Đi Nhật

Đ i    N h ậ t

 Biển Và Chim Bói Cá là tập tiểu thuyết thứ 5 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ba quyển tiểu thuyết đầu (Hoa Cau, Làn Sóng Thứ Nhất, Hải Đăng) viết những năm 60 thế kỷ trước bị tịch thu khi còn là bản thảo. Quyển tiểu thuyết thứ tư Chuyện Kể Năm 2000 in xong chưa phát hành đã bị tịch thu. Biển Và Chim Bói Cá, là  tập tiểu thuyết duy nhất được in và phát hành mà không xẩy ra sự cố gì.

Diễn Đàn Forum đã phỏng vấn Bùi Ngọc Tấn: “Nếu chỉ nói một câu về Biển Và Chim Bói Cá, ông sẽ nói gì?”

Bùi Ngọc Tấn trả lời: “Đây là sử thi về sự tan rã.”

Được sự đồng ý của Bùi Ngọc Tấn, Diễn Đàn đã đăng một chương trong tập tiểu thuyết thứ 5 BVCBC của ông.

 

 

Khối phòng ban cũng đã có người được xuống tầu vận tải ngoại thương. Điều ấy thổi một luồng không khí phấn khởi trong các hàng chức sắc – chỉ trong hàng chức sắc, nghĩa là trưởng phó phòng ban thôi – ít nhiều họ đều thấy một tương lai hứa hẹn đang chờ trước mặt. Nhất là khi sếp chánh tuyên bố: Rồi đây không cứ gì trên bờ dưới nước, bất kỳ ai công tác lâu năm trong xí nghiệp có nhiều đóng góp sẽ lần lượt được xuống tầu đi nước ngoài. Người bảo lãnh đạo đã có một tư duy mới, người bảo thật có lý có tình, người bảo chắc sếp cũng thấy bất công quá, chướng quá, anh em kêu quá… nên mới có chủ trương như vậy. Chẳng biết do đâu nhưng tất cả đều có quyền hy vọng. Thật không ai ngờ người đầu tiên thuộc khối phòng ban xuống tầu đi nước ngoài lại là Nông Đức Bá, vị bác sĩ trưởng phòng y tế, người đã cấp cho Quân rỗ và Lê Mây tám chai canh kí na để hai bợm rượu đã cơn thèm.

Nhận hộ chiếu và quyết định xuống tầu, sau khi bàn giao công việc cho phó phòng, Bá lao vào việc chạy tiền. Người ta bảo tối thiểu cũng phải có mười lăm, hai mươi vé. Một món tiền khổng lồ. Đào đâu ra bây giờ. Bá về Thái Nguyên, gặp mẹ, năm ấy cũng đã già lắm rồi. Vụng Thanh Giang trên dòng sông máng ngày xưa nước đầy ăm ắp nay cạn tới đáy, cỏ mọc xanh um. Qua ấp. Rẽ vào một con đường mòn dọc theo thung lũng giữa hai ngọn núi cao, tới một quả đồi xoai xoải… Bước vào ngôi nhà thuở nhỏ. Vẫn như xưa. Nhưng hình như tất cả đều bé đi. Từ căn nhà, đến cái vườn, đến sân và cả cái giếng ở góc sân cạnh bếp. Đất cũng bạc mầu hơn. Nương sắn bên nhà còi cọc khẳng khiu trên những luống đất trơ sỏi. Mẹ đã già lắm. Vợ chồng anh Vận, anh cả cũng già. Còn lũ trẻ con anh Vận, Bá không thể nhận ra. Đứa nào cũng cao, cũng đen, bẩn thỉu và gầy nhẳng. Bá nhớ đến một bài báo anh đọc trong đó có câu: Chúng ta làm rất nhiều cho nông dân, nhưng nông dân không hiểu chúng ta đã đem lại cho họ những gì. Anh đã cười thầm khi đọc bài báo ấy. ở đâu không biết chứ tại Phú Bình này cuộc sống chẳng khác trước là bao. Đúng là nhà anh bây giờ đã có màn che muỗi, nhiều nhà có loa truyền thanh, có xe đạp, những thứ trước cách mạng không hề có. Nhưng hãy nhớ rằng hơn bốn mươi năm trôi qua rồi. Chẳng lẽ để thấy được sự ưu việt của hôm nay lại cứ phải so sánh với nạn đói khủng khiếp năm 1945, khi nước ta phải chịu hai tròng áp bức là Pháp và Nhật, mà cái nạn đói năm ấy cũng chỉ là đỉnh điểm của một giai đoan cực kỳ tăm tối.

Năm nào giỗ bố Bá cũng về quê. Khi đi một mình. Khi cả vợ. Năm nào anh cũng chuẩn bị sẵn, đem về mấy cân cá khô (quê anh gọi là cá mắm) và nhiều ít thế nào cũng phải có dăm lạng, một cân mực khô, những thứ mà dân cả vùng, dễ đến cả huyện, chưa ai được nếm qua. Anh biết đó là những món quà cực kỳ giá trị, không những thế còn là nguồn dinh dưỡng, nguồn đạm tăng cường sức khoẻ cho những người thân. Ngoài ra còn mấy gói bánh kẹo mua ở phòng đời sống xí nghiệp để mẹ anh chia ngay cho trẻ nhỏ, trẻ nhỏ nhà anh và trẻ nhỏ nhà hàng xóm. Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác: Những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về. Không. Không chỉ có vỏ. Có một lon nước ngọt còn nguyên. Dành cho mẹ. Và một lon bia dành cho anh Vận. Kết quả của hai lần xuống hai tầu vận tải ngoại thương, khi thuyền trưởng đem bia và nước ngọt ra mời, anh đã làm ra vẻ rất tự nhiên, cười vô tư và khảng khái: Hôm nay bị đầy hơi, chỉ xin thuyền trưởng chén trà thôi. Còn cái này xin phép thuyền trưởng mang về, lúc khác uống. Thực ra có phải bụng dạ làm sao đâu. Mà nó nằm trong kế hoạch của anh. Phải đem được ít nhất một lon bia, một lon nước ngọt về cho mẹ, anh Vận và lũ cháu.

