh gái lịch đi nghỉ -, khi chúng tôi đang ngồi chơi thì có một cháu gái tới hỏi thăm, có ai là nhà văn Bùi Ngọc Tấn không? Tôi phát hoảng. Nhưng cô gái chỉ hỏi: “Sao chú trông hiền vậy mà chú viết dữ thế?”

Thực ra thì tôi không viết dữ, tôi chỉ viết về sự việc như nó thế. Tôi viết đúng những gì mình nghĩ, không pha chế, không thêm xirô vào…

Một cô gái:
Cháu rất xúc động được gặp bác hôm nay. Cháu được đọc Chuyện kể năm 2000 bằng một bản photo do một anh bạn chuyển lại. Khi đọc, thực sự là cháu đã không cầm đuợc nước mắt (Cô gái xúc động, khóc). Cháu đã hỏi anh ấy: Anh có biết bác ấy ở đâu không? Anh ấy bảo: rất khó được gặp bác. Cháu hình dung bác là một người khó tính, râu tóc lởm chởm. Anh bạn cháu nói: Hình như ông ấy già lắm rồi, hình như không còn sống nữa. (Khóc…). Tác phẩm của bác là một sự day dứt lớn về những con người vô tội. Đôi khi ở xã hội mình, hay thậm chí ở cả trên thế giới, những bất công vẫn luôn xảy ra. Phải là người có cái nhìn lớn như bác mới có thể viết ra được những điều đó. Chúng cháu rất cần những người như bác.

BNT:
Tôi rất cảm động và hạnh phúc. Xin cảm ơn cô cháu gái.

Ảnh: Nhiều bạn đọc vừa phát biểu vừa khóc.

Một thanh niên: Bác nghĩ gì về thế hệ trẻ, những người viết rất mạnh mẽ về tình dục?

BNT:
Tôi chỉ có thể nói rằng: thế hệ nào cũng có những người tài, thời đại nào, nhà văn ấy. Tôi luôn tin vào các bạn trẻ. Song tôi cũng khuyên các bạn rằng: Giá đừng đi viết văn thì hơn. Hãy rút ra khi còn kịp, cái nghề này nó “kinh” lắm! (Cười!) (Khán giả cười!)

Một thanh niên:
Lần đầu đọc Chuyện kể năm 2000 trên mạng, cháu cứ hình dung ra nhân vật chính của truyện, và cháu cảm thấy rất tiếc cho con người ấy. Sự tiếc nuối ấy làm cháu không yên. Bây giờ xin hỏi bác, bác tiếc nhất điều gì khi nhìn lại tất cả? Tôi tiếc nuối những năm tháng tuổi trẻ. Giá năm nay tôi mới bốn mươi tuổi thì tốt biết mấy, nhưng anh thấy đấy, năm nay tôi đã bảy mươi mốt tuổi rồi. Hai vợ chồng vất vả, nhiều khi hay nói với nhau: xem đứa nào chết trước… Tôi tiếc lắm. Tôi tiếc tuổi trẻ. Thậm chí những năm trong vòng lao lý, tôi cũng nhớ tuổi trẻ một cách tuyệt vọng. Tuổi trẻ chúng tôi thật hạnh phúc, người với người là bạn, là anh em. Khi tôi hai mươi tuổi, tôi là phóng viên báo Tiền Phong. Chúng tôi tiến về Thủ đô trong đoàn quân giải phóng, nhìn những cô gái mặc áo dài, người chiến thắng lòng trào dâng hạnh phúc. Tôi nhớ mãi hôm tiến vào Hà Nội, tôi gặp một cô gái ở Cửa Bắc, cô mời tôi vào nhà, tôi, một anh bộ đội chiến thắng trở về, cô gái tự hào giới thiệu tôi với mọi người, và khuôn mặt những người đó cũng sáng bừng lên. Xã hội ta những năm đó quả là tuyệt vời.

Một thanh niên:
Cháu là một họa sĩ, một người họat động trong lĩnh vực nghệ thuật. Cháu muốn hỏi bác rằng trong việc sáng tác, sự trung thực có phải là điều không thể thiếu?

BNT:
Tôi đồng ý với anh rằng trung thực là điều không thể thiếu. Song anh biết đấy, chúng tôi, những người viết văn xuôi rất “ghen tỵ” với các thi sĩ, nhất là với những họa sĩ, bởi vì họ muốn vẽ cái gì cũng được, trong khi viết văn, nhất là viết tiểu thuyết thì lại không được tự do như vậy. Viết tiểu thuyết nguy hiểm lắm.

Một cô gái:
Năm nay bác đã 71 tuổi. Cuộc sống của bác đã chịu bao áp lực, bao đau khổ. Cháu muốn hỏi bác, thời điểm nào bác vượt qua được sự hằn học, cay nghiệt, cáu giận… với xã hội. Hay phải ở một tầm văn hóa khác người ta mới làm được điều đó?

BNT:
Khi gặp những sự éo le, tôi cũng uất ức lắm chứ, tôi cảm thấy bị tước đoạt, nhiều lúc tôi điên lên, với tất cả những oái oăm của số phận. Những cái đó là sản phẩm của một thời, cái thời mà mình là nạn nhân, nhưng lại chính là mình cũng góp mặt vào đấy. Có người bạn bảo tôi: khi viết, anh bình tĩnh đôn hậu, tôi cho đó là do bản tính người. Bản tính của tôi là không giận ai được lâu, nhìn ai tôi cũng đặt mình vào vị trí của người ta. Khi viết, như đã nói, tôi dọn mình để đối thoại, tôi không nhằm đưa anh này lên, hạ anh kia xuống…

Một bà đứng tuổi:
Tôi thấy có chút gì của chúa Giê-su trong bác. Bác từ địa ngục trở về, nhưng bác vẫn cư xử rất nhâm bản, chịu đựng những sai lầm của nhà nước. Mẹ tôi cũng từng bị đi tù, song mẹ tôi không bao giờ quên được, sau đó bà bị thần kinh, và bà đã ra đi.

BNT:
Vâng.

Một ông trung niên:
Tôi là bạn của anh Bùi Ngọc Tấn, tôi đọc Chuyện kể năm 2000 khi nó chưa được phát hành và tôi cho đó là một tuyệt tác. Tôi muốn hỏi anh là từ bấy đến nay, anh có còn hoảng nữa không?

BNT:
Cái ao ước lớn nhất của tôi là: ao ước được là một nguời bình thường. Các bạn đang là người bình thường, các bạn không hiểu được cái sướng ấy đâu. Có lúc tôi tưởng tôi đã là một người bình thường, nhưng ngẫm kỹ thì không phải. Với câu hỏi của anh, tôi chỉ trả lời chung chung vậy thôi.

Dương Tường:
Vì thời gian có hạn, xin kết thúc buổi nói chuyện ở đây.

BNT:

7h15′, kết thúc buổi nói chuyện.

Nhiều khán giả nán lại chụp ảnh kỷ niệm với nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Ảnh: Với dịch giả Thanh Thư và Tiến sĩ Đào Tuấn Anh.

Ảnh: Bạn đọc xin địa chỉ nhà  văn.

(Nguồn: Talawas)

Người chưng cất nỗi đau thành hy vọng

Lời dẫn trong buổi đọc văn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại Viện Goethe Hà Nội, ngày 28.5.2004

 Dương Tường

Thưa quý vị và các bạn,

Hôm nay, chúng ta gặp mặt ở đây để mở đầu một dạng hoạt động mới của Viện Goethe Hà Nội, phù hợp với thiên chức thừa kế từ đại thi hào Ðức mà Viện mang tên. Ðó là những buổi giới thiệu văn học sẽ tổ chức thường kỳ, trong đó các bạn yêu văn học sẽ có dịp gặp gỡ và giao lưu với những nhà văn, nhà thơ mà mình mến mộ.

Người đầu tiên nhận lời tham gia sinh hoạt này là nhà văn Bùi Ngọc Tấn đến từ thành phố cảng Hải Phòng. Nếu hạnh phúc là tổng hoà của những vui sướng và đau khổ, tủi nhục và an ủi, hy vọng và tuyệt vọng, hạnh ngộ và bất hạnh, cũng như ký ức không phai nhạt về tất cả những trải nghiệm ấy, thì Bùi Ngọc Tấn co thể coi là một người hạnh phúc. Tôi thì tôi ưng gọi Bùi Ngọc Tấn là người chưng cất nỗi đau thành hy vọng. Không, thưa quý vị và các bạn, tôi sẽ không dài lời về nỗi đau ấy. Chỉ xin nói rằng nhà văn mà chúng ta sắp nghe đọc tác phẩm đã có một quãng im lặng kéo dài hơn hai thập kỷ, hơn hai thập kỷ không cất nổi bút trong đời văn của mình. Nhưng rồi ông đã vượt lên những ê chề của số phận. Qua nhưng năm dài hoạn nạn, Bùi Ngọc Tấn đã giàu thêm bao trải nghiệm trên mọi cung bậc trầm luân của nhân sinh và hoà đồng với những thân phận phó người sau này trở thành tiêu mẫu cho các nhân vật của ông trong các tập truyện Những Người Rách Việc, Một Ngày Dài Ðằng Ðẵng, trong Chuyện Kể Năm 2000, chưa kể những trang đầy tình nghĩa trong Một Thời Ðể Mất, Viết Về Bè Bạn. Những gì chảy ra từ ngòi bút Bùi Ngọc Tấn khiến tôi nghĩ đến quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Ðiển) ngày 10/12/1957:

“Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không, anh ta sẽ cô đơn và mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đày ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Và đây xin mời quý vị và các bạn lắng nghe im lặng đó vang lên qua một truyện ngắn nhan đề Người chăn kiến của tác giả Bùi Ngọc Tấn.

© 2004 talawas

Xem thêm tường thuật buổi tọa đàm tại đây.

 

Báo chí giới thiệu

Theo Báo Lao Động Ra mắt tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” của Bùi Ngọc Tấn (Thứ năm, 18/12/2008 08:46:18 AM)

Câu chuyện là kết tinh vốn sống của nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong suốt hai mươi năm chứng kiến những chìm nổi, ngang trái của cuộc sống và con người trong một đơn vị quốc doanh đánh cá lừng danh và cũng lắm truân chuyên.

Khắc họa nhân vật chủ yếu trên phương diện cuộc sống riêng tư, Bùi Ngọc Tấn, qua đó tái hiện thành công diện mạo tinh thần của một thế hệ, một thời đại, với những bi kịch của lòng tốt, sự chân thiện chất phác, những khát vọng đẹp đẽ trước hiện thực tàn nhẫn và lạnh lùng, vượt xa khỏi sự hình dung về những quy phạm luân lý và ranh giới tình người. Cuốn sách vừa ra mắt độc giả những ngày cuối năm 2008 này.

Không có nhân vật trung tâm, cuốn sách bao gồm vài chục mảnh đời của vài chục con người bé nhỏ: từ những thuyền trưởng, thủy thủ, lênh đênh trên biển hàng tháng trời đánh cá, cho đến anh thi đua, chị phục vụ, bà công đoàn, ông chánh, phó giám đốc trên bờ. Họ đã góp phần làm nên cái tập thể lắm eo sèo, lắm những chuyện cười ra nước mắt, và quan trọng hơn là lắm sự tha hóa  nhân cách, lắm góc khuất trong quan hệ người- người.

Bên cạnh mạch truyện được trần thuật khách quan, Biển và chim bói cá còn tồn tại một mạch truyện song song, đó là những dòng nhật ký về chuyến đi biển đầu tiên của cậu bé Ngô Xuân Phong, chuyến đi là phần thưởng của người cha thuyền trưởng, vì cậu đỗ vào cấp 3.

Cái nhìn ngây thơ, lý tưởng hóa và tràn đầy yêu thương của cậu dành cho thế giới của cha, cũng là thế giới của người lớn mà cậu là kẻ kế tục, dần dần rạn vỡ bởi những gì chính tai nghe mắt thấy về sự dung tục, lạnh lùng của đời sống. Cậu bé ngộ ra cái sáo rỗng chiếu lệ của những giá trị đạo đức mà từ trước tới giờ cậu vốn nằm lòng.

Thế hệ sau sẽ tìm cho mình một giá trị đạo đức như thế nào nếu căn cứ vào cái hiện thực mà thế hệ này tạo ra và truyền lại? Đó là câu hỏi lớn mà nhà văn đặt ra khi nỗ lực làm một người thư ký trung thành của thời đại mình.

V.A
(Nguồn: Báo Lao Động)

Theo Báo SGTT  Biển và chim bói cá (Thứ ba, 16/12/2008 08:51:36 AM)

Một thứ văn phong mang không khí tư liệu, cách kể chuyện truyền thống, trên một nền cấu trúc cũ, có lớp lang, tính cách nhân vật đậm thông tin, hiện thực. Nhưng cái thể hiện sự già tay của cuốn sách lại chính là cách thức tổ chức giọng điệu và tính cách của nhiều con người trong một bối cảnh thực tế xã hội đặc biệt, đầy nhá nhem, nhạy cảm. “Làn gió mới” của tiếp thu chuyển sang giai đoạn trước đổi mới đi vào đời sống của một liên hiệp đánh cá biển Đông đầy thành tích nhưng cũng nhiều cơ hội tha hoá, nhiều nhân văn cũng không ít lưu manh. Bên dưới những câu chuyện, cuộc đời là những đợt sóng ngầm của một thời kỳ nhiều dữ dội và cũng đầy khắc khoải. Cái không khí, tinh thần quốc doanh đầy khẩu hiệu thi đua nhưng ẩn phía sau rất nhiều góc khuất: từ chuyện buôn lậu vài ký đá lửa từ Trung Quốc đến chuyện “khai phá” con đường nhập lậu hàng điện tử gia dụng, từ chuyện mua chuộc hải quan, những vụ thanh toán lẫn nhau theo luật rừng trên biển…  như chuyện vừa mới xảy ra.

Có lẽ, với sự am hiểu, vốn sống của một thời từng là nhân viên quốc doanh đánh cá Hạ Long (1975 – 1995), Bùi Ngọc Tấn muốn lật lại ký ức về một thời kỳ, một bối cảnh nhỏ đặt trong tương quan bối cảnh lớn của dân tộc, thời đại đầy biến động ngấm ngầm và dữ dội mà mình đã sống qua, còn đem lại nhiều ngẫm ngợi, day dứt.

Nguyễn Vĩnh Nguyên
(Nguồn: Báo SGTT)

Cái hài hước, giễu nhại trong Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn

avatarBiển và chim bói cá vốn không phải một tiểu thuyết hoạt kê. Vì vậy khi xem xét lối biểu đạt hài hước, giễu nhại của tác phẩm, không cần thiết phải áp đặt những tiêu chí của thể loại hoạt kê, mà hợp lý hơn là tìm hiểu những biểu hiện, thành công sáng tạo của nó trong lối thể hiện đặc sắc của toàn bộ tác phẩm.