Anh mở lon nước ngọt, rót ra cốc. Cả nhà tròn mắt nhìn những bọt nước thẫm mầu nẩy lên lách tách như mưa trong cốc. Mẹ uống một ngụm. Mẹ bảo ngon rồi đưa cho cả nhà nếm mỗi người một ngụm. Còn khoản bia. Anh Vận nhăn mặt. Anh Vận bảo khai. Khó uống lắm. Mấy đứa cháu uống thử. Đứa bảo ngon. Đứa bảo giống nước đái bò. Cái sự uống nước trong lon chỉ là để cho biết thôi. Điều chính là những cái vỏ lon cơ. Những cái vỏ lon óng ánh với những chữ in đẹp như tranh vẽ. Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có  hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước. Và đến khi lũ trẻ được sờ tay vào những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội. Chúng lăn trong nhà. Rồi chúng đem ra sân. Những chiếc lon rỗng khi lăn phát ra những tiếng động chưa từng được nghe thấy bao giờ. Lăn cho cái xanh chạm vào cái đỏ. Lăn cho cái vàng vấp vào một hòn sỏi dựng đứng lên xoay mấy vòng rồi đổ kềnh. Lăn từ góc sân này sang góc sân kia. Lăn chán thì bóp ngang hộp. Lạ quá. Bóp ngang nó móp lại. Bóp cái nữa nó lại phồng ra. Khi móp lại hay phồng ra nó đều kêu răng rắc. Nó kêu mới to chứ. Như người bắn súng. Như người vỗ tay. Tiếng kêu khi lăn, khi bóp cùng với tiếng reo hò chỉ trong chốc lát kéo lũ trẻ con cả xóm lại, đứng chật một đầu sân. Như xem một buổi biểu diễn văn công. Như xem một nhà giết lợn. Chúng đứng đấy nhìn. Thèm. Không một đứa nào dám ngồi xuống chạm tay vào những cái vỏ đồ uống như vàng như ngọc lấp lánh ánh mặt trời cả một lượt kia. Còn mấy đứa trẻ nhà anh cứ vênh mặt lên, đến nỗi Bá phải bảo: Các cháu ơi! Cho các bạn chơi với.

Anh Vận giết một con gà sống thiến làm cơm cúng bố. Bá ở nhà một đêm. Tất nhiên là đêm ấy anh chẳng thể nào ngủ được. Anh biết trách nhiệm của anh sắp tới thật nặng nề. Ngoài trách nhiệm đối với vợ con vẫn chưa thoát khỏi khó khăn vất vả nhưng cũng còn hơn nhiều lần cuộc sống hiu hắt của mẹ, của anh chị Vận và lũ cháu ở quê. Phải làm sao để mẹ được hưởng một chút gì đó trước khi nhắm mắt, không phải chỉ là mấy con cá khô, gói bích quy, hoặc cân đường. Bố chết, anh biết ngày mẹ ra đi theo bố gần lắm rồi. Mỗi ngày qua là khúc đời còn lại của mẹ ngắn đi một ngày. Phải giúp anh chị các cháu thoát khỏi cảnh nghèo, cảnh lạc hậu này. Sau khi bố mất, anh Vận đã bỏ học ở nhà, làm công điểm cho hợp tác để anh tiếp tục theo học. Mảnh bằng anh có được đâu phải của riêng anh. Mảnh đất này với anh là ơn sâu nghĩa nặng. Đêm nằm, anh thầm thì với vong linh bố mà anh cảm thấy như đang ở đâu đây: Con là Nông Đức Bá được xí nghiệp cho xuống tầu nước ngoài hôm nay về quê thăm mẹ. Con cầu xin bố là Nông Đức Thắng sống khôn thác thiêng phù hộ độ trì cho con gặp nhiều may mắn. Con đi kỳ này là tìm đường cứu gia đình. Mẹ, anh chị Vận, các cháu sống khổ quá. Phận làm con, con không giúp đỡ được mẹ già, thật là bất hiếu…

Trở về Hải Triều, anh và vợ bàn nhau giải quyết vấn đề thật đau đầu. Lấy đâu ra hai chục vé bây giờ. Người ta nói đấy là số tiền giắt lưng tối thiểu. Còn những người làm ăn lớn phải năm mươi bẩy mươi vé. Vợ anh người Thuỷ Nguyên, một cô dân quân xinh đẹp, đảng viên, thời chống Mỹ các chiến sĩ pháo binh trên trận địa đầu làng ai cũng có cảm tình, những lúc rảnh rỗi người nọ nối người kia từ trận địa vào làng, tới nhà trò chuyện. Nhưng tất cả đều đã lần lượt hy sinh như đã lần lượt đến nhà cô mà không nói được điều định nói. Cô dân quân, kiện tướng làm bèo hoa dâu một thời ấy thì họ hàng có ai buôn bán mà hỏi, mà vay giật. Nhưng cả hai vợ chồng thật không ngờ. Chưa phải đi vay đâu cả đã có trong tay hàng cây vàng! Toàn là của những người gửi nhờ mua đồ. Người nửa chỉ, người một chỉ. Người nhờ mua cái quần bò cho con giai. Người nhờ cái áo lông cho con gái. Người mét nhung bò liếm cho vợ. Người bạo dạn, liều lĩnh thì nhờ mua cái quạt cũ, thậm chí một cái ra đi ô cát xét cũ một cửa băng… Toàn những người thân. Toàn những cảnh rách. Những tài sản tích cóp được không biết từ bao giờ, bằng cách nào. Nhận mà lo. Bởi nhẩm tính ra những hàng phải mua hộ này đã chiếm gần hết tiêu chuẩn của một chuyến rồi. Nhưng ai gửi cũng nhận. Nhận đã. Sau sẽ tính. Nhận và ghi cẩn thận. Để khỏi nhầm, khỏi quên. Đang cần vốn. Thấy Bá dễ dãi, người gửi xuýt xoa cám ơn. Bá chỉ cười: Phải một vài chuyến đấy nhé. Người gửi chứa chan hy vọng: Vâng. Bao giờ cũng được. Anh nhận cho là quý rồi. Chưa xuống tầu, Bá đã thấy cuộc sống của mình thay đổi. Trước đây nhà anh có ai lui tới mà nay người ra người vào tấp nập.

Có vẻ nhiều nhiều nhưng khi kiểm lại vẫn chẳng được bao nhiêu so với con số hai mươi vé phải có. Bá gặp Đay, người cũng được quyết định xuống tầu cùng một đợt, than thở. Vốn mang ơn Bá khi thằng út bị viêm phế quản, sốt cao, thở khò khè được Bá cứu sống, Đay cười:

-Có việc cỏn con thế mà không giải quyết được thì làm ăn cái gì. Đi buôn quốc tế sao nổi. Ông cần bao nhiêu?

Bá lúng túng:

-Gần hai mươi vé.

-Sao lại gần hai mươi?

-Nhà cũng chuẩn bị được mấy vé rồi.

-Cứ cho là nhà có năm trăm đi. Thế định chỉ đem đi hai mươi vé thôi à? Có mà ăn cám. Riêng tiền đóng góp đã năm trăm rồi.

Bá giẫy nẩy:

-Sao bảo mỗi chuyến chỉ ba vé?

Đay xuỳ:

-Ba trăm là đi Xinh, đi Hồng Kông. Đi Nhật tối thiểu phải năm vé. Tối thiểu đấy.

Bá hoang mang. Năm trăm đô la. Năm triệu. Buôn cái gì lãi năm triệu để đóng góp? Vậy mỗi chuyến phải lãi tối thiểu mười triệu. Đóng góp gì ghê gớm thế? Năm triệu là một năm tiền lương của anh. Tầu ba chục người. Mỗi chuyến ngồi chơi nhận một trăm năm mươi triệu.

Như đoán được ý nghĩ của Bá, Đay giải thích:

-Không phải sếp ăn cả chỗ ấy đâu. Rải nhiều nơi lắm. Công an, hải quan. Rồi tiếp khách. Rồi tổ chức. Rồi ông bí thư. Tất nhiên là những đồng chí này ít thôi. Nhưng cũng là tiền. Còn bộ. Còn uỷ ban…Liên khúc mà. Cứ phải ba mươi vé là ít bố ạ!

Bá không giấu được vẻ lo lắng:

-Thế ông mang đi bao nhiêu?

Đay lắc đầu:

-Ông không bì với tôi được. Bọn chúng tôi có cả một hầm máy. Còn vệ sinh viên như ông ít nhất cũng ba mươi vé.

-Nhưng vay đâu ba mươi vé bây giờ?

-Vay lãi trên phố. Lãi mười phân thôi. Nhưng căn bản có hàng là phải bán cho họ. Của mấy nhà buôn trên phố. Càng tốt chứ sao. Chúng nó buôn lớn lắm. Tôi cũng đã định vay giật mỗi thằng tổ máy dưới tầu một ít nhưng nghe chừng các con giời ngại. Thắng đã vậy. Mất thì mình lấy đâu ra mà giả chúng nó. Nên cứ vay lãi trên phố là tốt nhất.

Bá đi với Đay lên phố. Cũng chỉ định vay hai nghìn thôi. Xem thế nào đã. Đay bảo tuỳ ông. Chuyến này đi Nhật đấy ông ạ. Cứ làm ba nghìn đi. Bá nghĩ đến số tiền lãi phải trả. Ba nghìn. Mỗi tháng mất đứt ba trăm tiền lãi. Ba trăm lãi. Năm trăm đóng góp. Tám trăm tất cả. Một tài sản khổng lồ. Buôn cái gì cho lại? Anh cố tự động viên mình: Có người có ta. Người ta đi tầu nước ngoài nên người cả đấy thay. Phải đi mới biết. Chuyến này tầu 19 đi Nhật. Bá biết mình gặp may. Năm bẩy chuyến Hồng Kông mới có một chuyến đi Nhật. Và một chuyến đi Nhật hiệu quả kinh tế bằng năm, bằng bẩy chuyến đi Hồng Kông, Xinh ga po cộng lại. Trúng số hên. Nhiều người bảo với anh như vậy. Anh viết giấy vay người quen của Đay ba nghìn đô và lùng bằng được quyển hội thoại Anh Việt và hội thoại Nhật Việt nhưng cả Hải Triều không đâu có. Anh viết thư cho một người bạn cùng học một khoá trường Y nay làm ở bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh, và thật may, người bạn đã tìm được một quyển gửi ra cho anh. Suốt ngày anh nghiền quyển sách bỏ túi nhầu nát dù mới xuất bản sau thời gian đổi mới. Sau nhiều ngày lẩm nhẩm tiếng Nhật những sambashi (cầu tầu, bến tầu), những benjo (cầu tiêu) tetudatte kudasai (xin ông giúp đỡ tôi) Osaka yuri no kippu o kudasai (xin ông cho tôi vé đi Ôsaka) lại đến tiếng Anh show window (cửa hàng, mặt hàng) let me have a look at that (để tôi coi cái kia) how much (giá bao nhiêu)… đến mụ cả đầu óc rồi đêm đêm cùng vợ bàn tính về những thứ sẽ mua sao cho có lãi nhất, về những gì sẽ đến với họ, khi lo lắng, khi náo nức không ngủ được lại phải gọi giấc ngủ đến bằng chuyện chăn gối, một việc mà mấy năm gần đây chị vốn thờ ơ, gần như phải cố gắng hết mình để chiều anh. Lúc nào chị cũng thụ động, không nói ra miệng nhưng anh biết chị chỉ mong anh kết thúc sớm phút nào hay phút ấy. Và ngay sau khi kết thúc, chị lăn ra ngủ, ngủ mê mệt, ngủ không nhóc nhách như chưa bao giờ được ngủ. Anh rất buồn về chuyện ấy. Về mỗi khi anh vòng tay qua người chị, đan năm ngón tay anh vào ngón tay chị, gác một chân lên giữa hai chân chị thì chị lặng lẽ gỡ tay anh ra hoặc quay nghiêng vào phía trong nằm co như con tôm, im lặng ngủ. Anh sợ chị mắc chứng lãnh cảm và lùng tìm những thứ thuốc kích thích nội tiết tố để chị uống nhưng sự việc cũng chẳng khá hơn. Anh, chính anh cũng phải vặn nhỏ ngọn lửa ham muốn để phù hợp với chị, để khỏi làm khổ mình, làm khổ vợ và quen với nó bao giờ không biết.