 Cái hài hước, trong lịch sử của nó, được các nhà phê bình xem như cảm hứng đối trọng của cái nghiêm nghị, hay của hình thái nghệ thuật trước nó là cái bi thương. Nó được xem là có nguồn gốc từ tính chất vui tươi, đề cao hiện sinh, cái phồn thực, xoáy vào sự thô kệch, và ý nghĩa bất tuân cợt nhạo, trong đời sống văn hoá dân gian. Được các nhà tiểu thuyết Phục hưng phương Tây khởi đầu ứng dụng trong hệ thống sáng tác, ý nghĩa bất tuân cợt nhạo của cái hài hước được nâng lên một cấp bậc luỹ thừa, trở thành cảm hứng phê phán “ hạ bệ ” vô cùng mạnh mẽ. Cái hài hước có thể phủ định một hệ tư tưởng cũng như những nền móng sâu xa nhất của sự tổ chức xã hội- đời sống và tư duy con người. Chỉ đến khi chàng Đôn Kihôtê của Cervantes ngất ngưởng trên con chiến mã trứ danh đến với người đọc, lúc đó ý tưởng về sự phê phán những ảo tưởng duy lý, cội nguồn của định chế xã hội áp đặt mới được đặt ra. Cùng với cái hài hước, lối giễu nhại ra đời như một thủ pháp phê phán trực tiếp của hình thái nghệ thuật này. Giấc mộng đêm hè (W. Shakespeare ), Đôn Kihôtê ( M. De Cervantes ), Gargantuar ( F. Rabelais ) … là những tác phẩm vĩ đại đầu tiên mở đường thành công cho cái hài hước đi liền với thủ pháp giễu nhại. Tiểu thuyết hoạt kê thành công ở nước ta từ trước tới nay có thể kể đến Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, đứng hàng sau là Người ngựa ngựa người, Kép Tư bền của Nguyễn Công Hoan…

 Biển và chim bói cá có lối ứng dụng cái hài hước đặc biệt. Khi xây dựng hệ thống hình tượng cho tác phẩm, nhà văn đã cố tình xoá đi nhân vật trung tâm. Đây là một dụng công thi pháp chứ không đơn thuần là vấn đề nội dung. Từ chối nhân vật trung tâm là từ chối sự mô thức hoá những vấn đề xã hội, đời sống theo một quan niệm ( có tính chất xã hội- thời cuộc ); ngay trong tác phẩm mà chủ đề chính là diện mạo lịch sử- thời cuộc này. Đó cũng là từ chối sự định hướng, dụng ý hoá thông qua “cái tiêu biểu” của hành động, tâm lý nhân vật để đưa bạn đọc đến một ý tưởng duy nhất. Riêng trong phạm vi thể tài của tiểu thuyết này, việc xoá bỏ mô thức hoá đời sống, xoá bỏ dụng ý, còn có tác dụng nới lỏng khả năng tự do của ngòi bút, tạo cho người viết ngẫu hứng hoặc đi sâu phản ánh những vấn đề thuộc về con người, một cách để cho hiện thực tác phẩm trở nên đa thanh, tích hợp nhiều chiều ý nghĩa.

 Trong tổng thể lối viết kể trên, cái hài hước đóng một vai trò linh hoạt và quan trọng. Có thể nói một nhân duyên nào đó đã khiến nhà văn chọn cảm hứng bi thương, bi tráng để xác lập chủ đề tác phẩm, nhưng ông vẫn không nhịn nổi cái cười vừa sảng khoái vừa thâm thuý. Trong rừng rừng chi tiết, nhấp nhô những nhân vật, nhóm tỏ nhóm mờ, cái hài hước của Bùi Ngọc Tấn giúp xác định nhân vật mang tính chất phê phán đến đâu, cái hài trở thành phương tiện để khắc hoạ cái bi, nhiều lúc bi và hài đồng thời được hiển lộ trên cơ sở cái nghịch lý, bất ngờ, đồng nhất với nhau và trở nên rất khó phân định ranh giới. Có thể nói, cảm quan hài hước độc đáo của Bùi Ngọc Tấn bao trùm toàn bộ tác phẩm, nó không phải phương tiện để làm giảm nhẹ không khí đau thương, cũng không chỉ còn là kỹ năng hỗ trợ để khắc hoạ những vấn đề nội dung. Cái hài ở đây đã sánh ngang cái bi, bi thương chừng nào thì hài hước chừng ấy. Nó tạo nên một phong vị khó tả cho cuốn tiểu thuyết này. Không phải là đứng cao hơn hiện thực để cợt nhạo nó, cũng không hẳn nghiêng mình trước một thứ cao cả đẹp đẽ đã đành đoạn. Tiếng cười và giọt nước mắt của Bùi Ngọc Tấn lặn sâu vào đời sống này, vào cái đang diễn ra  (trong bối cảnh và thời điểm trần thuật của nó ), không phán xét. Một thứ hiện thực vỡ vụn, không vừa theo một hệ quy chiếu nào, đáng phải cáo chung từ lâu nhưng vẫn tồn tại như một nghịch lý.

 Tính chất vui nhộn, cái thậm xưng, dị hợm đến mức gây cười sảng khoái của ngôn ngữ dân gian được sử dụng trong tác phẩm biểu hiện rất rõ ràng trên từng trang, chúng tôi xin phép không cần đi sâu phân tích. Tuy nhiên cũng phải nói rằng, thủ pháp thậm xưng xuất hiện với tần suất không nhiều, chỉ là thiểu số, nhất là so với những thủ pháp khác sẽ được phân tích dưới đây. Điều này chứng tỏ nhà văn đã không vận dụng cảm quan phóng đại đặc thù của tiểu thuyết hoạt kê, giữ nguyên thế giới “nghiêm túc” của tác phẩm, và ứng dụng cái hài hước chủ yếu như một cảm quan ngầm, ẩn kín.

 Thủ pháp dùng nghịch lý, cái bất ngờ để tạo nên tính hài hước đi liền với giễu nhại, là lối xây dựng nhân vật chính yếu của tác phẩm. Ở cấp độ khái quát hơn, hai tuyến nhân vật đối lập về nhân cách và trên góc độ thẩm mỹ sáng tạo, tuyến xu thời và tuyến “bất cập thời” cũng được thiết lập dựa trên cảm quan nghịch đảo, giễu cợt cay đắng. Toàn bộ quan niệm hiện thực của tác phẩm được đặt trên cái nền nghịch lý, bi thương đau xót chừng nào thì hài hước chừng đó.

 Cô Huyền, cô Mơ, những ý trung nhân trong mộng của các chàng thủy thủ tàu cá Chơn, Cương bỗng chốc làm cho các vị hôn phu tương lai bẽ bàng, rã rời cả thể xác lẫn tinh thần vì những hành động, lời nói khác thường, gây sốc, máy móc đến tức cười. Các cô vừa là kẻ tội đồ, vừa là nạn nhân, không đáng bị châm biếm nặng nề, nhưng cũng  đáng thương xót, lại vừa để cho bạn đọc nhìn thấu một thực tại khác còn lớn hơn chính con người các cô. Anh Nhược thợ lạnh, Phạm Cương thuyền trưởng tàu bẹp 307, con sói biển Lê Mây, thuyền trưởng tàu cá VT 250, thuyền trưởng Trần Bôn tàu cá 414, Lập, kỹ sư ngư cụ, Điều- kỹ sư thủy sản sau làm chánh văn phòng Liên hợp, Toàn- anh theo dõi thi đua con nhà Nho học từng lăn lộn bên ngành thương mại, thuỷ thủ Thuyền bị ngồi tù “3 gậy” vì buôn lậu 4kg đá lửa, bác sĩ Bá trưởng phòng y tế sau lên tàu viễn dương phục vụ bưng bê quét dọn, anh nuôi Tích, thủy thủ Nhâm, báo vụ viên Quân  “rỗ”… hầu hết tuyến nhân vật “bất cập thời” của Bùi Ngọc Tấn đều được khắc họa bằng nghịch lý vừa hài hước vừa bi thương. Họ là những con người ngay thẳng, không màng bon chen danh lợi, tình nghĩa với anh em bạn bè, yêu nghề nghiệp và luôn hết lòng cống hiến theo khả năng chuyên môn, họ chỉ có một ước vọng bình thường, chính đáng là bao bọc cái gia đình nhỏ của mình thoát khỏi cảnh túng bấn nheo nhóc, tương lai mờ mịt, như một gánh nợ tinh thần đau xót, tủi hổ. Nhưng ác thay, họ càng tìm cách cần cù, xoay sở, giật gấu vá vai, hoặc càng tìm đường để cống hiến cho ngành nghề bao nhiêu, thì lại càng nhận được những đối xử bạc bẽo, vô lý, càng rơi vào những nghịch cảnh xui xẻo, cười ra nước mắt, bấy nhiêu. Họ là những anh chàng tử tế đã hết thời, bị đời sống vùi dập cho tơi tả, nhiều lúc bê tha, vô định. Cái lý tưởng quan liêu thụ động mà một số người trong bọn họ thực lòng theo đuổi cũng đem đến những “ngộ nhận” tức cười như anh chàng Thuyền hồi còn trên con tàu 307 lẫy lừng. Cuộc tái ngộ ly kỳ của anh thuỷ thủ nằm bờ Thuyền, với ông Việt kiều Robert Ly, té ra là bạn “dạt vòm” ngày xưa, cuộc đổi đời hụt của Thuyền từ khi có ông bạn vàng… mang phong cách giễu nhại những motiv vô tình tái ngộ bạn thuở hàn vi phổ biến trong văn hoá dân gian. Tiếng cười dành cho họ là tiếng cười cảm thông, thương xót, cay đắng, cũng là tiếng cười để kính nể cái thiện tâm trong sáng cao quý nơi họ. Lối giễu nhại type nhân vật ( nhân vật tham ăn, nhân vật anh hùng, bác học “điên”, ông nghè thất thế… ) quen thuộc, nói chính xác hơn là giễu nhại tính cách và ý nghĩa thẩm mỹ, nhưng không cường điệu, bộc lộ ý nghĩa phê phán cụ thể, rõ rệt với cái hiện thực và tư tưởng đã tạo nên những con người ấy.