Giờ đây chị bỗng trở thành một người khác hẳn (và đồng thời cũng biến anh thành một người khác hẳn, anh đã là chính anh ngày trước). Đam mê, cuồng nhiệt, ẩm ướt, lúc nào cũng sẵn sàng hé mở. Anh không nhận ra chị nữa. Còn hơn cả tuần trăng mật xa xưa. Chị chủ động, khám phá anh và sung sướng đón nhận anh khám phá. Lần đầu tiên anh được hưởng những tư thế lạ, những cảm xúc chưa bao giờ có, những lúc vợ chồng đang khăng khít, bỗng nhiên chị rời anh, đứng thẳng trên giường hoặc cúi lom khom, cong người hay bước hẳn xuống đất đi quanh phòng để anh nhìn ngắm, để anh đưa tay vẫy rồi ngoan ngoãn bước tới ghé một bên mông xuống giường, nghiêng người chống một tay qua người anh, cúi xuống nhìn anh như nhìn một người tình, vừa hồn nhiên vừa điêu luyện để anh phải kéo chị nằm ấp lên anh, những sáng kiến như không bao giờ hết trong chuyện ái ân của chị. Anh biết chị không cố làm ra thế. Là một bác sĩ, anh quá hiểu chuyện ấy. Điều chị làm là từ trong bản chất. Cũng như trước đây, anh quá hiểu những lúc chị quằn quại hay rên lên khe khẽ chỉ là những cố gắng quá sức của chị, những cố gắng chỉ để làm vừa lòng anh. Anh nghĩ có lẽ vì chị vất vả quá. Nhóm lò. Xếp hàng gánh nước. Tắm rửa cho thằng bé con. Đánh thức nó dậy sớm, rửa mặt mũi cho nó. Cho nó ăn rồi hớt hải đạp xe đưa nó đi nhà trẻ. Xếp hàng đong gạo, mua thực phẩm. Mua rau lợn. Nấu cám. Cho lợn ăn. Dọn chuồng lợn. Đổ rác. Thức khuya soạn giáo án, rồi ra máy nước công cộng giặt giũ vì chỉ thật khuya vòi nước mới vắng, nước mới chẩy mạnh. Đã đành anh giúp chị trong mọi việc, nhưng trách nhiệm chính vẫn đổ lên vai chị. Suốt năm suốt tháng lo lắng, chi li keo kiệt tính toán và mong ước… Khi hai vợ chồng lên giường, chị nằm dài như một người kiệt sức và chỉ muốn ngủ. Giờ đây cũng vẫn những công việc ấy, có bớt đi chút nào đâu, có khi còn tất bật, lo lắng hơn, nhưng nằm bên anh, chị cựa quậy như một đứa bé, đôi mắt long lanh, hai chân tách ra chờ đợi… Vì sao thế nhỉ. Vì sao chị bỗng trở thành người đàn bà mặn nồng đến thế? Điều gì đã làm chị bùng nổ? Chẳng lẽ chỉ một tờ quyết định xuống tầu đi nước ngoài của anh thôi đã thay đổi hẳn con người chị, nó nói với chị về một tương lai tốt đẹp đang chờ chị, sắp đến cùng chị và thổi vào người chị sức sống đã rời bỏ chị từ lâu? Anh đặc biệt xúc động khi nhìn chị khoả thân đi lại trong phòng như trong thời nguyên thuỷ. Một câu hỏi bỗng đến cùng anh:  Không hiểu vì sao con người ăn lông ở lỗ ngày xưa sau hàng triệu năm tiến hoá trở nên mịn màng đến thế, tuyệt vời đến thế lại vẫn lưu giữ những dấu vết nguyên thuỷ ấy. Mà lại rậm rạp đúng nơi mịn màng nhất, nõn nà trắng trẻo nhất.  Phải chăng đó là lời thú nhận bản năng không thay đổi, bằng chứng của một đam mê giấu kín, che đậy và giờ đây không còn che đậy nữa. Như mời gọi. Như khiêu khích. Lại như sẵn sàng dâng hiến. Chính ngọn lửa đam mê tổ tông ấy đã thổi bùng ngọn lửa trong anh.

Bá xuống tầu với chức danh phục vụ viên, một chức danh thấp kém nhất dưới tầu nhưng là niềm mơ ước của biết bao người bởi đó là sự đổi đời. Bưng cơm. Lau bàn ăn. Vệ sinh buồng ăn. Cầm bùi nhùi lau hành lang. Cọ nhà xí… Bá hoàn thành nhiệm vụ một cách miễn chê. Sóng to. Người lử khử nhưng không nôn. Và dù mệt đến đâu cũng cố ăn hết suất cơm. Trong một lúc cọ nhà xí, anh tự thấy thật buồn cho công lao học hành của mình, và những câu chuyện tưởng đã quên đi, bỗng vụt trở lại trong óc làm anh bật cười, lại thấy phấn chấn trong công việc. Đó là câu chuyện một cô gái đinh ninh mình lấy được một anh xích lô như lời anh ta khai nghề nghiệp cùng cô. Cô mừng như bắt được vàng. Thu nhập của anh ta sẽ bảo đảm được đời sống của cô. Nhưng té ra cô đã bị lừa. Một kẻ lừa đảo, dối trá, làm hại một đời cô. Anh ta chính là một phó tiến sĩ, một phó tiến sĩ chính hiệu, tu nghiệp ở nước ngoài, có bằng đỏ trong tay cùng với đồng lương chết đói. Và cô đã đâm đơn li dị. Đấy là chuyện bịa. Chuyện tiếu lâm tân thời. Còn đây là chuyện thật. Thật một trăm phần trăm. Một người bạn anh, một thầy giáo đại học bách khoa có uy tín sang Algerie dạy học hết hạn trở về gặp anh trò chuyện và đến lúc ấy, anh mới biết người bạn anh sang đấy chỉ dạy trung cấp. Đoán được sự ngạc nhiên của anh, bạn anh nói tên một vị giáo sư lừng danh khác, đã từng đi hội thảo với các nhà khoa học quốc tế nhiều lần, cũng chỉ dạy trung cấp ở Algerie. Bạn anh đã khuyên vị giáo sư nọ: “Chúng tôi vô danh tiểu tốt đi còn được. Anh đi, quốc tế biết anh dạy trung cấp, nó cười cho”. Và vị giáo sư đáng kính đã chân thành nói với bạn anh: “Tôi nghĩ kỹ rồi anh ạ. Sang bên ấy dạy mẫu giáo tôi cũng đi.” Mà ngày ấy sang Algerie bao nhiêu năm, khi về cũng chỉ đủ tiền mua được chiếc xe máy Honda DD Nhật còn trong hộp xốp.

Tách bến được ba ngày, vừa mệt vừa buồn. Sóng to. Lử khử. Tiếng Anh không vào. Tiếng Nhật không vào. Ti vi Việt Nam không bắt được. Ti vi Nhật cũng không. Toàn ruồi. Anh em mở vi đê ô. Phim xếch. Xếch nặng. Xem mãi cũng chán. Phim nào cũng mấy khuôn mặt ấy “những gương mặt thân quen” như Đay nói. Mãi mấy hôm sau mở ti vi bắt được đài Nhật. Đang chiếu một phim gì đó. Người Nhật, thành phố Nhật hiện ra. Náo nức. Không ngủ được. Đất Nhật gần lắm rồi. Cái đất nước thần kỳ. Nó làm cho những người bình thường khi tới đó trở về bỗng biến thành những người khác hẳn. Ôsaka đâu? Cảng Ôsaka to hay nhỏ. Thành phố Ôsaka thế nào nhỉ. Chắc là giầu có, điện sáng trưng mọi ngóc ngách và sạch như li như lai. Ôsaka yuri no kippu o kudasai. Bá lẩm nhẩm lại bài học. Tầu đến phao số 0 vào tối thứ năm. Mỗi người được phát một giấy lên bờ. Sáng thứ sáu cập cảng Ôsaka. Bá cùng anh em không phải trực ca bước xuống cầu thang, lần đầu tiên đặt chân lên đất Nhật. Còn đang đứng ngắm trời ngắm đất, bỗng thấy mọi người nhất loạt chạy rầm rập cùng một hướng trên cầu tầu. Chạy đi! Đay thét lên giục Bá. Cũng chỉ một câu ấy rồi co cẳng chạy. Ngơ ngác không hiểu chuyện gì, Bá cũng chạy. Chạy và nghe tiếng Đay vọng lại: “Nhanh lên! Vào thành phố mua hàng không họ mua hết!” Về sau này Bá mới biết dân  Ôsaka chỉ bán hàng ngày hôm nay. Ngày mai thứ bẩy, ngày kia chủ nhật nghỉ. Mà thứ hai tầu đã tách bến rồi. Cảng Ôsaka rộng quá. Dễ chừng chạy hai ba cây số mới ra tới cổng. Trình giấy. Bước ra đường. Không còn một ai. Cả Đay cũng biến rồi. Không có cả tắc xi. Lo quá. Giở quyển hội thoại xem lại một lần nữa cho chắc chắn rồi nói với người gác cổng: Takusi o yonde kudasai. (Xin ông gọi xe tắc xi cho tôi.) Người gác mặc sắc phục như cũng hiểu tâm trạng anh, tươi cười: Chotto matte kadasai (Chờ một tí). Chờ. Phải chờ thôi. Chẳng còn cách nào khác. Nhưng cái kiểu chạy như ma đuổi của anh em thuyền viên và câu nói vọng lại của Đay Nhanh lên vào thành phố mua hàng không họ mua hết làm anh bồn chồn. Kia rồi. Một chiếc tắc xi mầu vàng chanh đi ngang. Giơ tay vẫy. Lên xe. Người lái xe nói một câu tiếng Nhật, anh không hiểu. Rồi lại một câu tiếng Anh. Anh cũng không hiểu. Nhưng cứ gật. Sực nhớ mấy tên phố đã nghe anh em nói, Bá xướng đại một tên. Hoá ra đúng. Chẳng ngắm nhìn đường phố Nhật thế nào, chỉ chăm chăm vào những cửa hàng. Đến khi thấy mấy cửa hàng bày xe máy cũ, anh ra hiệu cho người lái xe dừng lại. A ri ga tô. Người lái xe nhận tiền cười rất tươi đáp lại: A ri ga tô.

Rất nhiều xe. Mấy cửa hàng liền nhau. Trời ơi. Của nả đây rồi. Sự đổi đời đây rồi. Một chiếc Cub 81 bẩy mươi phân khối mầu ốc bươu đời chót kim vàng giọt lệ kia rồi. Đó là mơ ước của anh, mục tiêu của anh. Đó là điều anh ao ước và đã nhiều lần nói với vợ là sẽ mua một chiếc xe như thế. Một chiếc xe được giá nhất, dễ bán nhất. Chưa dám dùng đâu. Chưa. Chưa có tiêu chuẩn. Còn phải quay vòng vốn đã. Hai vợ chồng đèo nhau, chồng trước vợ sau, lượn phố ít ngày rồi cho đi ở. Xe loại ấy đang lên ngôi. Một chiếc xe như thế bán vất đi cũng phải được trên mười vé.