 Đồng thời với việc khắc họa những nhân vật mang ý nghĩa thời cuộc, ngòi bút nhà văn đã chạm tới những điều sâu xa trong miêu tả con người. Vợ chồng bác sĩ Bá, sau khi cầm quyết định xuống tàu viễn dương, bắt đầu vay mượn để tính chuyện “đánh hàng”, dự tính mua sắm tiện nghi, lo bù trừ cho tương lai gia đình, họ mạc… đồng thời bỗng trở lại tuổi xuân, cô vợ trẻ khỏi ngay chứng bệnh tế nhị do lo toan đời sống quá sức, lại yêu đương nồng nàn hơn cả tuần trăng mật và cả hai đều cảm thấy mình có tư cách con người hẳn lên. Quan hệ giới tính xô bồ, cẩu thả… của thuyền trưởng, thủy thủ trên đường lênh đênh đánh cá, dường như sau nó còn có sự cẩu thả vô định của kiếp người. Tất cả cho thấy mối băn khoăn đau đáu của nhà văn về nhân cách, và quan trọng hơn, nhân tính.

 Tuyến nhân vật xu thời: tổng GĐ Hoàng Quốc Thắng, vua sắt vụn Quán mèo, trưởng ca Huy nghiệp vụ bí bét, sau là đại phó, rồi thuyền trưởng tàu viễn dương, Đức- trưởng phòng điều độ bến cảng, những thủy thủ dự bị như Khương, không biết nghiệp vụ nhưng con các vị tai to mặt lớn… xuống tàu chỉ để “áp phe” làm tiền, những thuyền trưởng viễn dương biết lợi dụng con tàu, chức vị để thu vén cá nhân và kẻ có quyền vừa bảo kê vừa làm luật giới có tiền đó… tất cả được miêu tả bằng sự mổ xẻ trực tiếp những nghịch lý tàn nhẫn song trùng với sự hài hước sâu cay, mà  “cái khó tin” là một thủ pháp. Tổng GĐ Thắng, Quán mèo, thuyền trưởng Huy… tất cả phất lên nhanh chóng, bất ngờ, công khai mà lại bí hiểm, khiến người ta liên tưởng tới chuyện Trạng trong dân gian, chỉ có điều bí quyết của các “Trạng” ở đây là sự nhẫn tâm và cơ hội, sẵn sàng gạt bỏ đạo lý, tình người, gạt bỏ mọi quy ước cộng đồng. Các “Trạng” cũng được miêu tả bằng nét bút có phần hoạt kê, với cái lố lăng kệch cỡm, xảo trá, thậm chí mù quáng của kẻ bỗng chốc đứng trên đầu thiên hạ. Bản thân cái nghịch lý của những điều khuất tất, tàn nhẫn, thiếu nhân tính, đáng để đau lòng công phẫn nhưng cách khác là đáng để phải cười, cười như một cách phủ định hoàn toàn chính nó cũng như phía sau, căn nguyên tư tưởng, hiện thực nào đã sản sinh ra nó.

 Cũng bằng thủ pháp giễu nhại, Biển và chim bói cá còn cập nhật một hệ thống khái niệm hài hước không chỉ chọc cười bằng sự bất ngờ, sinh động, mà còn bao hàm sự phủ định, biến hóa về mặt thẩm mỹ trong đời sống thường ngày cũng như trong văn chương: chủ nghĩa giết thịt, ăn cắp có văn học, quốc doanh đánh giậm, núp bóng cây Kơ nia, vấn đề do lịch sử để lại, “sinh hoạt”, “ nên người”, “phượng hoàng bay”…

 Sự thật, một thế hệ con người bị xóa sổ, bị tước đoạt niềm vui, hạnh phúc, tương lai để đổi lấy quyền lợi vật chất và sự xa hoa cho một nhóm nhỏ người, điều này có hài hước không? Trong miêu tả của Bùi Ngọc Tấn, đó là sự hài hước để phủ định, lên án, cái hài hước làm rõ thân phận lạc loài, đôi lúc lậm chí  bị tha hoá của nhân tính, điều lương thiện, cũng như cái hài hước để phủ nhận điều ác, bất công. Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn tiếng cười và mổ xẻ trực diện cái bi thương, nhà văn đã đẩy thể loại của mình đi xa hơn, đến tận sâu những ngõ ngách miêu tả con người, đặt ra bi kịch thời đại trong vấn đề con người, chứ không dừng ở tiểu thuyết thời cuộc luận đề bi thương hay hoạt kê.

 Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn là trường hợp hiếm gặp, khi tiếng cười cân bằng và ngang hàng với cảm hứng bi thương. Bởi vì tiếng cười thường được xem là hình thái có sau, dù bao hàm ý nghĩa phê phán triệt để nhưng ít khi được coi bình đẳng với cái bi thương, vốn là phạm trù cao cả.

 Tiểu thuyết mới của Bùi Ngọc Tấn, dù có chủ ý hay không, nhưng khá gần gũi với xu hướng đang hình thành của tiểu thuyết thế giới hiện nay, đó là khắc họa bi kịch thời cuộc từ góc độ những vấn đề con người, như nhân tính, nhân cách, tình yêu… một quan niệm sử thi về sự tan rã của đời sống có tổ chức của con người. Có thể kể đến Những kẻ thiện tâm ( Jonathan Littel, 2006 ), Bản giao hưởng Pháp (Irène Nemirovsky, công bố năm 2004 )…

 Tư liệu tham khảo:

-    F. Rabelais trong văn hoá Phục hưng, M. Bakhtin, Phạm Vĩnh Cư dịch, talawas 2006

-    Lịch sử văn học phương Tây, giáo trình ĐHSP I Hà nội, 2001.