Good morning! Phấn khởi, Bá chào người chủ quán, chào to như bạn bè lâu ngày gặp lại, nhưng rõ ràng ông ta không hiểu Bá nói gì. Chỉ giơ tay về phía trong, gian nhà thênh thang xếp chật những xe máy là xe máy. Anh bổ tới chiếc xe ngoài cùng, chiếc 81 chót chét kim vàng giọt lệ của anh và đứng sững: Trên yên xe đã ghi tên người mua. Anh nhìn sang những xe khác. Gần như tất cả đã có tên ghi trên yên, đã có người mua. Những tên quen và những tên lạ, không phải người của tầu anh. Thất vọng, hoang mang, anh bước sang gian hàng bên cạnh. Vẫn như vậy. Sang đến gian hàng thứ ba, cũng vẫn vậy. Anh biết có nhiều tầu Việt Nam cặp bến Ôsaka. Thuyền viên các tầu ấy đã mua trước cả rồi. Sau này khi về tầu anh còn nghe anh em nói có những người đánh dấu sẵn, trả tiền trước để chuyến sau sang lấy. ở cửa hàng thứ ba vẫn còn nhiều xe chưa đánh dấu nhưng toàn là loại xe hai ống xả, 500 phân khối, 1000 phân khối, thấp nhất cũng là 250 phân khối. Xe này mang về nước khó bán, không có giá trị kinh tế, lờ lãi chẳng là bao. Mỗi chuyến được một xe máy không thuế thì phải mua xe nào hiệu quả nhất. Tìm mãi. Tìm mãi. Vớ được cái Chaly 70 phân khối. Nhưng vay những ba nghìn cơ mà! Ba trăm tiền lãi và năm trăm tiền đóng góp. Làm sao vợi bớt số tiền này. Lại lùng sục. Sâu mãi vào gian trong. Gian trong nữa. Nghiêng người mà lách. Trèo lên mà đi. Đứng im trên xe mà phóng mắt ra bốn chung quanh quan sát. Rồi bò qua những chiếc xe xếp sát nhau tới một góc. Lấy tay lau lớp bụi bám dầy trên các bộ phận một chiếc xe đen đủi. Lớp bụi rơi ra để lộ một nàng công chúa, không, một chàng hoàng tử đen bóng, còn nguyên nước sơn và lớp mạ ánh lên. Hoàng tử đen! Một chiếc CD. Một chiếc Honda một trăm phân khối đang là mốt của những thanh niên ăn chơi thời thượng! Vua và hoàng tử của các giống loài xe máy! Lòng anh như múa lên. Hê lô! Hê lô! Anh vừa bước ra gian ngoài vừa gọi ông chủ hiệu. Sau khi dẫn ông ta vào tận chỗ chiếc xe và viết tên mình lên yên, Bá trả tiền. Chủ hàng đưa cho anh giấy biên nhận và nói chiều sẽ cho xe chở đến tận cầu tầu. Anh yên tâm giao tiền không ngần ngại, bởi khi còn đang hành trình, anh đã nghe các bậc tiền bối nói kiểu mua bán với người Nhật là như vậy. Họ nói sao làm vậy. Chưa một lần lừa đảo. Đã định bước ra nhưng không hiểu trời xui đất khiến thế nào lại đi sâu vào góc, tận xó xỉnh trong cùng, đứng ngoài nhìn vào giống như một chỗ trống, lật mấy tấm bìa các tông chênh chếch lên: Anh reo to khiến người chủ hiệu đứng đó cũng cười vui niềm vui của anh: Một chiếc 81 chót chét kim vàng giọt lệ! Mơ ước của anh! Thôi rồi Lượm ơi. Lượm trúng quả rồi. Chắc bố phù hộ đây. Bán con CD. Với cái 81 này. Giữ lại cái Chaly cho vợ đi. Cái Chaly coi như được biếu không. Tiền lãi một cái CD đã thừa cái Chaly này rồi. Nhưng thôi, việc ấy tính sau. Nếu cần cứ cho đi cả ba cái. Trả bớt nợ chừng nào hay chừng ấy, để khỏi chịu lãi. Chắc là cô ấy đồng ý thôi. Mà sao bỗng nhiên nàng tuyệt vời đến thế. Đúng là nhờ có cái quyết định xuống tầu. Hơn mọi thứ thuốc mình mua. Chuyến này về chắc chắn trên cả tuyệt vời.

Việc quan trọng nhất đã hoàn thành vượt mức. Giờ đây là lùng mua loa thùng. Loại loa thùng 200 oát. Thứ hàng đang được trong nước mến mộ. Takusi o yonde kudasai. Tắc xi ghé sát vỉa hè. Chở tới cửa hàng bán loa cũ. Có mặt khá đông anh em tầu. Kho rộng mênh mông. Bụi cũng bám đầy trên các thùng loa. Cũng là lưu cữu từ đời nảo đời nào rồi. Len lỏi. Chui rúc. Lôi. Đẩy. Moi móc. Bẩn thỉu nhem nhuốc đến phát xấu hổ lên. Mỗi người một ngóc, một ngách, im lặng thở và tìm tòi lùng sục. Vừa trông thấy ở một góc khuất có hai thùng loa ưng ý, vội bước tới thì không biết ở đâu vọt ra một người lao từ phía sau chen Bá ngã ngửa, vượt lên phóng đến chỗ thùng loa, tay nhăm nhăm viên phấn viết rất nhanh tên mình vào đấy rồi ghé vai vác từng chiếc một ra ngoài. Đay! Pha ra Đay! Bá đứng dậy nhìn Đay sù sì to lớn, mặt mũi chân tay quần áo đầy bụi im lặng nghiêng đầu vác chiếc loa thùng 200 oát bước qua, không thèm nhìn anh. Anh rất giận Đay. Nhưng rồi lại nghĩ đến chuyện Đay đã đứng ra bảo lãnh việc vay tiền cho anh, nghĩ đến buổi sáng khi đứng trên cầu tầu, mọi người rùng rùng chạy, không ai nói với anh một lời. Chỉ có Đay là người duy nhất đã bảo anh. Cuộc sống là như vậy. Khắc nghiệt quá. Giành giật. Ước lượng. Xác định chất lượng, định giá tiền khi về nước. Không còn chút tình cảm nào lúc mua hàng mặc dù ở dưới tầu anh anh em em thân mật. Cuối cùng Bá cũng mua được hai đôi loa thùng ưng ý, mấy cái cát xét mô nô, mấy cái xít te. Mua thì cứ mua. Nhưng không được thử. Ông chủ người Nhật nói rằng loa tốt. Thì chắc loa tốt. Nói cát xét tốt là cát xét tốt. Người Nhật rất thật thà. Giao tiền cho họ rồi hẹn giờ, họ cho xe chở đến tận tầu. Anh em bảo vậy. Bá cũng tin như vậy. Với lại họ giầu có thế, ai lại nỡ đi lừa đám người khố rách áo ôm!

Hôm sau thứ bẩy. Gay vì Ôsaka không bán hàng cả hai ngày thứ bẩy và chủ nhật. Hai ngày không mua được hàng. Mà sáng thứ hai tầu đã tách bến. Mà trong túi còn hơn nghìn đô la. Khi xuống tầu bụng nghĩ ba nghìn này đi Nhật cố gắng làm sao lãi được gấp đôi. Ba nghìn thành sáu nghìn, chí ít cũng là năm nghìn rưởi. Năm nghìn rưởi! Nghĩa là mình có trong tay năm mươi lăm triệu, mà hai mươi lăm triệu là của mình. Chỉ mươi ngày mình đã là triệu phú, đã có trong tay hai mươi lăm triệu làm vốn, trừ tiền lãi và tiền đóng góp cũng còn mười bẩy triệu. Chuyến này về sẽ trả nợ mười vé, thế là bớt được mỗi tháng một trăm đô tiền nợ lãi. Cọ rửa nhà xí, lau hành lang, phục vụ bữa cơm xong Bá định tìm Đay bàn tính xem sao thì Đay đã biến tự bao giờ. Anh em bảo chỉ còn mỗi cách đi Mô-tô-ma-chi cách 250 ki lô mét. Mô-tô-ma-chi là thành phố nhỏ, buôn bán suốt mọi ngày trong tuần. Những người không phải trực đã biến hết. Không biết họ đi đâu. Chỉ còn một mình Bá. Thì một mình đi. Không một thoáng ngại ngần. Vì đây là nước Nhật. Đây là nơi định đoạt cuộc đời mình, số phận mình, số phận gia đình mình. Phải chiến đấu. Dù đơn thương độc mã cũng phải chiến đấu. Một mình ra cổng cảng. Xem lại sổ hội thoại Nhật Việt, cái gậy dò đường để xông pha trên đất Nhật, đổi đời. Lúc mới cầm quyết định xuống tầu cứ nghĩ phải học tiếng Anh. Nhưng không. Dân buôn bán đồ cũ của Nhật không biết tiếng Anh. Chỉ cần quyển hội thoại Việt Nhật. Vẫy tắc xi. Giở hội thoại chỉ vào chữ ga tầu điện ngầm, miệng nói Mô-tô-ma-chi. Anh lái xe hiểu. Lên xe. Kéo dây an toàn. ở Nhật bước chân lên xe là phải kéo dây an toàn. Xe chạy nhanh đến mức khó hiểu. Đến ga tầu điện ngầm. Xuống xe. Mất một ít yên. Theo cánh tay chỉ của người lái tắc xi, Bá bước xuống một cầu thang sâu và rộng. Gió từ phía dưới hút lên mát rượi. Người đông. Nhộn nhạo. Đi lại. Lên xuống. Như một siêu thị. Lại phải dùng đến Hội thoại Việt Nhật. Tìm đến một ông già. Lễ phép cúi đầu chào. Chỉ chữ: Phòng bán vé.

Đến phòng bán vé giơ ngón tay trỏ lên (ý rằng một vé) nói cộc lốc: Mô-tô-ma-chi. Cầm chiếc vé tầu điện ngầm trong tay, ngồi trên một chiếc ghế chờ bắt vào sát tường, lúc ấy Bá mới để ý quan sát chung quanh. Anh ngước nhìn cái mái vòm cong cong trên đầu, hai bên tường cũng cong đầy hình vẽ quảng cáo. Không. Không phải hình vẽ mà những tấm ảnh, hoặc nếu có phải hình vẽ thì cũng là những hình vẽ cực công phu giống ảnh như hệt. Những cô gái Nhật váy ngắn, chân dài nghe điện thoại, hoặc vắt vẻo trên những chiếc xe máy, những chiếc xe ô tô bóng lộn, những chiếc giường trải khăn đệm trong căn buồng rèm buông rủ… Xe điện đến. Tất cả đứng lên. Bá cũng đứng lên. Xe chạy trên đường sắt đặt sâu dưới nền. Cửa lên xuống chỉ cao hơn nền khoảng gang tay. Nhiều toa. Toa nào cũng đông người. Anh vừa tìm được một chiếc ghế ngay cửa lên xuống, xe đã chuyển bánh. Điều làm anh ngạc nhiên là xe khởi động và tăng tốc rất nhanh. Chỉ mấy giây đã đạt tốc độ tiêu chuẩn. Mọi người trên tầu ai cũng ngồi chúi mũi vào những quyển sách. Trong toa gần như không có tiếng to nhỏ chuyện trò. Tò mò. Ngó bên nọ, ngó bên kia. Vịn cả thành ghế đứng lên nhìn. Thì ra họ đọc tranh truyện. Tầu cứ lao đi trong đường hầm. Hai trăm năm mươi ki lô mét tưởng lâu. Khi đi lo không biết bao giờ tới nơi. Rồi còn mua bán. Lại chỉ độc một mình, không ai giúp đỡ, không ai bàn bạc trao đổi. Rồi còn trở về tầu. Nhưng chỉ một tiếng đồng hồ đã đến nơi. Một giờ đi. Hai giờ đến. Chạy thẳng một lèo không đỗ. Mới thiu thiu ngủ một tí, đã nghe tiếng chuông. Dậy. Khoác túi leo cầu thang từ đường hầm bước lên. Chợ kia rồi. Cuốc bộ vào một chợ nhỏ. Đói. Bây giờ thấy đói. Thì lúc mọi người ăn, anh còn bận chạy bàn, có ăn đâu. Chỉ kịp nhét vào túi cái bánh mì, chai nước uống phòng xa. Bá nghĩ bụng ăn uống trước rồi vào chợ to. Có thực mới vực đạo. Cái chợ nhỏ anh đến giống chợ Việt Nam, hàng hoá bầy trên sạp như Chợ Con, chợ Sắt. Nhưng rất ngăn nắp. Mỗi khu bán một loại hàng. Thứ nào cũng đề giá. Ngay cả chiếc bút chì. Rất rõ ràng, không sợ bị hớ. Bá tìm đến khu hàng ăn. Định vào một cửa hàng bán cơm giống cơm Việt Nam. Nhưng nhìn bảng giá, anh sững lại. Và nhẩm đổi ra tiền Việt. Một bữa cơm xoàng xĩnh như vậy ở Việt Nam chỉ 10 nghìn. Nhưng ở đây là hai trăm nghìn. Thôi không vào hàng ăn nữa. Ăn thế mất toi cái ti vi. Một bữa cơm xoàng mất một cái ti vi. Không được phép. Đứng giữa lối đi trong chợ, lấy bánh mì trong túi ra ăn. Ăn xong, móc chai nước ra uống. Thật may, lúc còn ở tầu anh đã cẩn thận mang theo chai nước. Tuy nhiên khi đi ngang quầy bán nước giải khát tự động, Bá không nén được sự cám dỗ. Không phải anh thèm nước ngọt mà chỉ muốn xem cái máy vận hành như thế nào, nó phục vụ anh ra sao. Thật đơn giản. Không có tí trục trặc nào. Bỏ đồng tiền xu vào máy là nó thòi ra một chai Coca Cola. Uống và nhìn sang bên cạnh. Quầy bán hoa quả. Những quả táo tây nhiều mầu sắc từ tím đỏ, tới phơn phớt hồng hoặc vàng nhạt mịn màng căng mọng anh chưa nhìn thấy bao giờ. Chắc trái táo cấm ông A đam và bà E va ăn ở thiên đường cũng chỉ thế này thôi. Nhìn lên bảng giá và lại nhẩm tính rất nhanh: Tám mươi nghìn ba quả táo. Cũng thừa mua một chiếc ra đi ô cát xét một cửa cũ đấy. Không. Đây không phải là thứ dành cho mình. Đến khi nào lên bờ, hoặc đi vài ba chuyến nữa thì cũng cố mua lấy mấy cân, nghỉ phép đem về cho mẹ, cho vợ, cho anh chị Vận và các cháu. Trên đường sang chợ chính, Bá ngạc nhiên không hiểu vì sao ở đây lại có nhiều cửa hàng bán cần câu đến thế. Rất nhiều cửa hàng bán cần câu. Từ hiện đại nhất tới thô sơ nhất. Nhiều cái đẹp lắm. Có cái giá tới ba trăm đô. Sao người ta có thể bỏ ra ba triệu để mua một cái cần câu nhỉ.