-    Tiểu thuyết Việt nam đang ở đâu, Nguyễn Thanh Sơn, 2006

-    Các tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn của Bùi Ngọc Tấn

 

Khánh Phương (Nguồn:  vanchuongviet.org)

Những góc khuất của hiện thực

Những góc khuất của hiện thực – tọa đàm với Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

b1

Trong không khí vui vẻ nồng nhiệt ấm tính bè bạn, những người bạn thân thiết của tác giả, nhà thơ, dịch giả Dương Tường, nhà phê bình văn học Phạm Thanh Sơn, nhà văn Châu Diên, cùng nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên… và nhiều người yêu văn chương khác đã đàm luận một cách sôi nổi về chủ đề cuốn sách, về nghệ thuật viết văn của Bùi Ngọc Tấn, đồng thời, tác giả Bùi Ngọc Tấn cũng hết sức vui vẻ trả lời các câu hỏi của cử tọa tham gia cuộc tọa đàm.

b2

b3

b4Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên là MC của buổi tọa đàm này

b6

Anh Vũ Hoàng Giang, đại diện Nhã Nam phát biểu mở đầu buổi tọa đàm

b7b8

Rất đông những người yêu quý nhà văn và tác phẩm của ông đã có mặt dù ngoài trời đang mưa lất phất

b10

Cuộc đối thoại giữa hai nhà văn, hai người bạn, Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và nhà văn Châu Diên

b13Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh cũng có mặt để chia vui với bạn

b14

Dịch giả, nhà thơ Dương Tường tham gia thảo luận rất hăng say

b15

Nhã Nam xin chân thành cảm ơn tất cả các nhà văn, nhà báo và quan khách đã tới tham dự buổi họp mặt đầm ấm để thảo luận về một cuốn sách tuyệt vời và chia vui cùng tác giả của nó.

(Nguồn: Nhã Nam)

Người chăn kiến


Cái tay B trưởng ấy hoặc đã chán mọi chuyện đánh đấm, hoặc có máu hài hước. ông M vừa bị vài cú khai vị tưởng rụng quai hàm thì hắn hét bọn đàn em vây quanh ông đang nổi cơn say đấm đá:
- Thôi.
Hắn bước tới gần ông. Nhìn. Ngắm:
- Trắng.
- …
- Làm nghề gì?
Ông nuốt một bụm máu, nửa cái răng gẫy vào bụng và biết nên nói thật:
- Giám đốc.
B trưởng reo lên:
- Thảo nào. Trắng như con gái.
Rồi thật bất ngờ:
- Cho làm nữ thần Tự Do.
- …
- Tượng nữ thần Tự Do ở bờ biển Nữu Ước. Làm giám đốc mà không biết à?
Ông thoát khỏi trận đòn nhập B mà chưa ai lường hết được sự ghê gớm và hậu quả của nó. Thay vào đó ông phải khoả thân leo lên bậc thang cao nhất, giáp cửa song sắt ngăn với sân xê rom, cái sân thượng chỉ về đêm mới có lính gác. Tay ông giơ lên cao khi gói kẹo, khi quả dưa chuột ố những đồ tiếp tế của anh em tù — để làm nữ thần Tự Do. Trần truồng trước hàng trăm con mắt, thật nhục nhã, quá sức chịu đựng đối với một người từng làm giám đốc lại đã đứng tuổi như ông. ở trên ấy ông thèm được như ông già chủ nhiệm hợp tác xã dưới kia, chỉ phải bế bọc nội vụ đi quanh, hát ru em bài Bé bé bằng bông.
Ðúng là tay B trưởng này có máu đại hài hước. Trời nóng, hắn ngồi phè phẹt giữa sàn, hét:
- Hitachi!
Gần hai chục người lập tức vây quanh hắn.
- Quạt.
Tất cả quạt. Bằng tay. Nhưng mát, bay cả tóc. Hắn lại hét:
-Panasonic.
Những người trong đội Panasonic sẵn sàng.
- Quạt.
Lại còn thêm:
-Tuốc năng.
Cái vòng người Panasonic vừa quạt vừa chạy quanh hắn giống đèn kéo quân bỗng đồng loạt đổi chiều như cùng một bánh xe truyền lực.
Cô đơn khoả thân trên cao, cái nóng từ máy chàm vào người như nướng, ông M ao ước được ở trong đội quạt, nhưng ông không dám nói với ai. Ngoài những lúc đi cung hoặc học tập chính sách cải tạo, giờ chính quyền còn lại ông ngoan ngoãn đứng làm nữ thần Tự Do. Cho đến một ngày… Hôm ấy đi làm vệ sinh về, tay B trưởng bắt ra 4 con kiến đỏ bé xíu đựng trong cái vỏ bao thuốc lá. Hắn cầm mẩu gạch non khoanh 4 vòng tròn xuống nền xi măng. 12 anh tù được hắn chỉ định chia thành 3 ca chăn 4 con kiến nhỏ. Ông M không ngờ mình lại mê chăn kiến đến như thế. Công việc kì dị ngày càng hấp dẫn ông. Nó làm ông khao khát đến bồn chồn. Cho dù đó là khổ ải. Phải giữ kiến luôn ở trong vòng tròn. Trong ấy có bánh bích qui, có đường, có thịt, kiến ăn nhưng không chịu ngủ, kiến vẫn bò tìm tổ. Phải luôn tay chặn kiến lại và không được làm sứt một cái chân của kiến. Chính những điều ấy khiến ông thèm khát. Nó sẽ giúp ông quên thời gian, quên những thiên thu tại ngoại. Hơn nữa ông quá chán trò cởi truồng đứng trước mặt mọi người.
Thế là một hôm ông gặp B trưởng, chìa ra một con kiến ông vừa bắt được trong khi đi làm vệ sinh và rụt rè, ấp úng xin được chăn… B trưởng cố kìm cơn giận. Hắn miết chết con kiến và quắc mắt, hất hàm về phía sân xê rom.
Ông hiểu. Ông lại khoả thân bước lên. Nhưng ông không được làm thần Tự Do nữa. Ông biến thành con chim. Con chim nhỏ trên cành cây cao. B trưởng đứng dưới, giả cầm súng lom khom, chui lủi, rình ngắm:
- Ðoàng.
Ông phải rơi từ sát mái nhà xuống. B trưởng không bằng lòng với cách rơi giả vờ, rơi có chuẩn bị, rơi chân xuống trước ấy. Phải rơi như thật. Như bị bắn rụng thật. Hiểu chửa. Làm lại.
“Thật quá rùng rợn. Cầu mong đừng gẫy cổ, vỡ mặt, mù mắt, gẫy tay là được. Cố vượt qua. Ðể còn ra”.
Ông M đã được ra. Ông được ra sau bốn tháng giam cứu. Ông được ra bởi ông không có tội. Những người gây ra vụ án oan ức của ông đã bị kỉ luật.
Người ta đã khôi phục lại cho ông tất cả. Ông lại làm giám đốc nhưng ở một xí nghiệp tận trong Nam, để ông có thể quên được những gì vừa trải qua. Ông cám ơn cấp trên về điều tế nhị ấy.
Cũng như mọi xí nghiệp, giờ nghỉ trưa ở đây nhiều vẻ… Uống bia. Ðánh cờ tướng. Tiến lên. Làm vài séc bóng bàn. Chuyện gẫu…
Giám đốc mới không tham dự. Ăn trưa xong ông về phòng. Các vị chức sắc cũng muốn kéo ông vào cuộc vui nhưng trả lời tiếng gõ cửa là sự im lặng.
Họ bảo nhau:
- Thôi. Ðể sếp ngủ.
Chẳng một ai biết sau khi gài trái cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy ra một lọ nhỏ, trong đựng 4 con kiến. Ông thả lũ kiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên bàn. Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấy những các-vi-dít (Có rất nhiều trong ngăn kéo ố của khách và của ông) chặn chúng lại. Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc. Và khoả thân trên ghế. Ðứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giơ cao. Như kiểu thần Tự Do.

Bùi Ngọc Tấn

Vũ Trụ Không Cùng

 

Trong một đêm mất ngủ của tuổi già trằn trọc, đột nhiên ông Thuyết nhớ lại đôi mắt của con gái ông vào cái hồi nó mới ba, bốn tuổi. Suốt mấy chục năm gần như đã quên hẳn buổi tối hôm ấy, không một lần nhớ tới đôi mắt đứa con lúc nào cũng quấn lấy ông, đôi mắt khi nó nằm gối đầu lên tay ông, nghe ông kể chuyện. Thế mà đã hơn bốn chục năm. Ông nghĩ thầm trong óc. Và khẽ trở mình. Ngọn đèn ngủ toả ánh sáng yếu ớt, vàng vọt, soi rõ tấm màn trắng ở giường bên. Giường bà Thu, vợ ông. Tiếng thở đều đều của bà, ông nằm bên này nghe rõ. Cũng là vì đêm thanh vắng quá. Êm ả. Yên lặng. Gần như tuyệt đối. Không biết mấy giờ rồi. Phải quá nửa đêm. Chao. Mong sáng quá. Ông nằm im và nghĩ tới đứa con gái. Bây giờ nó đã ngoài bốn mươi. Hơn mình cả chục tuổi vào cái hồi vợ chồng mình sinh nó. Nó cũng đã quá nửa đời người. Còn mình sắp hết đời. Cuộc đời đúng là vó câu qua cửa sổ. Con bé Phương ngày ấy bây giờ đã là một bà mẹ ba con, sắp có dâu có rể, đầu tắt mặt tối ngoài chợ, luôn tay với những quầy hoa quả, khi xịt nước, khi bầy lại, xếp lại, khi đặt lên đĩa cân rồi nhặt vào túi cho khách. Suốt ngày trong tiếng ồn ào, cái ong ong của không khí, của tiếng động. Thằng chồng nó mê gái, hai vợ chồng ly dị, một mình nó nuôi dạy con. Ông lại nói thầm một mình: Thật chẳng ra sao cái kiếp người.

bnt4Bùi Ngọc Tấn : ảnh chụp trước Cửa địa ngục của Rodin, Paris, 2004

Ông thương con gái. Ông nhớ đến những ngày nó còn bé. Và thế là vụt nhớ đến buổi tối hôm ấy, khi nó nằm gối đầu lên tay ông, nghe ông kể chuyện. Đôi mắt con bé con hiện lên, kéo về tất cả những gì liên can đến nó. Đó là một tối mùa hè. Bà Thu vợ ông phải lên cơ quan, nghe đọc báo. Cứ tối thứ năm hàng tuần, tất cả cán bộ công nhân viên các cơ quan đều phải tập trung nghe đọc báo. Bà lấy xe đạp ra đi. Còn lại ông và con Phương. Thật may là ông làm ở một đơn vị thuộc ngành hàng hải, vin vào lý do nghề nghiệp, không thể tuân theo giờ giấc chính quyền nên được ở nhà. Hai bố con ngong ngóng chờ mẹ về. Rồi chơi trò bán hàng. Vẽ chó, vẽ ỉn. Cuối cùng là kể chuyện. Chuyện Tấm Cám. Chuyện Thạch Sanh đàn kêu tính tịch tình tang, ai mang công chúa dưới hang về lầu. Con bé nghe đã nhiều lần nhưng vẫn luôn miệng hỏi về con cá bống của cô Tấm, về con mãng xà vương mà Thạch Sanh vung búa chặt đầu, còn ông luôn tay quạt cho con. Thế rồi ông bỗng thấy con gái không hỏi nữa. Ông vẫn kể, còn con bé con cứ nằm im, không cựa quậy. Mới quay sang nhìn thì thấy nó nằm đờ đẫn, hai chân hai tay thả lỏng trên giường, mi mắt đang khép lại. Ông hơi nhấc đầu dậy để nhìn vào khuôn mặt con lúc nó đang đi vào giấc ngủ. Điều nhớ đến tận hôm nay, điều làm ông bỗng đêm nay nhớ lại chính là đôi mắt con Phương. Đôi mắt mới chỉ hơi khép, con ngươi nhỏ đi đôi chút, đôi mắt trong leo lẻo, tinh anh bỗng trở thành đờ đẫn đang khép nhỏ dần, nhỏ dần cho tới khi hai hàng mi rợp vào nhau. Con bé đã ngủ.

Đôi mắt của đứa con gái nhỏ trở về ám ảnh ông. Bây giờ về già ông mới hiểu khi người ta đi vào giấc ngủ là như thế, dù có người thân ở bên cũng hoàn toàn chỉ một mình. Như khi người ta đi vào cõi chết. Dù có bao người ở bên cũng là chỉ một mình. Thiếp đi. Thiếp đi một đêm cũng như thiếp đi không bao giờ trở dậy. Chẳng ai có thể chen vào. Chẳng ai có thể giúp đỡ. Chẳng ai có thể cùng đi. Dù là những người thân yêu nhất. Chỉ một mình đơn độc. Ông sợ lúc ấy. Lúc cô đơn đi vào cõi ấy. Cũng như bây giờ ông sợ những đêm dài của tuổi già trằn trọc, thật khó khăn để ông cô đơn đi vào giấc ngủ.

Đã không ngủ được thường hay nghĩ ngợi nhiều chuyện. Ông nhớ đến ngôi nhà của bố mẹ khi ông còn bé tí, ngôi nhà đã bị Tây đốt từ lâu, hồi cải cách nền đất, sân vườn đã đem chia cho nông dân, và khi có chủ trương sửa sai, bố mẹ ông không được nhận lại. Ông nhớ đến những trận mưa rào đầu mùa, chạy ra sân bắt cá rô rạch, đến đám bọt trứng chão chuộc vừa đẻ đêm qua trắng xoá bám vào góc bể. Và trong bể nước mưa đầy, con chão chuộc mẹ thấy người, lặn xuống, hai chân dài nâu bóng đạp nước mưa trong vắt như một tay vô địch về bơi lội. Thật là những sự kiện tưng bừng.

Bố mẹ ông đã mất từ lâu. Ngôi nhà không còn nữa. Mảnh vườn, cái ao cũng biến đổi hoàn toàn. Mỗi lần về quê, ông không dám trở lại đấy, nơi chôn nhau cắt rốn của ông. Nó làm ông buồn. Với lại những người được chia quả thực, những chủ nhân một thời là mới của cơ ngơi ấy cũng đã chết, đã đi nơi khác. Ngôi nhà đã qua bao chủ và giờ đây là con cháu họ. Họ chẳng biết ông là ai cũng như ông không biết họ là ai. Thật đúng là vật đổi sao dời. Thôi thì cứ có một ngôi nhà tuổi thơ trong tưởng tượng. Chỉ đến khi ông chết ngôi nhà ấy mới không còn nữa.

Ông sợ chết. Cái chết chẳng tha một ai. Chỉ một điều an ủi là ai rồi cũng phải chết. Ông buồn. Vì nghĩ nó đang chờ đón ông và cả bà nữa. Đã có lần ông bảo bà:

– Đằng ấy phải chết sau tớ. Vì đằng ấy chu đáo quá.

Ông đã nghĩ đến ngày giỗ ông sau này rồi đấy. Và thỉnh thoảng hai ông bà vẫn mình mình tớ tớ như vậy. Đôi khi còn gọi nhau là đồng chí nữa. Cách xưng hô suốt thời gian trẻ trung, sôi nổi những khi phấn khởi quý thương nhau. Chẳng hạn như trở dậy từ giường mình, bà nhẹ nhàng bước tới giường ông, vén màn trườn vào nằm sát cạnh ông. Ông nằm nghiêng quay người ôm lấy bà nhè nhẹ và bà cọ người vào người ông, suốt từ bàn chân tới vai ông, nơi bà áp má vào:

– Đêm qua đồng chí có ngủ được không?

– Ngủ tốt.

– Em ngủ không biết giời đâu đất đâu.

Rồi bà trở lại nằm ngửa song song bên cạnh ông. Ông lấy cạnh bàn chân khẽ chạm vào gan bàn chân bà. Những bàn chân biết nói. Tiếng nói im lặng suốt một thời trẻ trung nay vẫn nhớ như in. Bà biết phải làm gì. Bà biết ông muốn bà gác một chân lên chân ông. Bà đã làm như ông bảo và chờ một mệnh lệnh tiếp theo. Bàn chân ông lại chạm tiếp vào bàn chân bên kia của bà. Bà ngoan ngoãn nhích một chân nữa ra phía mép giường, hai chân làm thành một góc rộng. Như suốt mấy chục năm bầu bạn cùng ông, bà đã làm như vậy. Như khi bà mới hai mươi tuổi. Nhưng không giống hồi hai mươi tuổi, khi ông đặt tay lên nơi giữa hai chân xoè rộng, bà nằm im trong nỗi sung sướng rạo rực đợi chờ, giờ đây bà nắm tay ông nhè nhẹ, giữ bàn tay ông trong hai bàn tay mình. “ Thôi. Ích gì đâu…” Hai bàn tay bà dịu dàng nói vậy. Ông hiểu và để nguyên tay mình trong tay bà. Cả hai đều ngấm sức mạnh của thời gian. Những ngày trẻ trung như vừa mới qua đây thôi. Những ngày đêm trăng mật kéo dài năm tháng. Cái động tác bà trườn lên nằm cạnh ông vẫn giống hệt những ngày xưa, dù không còn vẻ hớn hở rạng rỡ của lòng ham muốn. Nhưng vẫn thương yêu như thế. Vẫn đằm thắm ngoan ngoãn, hoàn toàn thuộc về ông, sát gần ông như thế. Vẫn là những ngôn ngữ ấy của cơ thể dù chỉ là cái chạm khẽ của cạnh bàn chân. Dù hai cơ thể đều đã méo mó, biến dạng, thảm hại đến nỗi cả hai không dám nhìn vào nhau lúc ấy. Ngày xưa chẳng bao giờ hai người lại ngủ hai giường như thế này. Như mọi cặp vợ chồng trẻ đầu gối tay ấp khác, gần như đêm nào cũng là đêm ân ái mặn nồng. Bà bao giờ cũng là người tắt đèn và lên giường sau ông. Khi thay quần áo, để vận vào người những thứ xấu xí, vá víu chỉ mặc lúc đi ngủ, bà biết sau tấm màn xô, ông đang ngây ngất nhìn thân hình trẻ trung thon thả căng mọng sức sống của bà. Nhiều khi trời rét, bà cũng chẳng mặc quần áo và cứ khoả thân như thế trườn vào chỗ ông nằm. Bà biết ông đang chờ đợi bà, và trong tấm chăn bông, cũng hoàn toàn khoả thân, ông nằm nghiêng, một tay nhấc cái chăn lên đón bà. Người ông ấm sực áp lấy bà, truyền hơi ấm cho bà. Hai người cảm thấy hết vẻ đẹp thân thể và ngọn lửa trong nhau. Tuyệt vời thay là khi người ta còn trẻ. Người ta có thời gian trước mặt. Người ta có sức khoẻ. Người ta chẳng nghĩ ngợi gì nhiều. Người ta có tất cả để cho nhau, để động viên nhau sống, vượt qua những khó khăn. Và để cùng nhau tới thiên đường.

Có mấy ngày hai người không cùng nhau tới thiên đường. Cuộc tình bắt đầu khi ông là một chàng trai hai mươi bẩy tuổi và bà Thu là một cô gái hai mươi. Gia đình không đồng ý cho bà lấy ông vì ông thành phần địa chủ. Nhưng không gì ngăn được cô gái hai mươi lần đầu yêu và được yêu. Bà nói dối mẹ rằng bà đã trao thân cho ông và giờ đây không thể lấy một người nào khác. Sáng kiến ấy của bà đặt các cụ trước việc đã rồi. Sáng kiến ấy khiến ông hiểu bà nặng lòng với ông nhiều lắm. Tràn ngập tình yêu và lòng biết ơn, ông ôm bà, bế bổng bà lên: “Đừng vu oan cho anh. Chỉ khéo nói điêu thôi. Bây giờ phải chữa ngay cái bệnh vu khống đồng đội đi!”

Bà sẵn sàng chữa bệnh vu cáo ông một khi bố mẹ đã đồng ý cho bà lấy ông, không những thế lại còn giục gia đình ông sang làm lễ ăn hỏi rồi cưới cho nhanh. Hai người yêu nhau ban ngày và ông thấy bà mới đằm thắm, tuyệt vời và kỳ diệu làm sao. Vừa e thẹn, lại vừa như vẫn chờ đợi từ lâu. Rồi bà khóc. Khóc vì hạnh phúc. Ông ôm lấy bà, gọi bà là quả bom nổ chậm khiến bà bật cười.

Chỉ một lần ấy trước khi cưới thôi. Bà bảo bà chiều ông vì bà không muốn làm kẻ vu cáo. Vì ông bảo bà là quả bom nổ chậm. Với lại đám cưới tổ chức cũng chỉ mươi ngày sau đó.

Tuần trăng mật. Cuộc sống sau ngày cưới là tuần trăng mật kéo dài cùng năm tháng. Thời ấy rất khó khăn. Khái niệm du lịch không có trong đầu mọi người cũng như trong đôi vợ chồng trẻ. Nhưng họ đâu cần gì nhiều. Chỉ một khoảng không gian riêng. Khi đi làm về, khép cánh cửa buồng, được hoàn toàn tự do với nhau, cái diện tích hai mươi mét vuông, nền đá hoa đã bị ghẻ nhiều chỗ nhưng lúc nào cũng được lau bóng ấy là tất cả các nơi nghỉ danh tiếng trên thế gian này cộng lại. Còn hơn thế. Bởi vì cộng tất cả những danh lam thắng cảnh lại cũng chẳng phải thiên đường. Còn đây, thiên đường đang trong vòng tay họ. Đã có lần ông gọi bà là thiên đường của ông và khi bà bĩu môi thì ông nói thêm ông biết chỗ nào là cánh cửa thiên đường, và ông có chìa khoá mở cánh cửa ấy. Và bà đã thưởng cho ông một chuyến đi tới thiên đường. Giờ đây ông mới hiểu thế nào là sống một cách đầy đủ, trọn vẹn. Phải là cuộc sống lứa đôi, có vợ có chồng. Ông thương những cặp vợ chồng ly thân. Ông không thể hình dung hai vợ chồng lại có thể ngủ riêng và không cùng nhau làm chuyện ấy. Như vậy cuộc sống không còn là cuộc sống. Không thể gọi là cuộc sống nếu thiếu đi chuyện gối chăn. Đó là món quà tặng diệu kỳ của tạo hoá. Như ông, cuộc sống sẽ là gì nếu thiếu đi tình yêu của vợ ông, thiếu đi cái cơ thể con gái, cơ thể đàn bà tuyệt vời của vợ. Điều đó làm tăng thêm tình yêu giữa hai người. Cả khi đã trên dưới năm mươi.

Đến nhà những người bạn lớn tuổi, ông biết vợ chồng họ ngủ riêng. Mỗi người một giường. Cũng là qua câu chuyện thôi, họ nhắc tới một cách thản nhiên như cuộc đời khi về già tất yếu phải như vậy. Ông thấy buồn cho họ. Thương họ. Chẳng lẽ hành trình đời người là như thế. Bắt đầu là chỉ có một mình. Lớn lên là cuộc sống có đôi. Rôi khi về già lại chỉ một mình dù vẫn hai người. Đận một mình này để chuẩn bị cho sự xa nhau vĩnh viễn. Khi chết là chỉ có một mình. Cũng như khi ngủ chỉ có một mình. Ông chống lại chuyện ấy. Không, dù hai vợ chồng ông đã già, ông cũng vẫn không ngủ riêng. Làm như vậy là công nhận cuộc đời đã chấm hết từ đây, là sắp chết chứ còn gì.

*

Ông không nói cùng bà nhưng bà cũng hiểu được ý ông. Thì đã cả đời chung sống, con sống có, con chết có, chia sẻ cùng nhau mọi chuyện vui buồn, mọi gian lao vất vả, làm gì phải nói thành lời mới hiểu nhau.

Hai người vẫn nằm ngủ bên nhau, vẫn cọ bàn chân vào nhau, vẫn hiểu từng tiếng nói của cơ thể, vẫn nói cùng nhau thứ ngôn ngữ lặng câm ấy, nhưng cũng chỉ là ôn lại một câu chuyện cũ đã xa lắm mà thôi. Họ không nhớ được lần họ yêu nhau cuối cùng là bao giờ nữa và một lần cả hai cùng muốn thử lại chuyện ấy. Như một sự vùng lên kháng cự. Và cũng là để ghi nhớ chính xác ngày tháng của sự kết thúc. Thế thôi. Nhưng lẽ ra họ không nên làm như vậy. Không nên. Bởi vì thất bại. Dù hai người đã cố gắng hết sức nhưng vẫn thất bại thảm hại. Một phế tích và một phế đô! Họ biết họ đã bị giằng khỏi vòng tay nhau rồi.

Bà xót xa cho ông khi đi chợ về thấy ông đang nửa thức nửa ngủ trong chiếc ghế xô pha. Ngả người trên chiếc ghế mây đã rách, mắt ông đờ đẫn nhìn vào cái ti vi không bật. Một khi ta nhìn chăm chăm vào cái ti vi không bật thì màn hình mầu xám đục của nó bỗng giống như một con mắt chết. Hai con mắt sống nhìn vào một con mắt chết đang trân trân nhìn lại.

Bà đưa gói quà cho ông. Bà mua quà cho ông như người mẹ mua quà cho con nhỏ. Ông hỏi bà:

– Bà có nhớ cái lần hai vợ chồng bị sốt xuất huyết rồi sau đó ông đèo bà về quê ra không nhỉ?

– Nhớ. Nhớ. Cái lần ông bắt bà ăn phở chứ gì?

Ông cười:

– Ngày ấy khổ quá nhỉ.

Ngày ấy thấy khổ, nhưng bây giờ nghĩ lại thấy vui vì đó là một kỷ niệm đẹp. Ngày ấy từ quê ra, đèo nhau qua hiệu phở, ngửi mùi thơm ngào ngạt, quyến rũ, hai vợ chồng cùng thấy đói, thấy thèm và bảo nhau vào ăn phở. Nhưng khi lục túi chỉ con ba trăm. Đúng một bát phở chín. Không hơn. Ai ăn? Bà bảo ông ăn vì trông ông gầy quá. Ông bảo bà ăn. Bà bảo thế thì không ai ăn cả. Cùng về. Nhưng ông biết bà đã nhịn thèm nhịn nhạt, nhường chồng con bao nhiêu năm rồi. Ông quát lên khe khẽ, bắt bà phải ăn. Bà vâng lời ông. Ông còn dặn bà: Nửa bát đầu cứ thế ăn, nửa bát sau hãy cho chanh ớt. Như vậy em được ăn hai thứ phở. Bà ngoan ngoãn bước vào hiệu. Ông đứng ngoài vỉa hè với chiếc xe đạp chờ bà.

Cầm gói quà bà đưa, ông nhớ lại những chuyện từ ngày nảo ngày nào. Ông thương mình. Ông thương vợ. Lại càng xót thương khi thấy bà ngồi lục lọi các thứ bỏ đi trong đống hòm xiểng, giẻ rách, quần áo cũ, lôi ra một gói ni lông vuông vức, quấn rất chặt mà chính bà cũng không biết là gói gì. Thì ra hai bánh xà phòng giặt Liên Xô 72%. Bà chìa cho ông:

– Ông xem. Em quên bẵng đi này. Xà phòng dạo ấy mình nhập rau câu cho Cá Hộp được mua đối lưu đây.

Lục lọi sắp xếp lại tủ, lần tìm các giấy tờ là thú vui của bà. Bà reo lên khi tìm thấy tờ đăng ký kết hôn của hai ông bà và ngơ ngác hỏi ông:

– Sao có ai viết bậy vào đây nhỉ?

Hai ông bà cùng châu đầu vào dòng chữ nguệch ngoạc như gà bới viết bằng mực tím bên lề tờ giấy đã ngả mầu vàng: Giường ba xà 1. Màn đôi 1. Chợt ông reo lên:

– Mậu dịch ghi đấy. Phải đem đăng ký kết hôn tới mậu dịch mới mua được màn, được giường. Mình không nhớ à?

Sau hồi ức này hai ông bà cùng hiểu ngay khi nhìn dòng chữ ghi ở tờ giấy khai sinh của con gái: Bô một chiếc. Phải mang bản chính giấy khai sinh tới cửa hàng, mậu dịch mới bán cho một chiếc bô có nắp. Và chỉ được mua một lần.

Cuộc sống thật vất vả khó khăn nhưng dù sao cũng vẫn tuyệt vời. Khi người ta trẻ người ta dễ dàng vượt qua tất cả. Nhất là lại có một người bạn đời cùng mình chia ngọt sẻ bùi, chia sẻ đắng cay. Tình yêu nồng cháy ngày xưa giờ đây thay bằng nỗi xót thương nhau, bởi vì cuộc đời họ chẳng được hưởng mấy thú vui, ngoại trừ tình yêu của họ. Sự đam mê và cho nhau tất cả ấy không còn nữa. Cái kết thúc đang đến gần. Hai ông bà cùng hiểu họ sắp phải xa nhau vĩnh viễn và không chịu công nhận điều ấy. Họ không chịu ngủ riêng như những cặp vợ chồng già khác. Vẫn là nằm cạnh nhau, với những tiếng nói không thành lời, thứ ngôn ngữ của cơ thể. Dù chỉ là gợi lại những kỷ niệm xa vời. Rõ ràng đấy là sự ương bướng cố chống lại quy luật. Bởi vì sau đó cả hai cùng nằm nghiêng quay lưng vào nhau để đi vào giấc ngủ. Thói quen nằm nghiêng quay lưng vào nhau chẳng biết hình thành từ bao giờ nữa. Có lẽ do cái mùi của thời gian lưu cữu trên da thịt họ, trong tình yêu của họ. Lại còn bao điều bất tiện khác. Như cái đồng hồ sinh học của hai ông bà giờ đây trái ngược nhau: Bà nằm xuống giường là ngủ nhưng lại dậy rất sớm, thường là từ ba bốn giờ sáng, còn ông ngược lại. Lúc bà thức là lúc ông ngủ ngon. Lúc bà ngủ ngon là lúc ông thao thức và cố gắng nằm yên để bà ngủ. Đó là chưa kể tiếng ngáy của ông. Tiếng ngáy mà những lúc vui bà bảo chỉ có bà chịu được mà thôi. Bởi vậy khi bà bị một trận ốm tưởng chết, phải ngủ riêng cũng là bắt đầu một thời kỳ mỗi người một giường kéo dài cho đến tận hôm nay. Và cả hai cùng thấy được nằm một mình thật dễ chịu biết bao. Tha hồ vật vã giở mình, tha hồ nghĩ ngợi, tha hồ thao thức, tha hồ ngáy cũng như dậy đi tiểu đêm, chẳng ảnh hưởng đến người khác.

Dù đã ngủ riêng nhưng thỉnh thoảng bà vẫn trườn vào giường ông chốc lát, lúc trước khi đi ngủ hoặc buổi sớm mai ngủ dậy. Để được cọ vào người ông. Để được nghe thứ ngôn ngữ từ bàn chân ông và đáp lại bằng tiếng nói của chân bà. Rồi ai lại nằm giường người ấy. Nằm im. Hoặc bỗng nhớ ra chuyện gì thì nói. Thường là những chuyện trên báo chí. Như đêm nay, tắt đèn đã lâu, tưởng đã ngủ rồi, ông bỗng bảo bà:

– Ti vi vừa đưa tin một vũ trụ mới đang hình thành cách quả đất mười ba tỉ năm ánh sáng.

Không biết bà đã ngủ chưa mà không lên tiếng. Ông lẩm bẩm một mình:

– Mười ba tỉ năm ánh sáng. Khủng khiếp quá. Chẳng biết ngoài cái mười ba nghìn triệu năm ánh sáng ấy là gì? Cứ cho là một vũ trụ nữa đi. Thế ngoài cái “vũ trụ nữa” ấy? Lại ngoài nữa? Ngoài nữa…

Giường bên, tiếng bà thở đều đều.

Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ trụ không cùng.

 

 

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.