Giờ thì Bá đã có mặt ở chợ chính, khu chợ bán đồ cũ. Hàng hoá xếp bạt ngàn như núi, thượng vàng hạ cám không thiếu một thứ gì. Có lẽ chỉ không có xe tăng với máy bay thôi. Đầu máy khâu, đầu vi đê ô, nồi cơm điện, loa, dàn máy. Tranh. Khung tranh chạm trổ. Khung tranh thiếp vàng. Bàn ghế gỗ, bàn ghế kim loại, xa lông bọc vải, xa lông bọc da, quần áo cũ, hay chính xác hơn là quần áo đã qua sử dụng, còn rất đẹp, nhiều cái còn rất mới. Com lê. áo lông, áo choàng, váy ngắn, váy dài với bao mầu sắc quyến rũ. Bá hoa mắt trước cảnh hàng hoá ê hề đến thế, nhiều mầu sắc rực rỡ đến thế, nhìn như ngợp đi, nhìn mà mê mẩn. Nhưng những thứ đó không hấp dẫn nổi anh. Anh chỉ nghĩ đến những thứ có giá trị kinh tế, những thứ mang về Việt Nam bán ra tiền. Đẹp đến đâu mà mang về không bán được hoặc bán được ít tiền, ít lãi cũng không thiết. Không thể mua những đồ bày biện, những thứ chỉ để mặc vào người cho đẹp. Nhưng khi đứng trước những hộp đồ lót nữ anh không chút đắn đo suy tính: Mua ngay một tá quần lót đủ các mầu sắc kiểu dáng, cái viền đăng ten, cái móc thưa như tấm lưới, cái chỉ bằng một góc chiếc lá nho, cái nào chạm vào cũng mát rượi nơi tay. Anh nghĩ tới những chiếc quần lót diềm bâu của vợ ố vàng cứng đơ rộng thùng thình tự tay vợ anh khâu bằng vải bao bì, xác xơ nơi đũng, nghĩ tới lúc chị đứng trước anh và trước gương, lần lượt thay ra mặc vào cả mười hai chiếc quần lót này, nghiêng bên nọ ngó bên kia quay đằng trước quay đằng sau nhìn ngắm, và lại nghĩ tới nơi ấy bên trong quần lót, rậm rạp trơn ướt và thăm thẳm. Tiếng thì thầm của vợ như ngay bên tai: Anh thì cứng rắn còn em khóc nhè đây này. Đúng là giờ đây lúc nào chị cũng ướt át, và có lẽ phải đẻ một đứa nữa thôi. Thằng Cung đã năm tuổi rồi còn gì. Nếu không xuống tầu, bao giờ mới dám đẻ thêm?

Anh đã tới một gian hàng bày bán những thứ chỉ một mầu xám đen. Và đây mới là những thứ anh cần. Gian hàng bán đồ điện tử cũ. Hết ômixêtê culêmaxênhca (ông cho tôi xem) takai dêxu nê (giá đắt quá) rồi lại Xucôxi makêtê khurêba khaimasu (nếu bớt một ít tôi sẽ mua)… Bá mua một lúc mười đầu video. Hai chiếc một vé. Nặng. è cổ. Rã rời hai cánh. Nhưng ý nghĩ khi mang về bán cất cho dân phe cũng vé rưỡi, hai vé một chiếc tiếp thêm sức mạnh cho anh. Như một con lừa thồ hàng, anh lê tới cổng chợ, lòng như múa lên vì nghĩ tới số tiền sẽ thu về. Cứ một thành đôi. Một thành ba. Rồi dừng lại thở. Không thể trở về Ô sa ka bằng tầu điện. Không thể hai tay hai túi xách kềnh càng khệ nệ nặng như đá thế này xuống cầu thang để tới ga tầu điện ngầm. Rồi còn lên cầu thang ga đầu bên kia. Buôn bán thì phải chi phí thôi. Không phải mình ngại khó. Khoản này sẽ hạch toán vào giá thành. Anh vẫy một tắc xi. Chìa giấy lên bờ ra để anh ta biết mình về Cảng Ô sa ka. Anh lái tắc xi gật đầu. Cũng chỉ hơn một tiếng đến nơi. Anh tần ngần nuối tiếc khi trả một trăm đô la cho người lái xe dù đã nghĩ đây là chi phí kinh doanh. Giá anh cố đi tầu điện ngầm thì chỉ hết năm nghìn đồng tiền Việt, một số tiền chẳng đáng là bao!

Ngày thứ ba ở Nhật là chủ nhật rồi. Các cửa hàng Ô sa ka vẫn đóng cửa. Không mua được gì. Leo lên boong đứng vơ vẩn, gặp Đay to sù như một con gấu nhô từ cầu thang lên cùng với một thuỷ thủ. “Sáng nay trực à, bác sĩ?” “Không. Các ông đi đâu đấy?” “Lên phố xem có cái gì không? Nằm mốc ở tầu làm gì.” “Chờ tí. Tôi đi với.” Bá chạy vội về buồng khoác cái túi giả da tòn ten một bên vai chạy ra. Niệm, tên anh thuỷ thủ, cười: “Mua được nhiều hàng chưa mà bình chân như vại thế?” Bá bảo: “Đã mua được gì đâu. Tiền còn một đống.” “Cũng kha khá đấy. Hôm qua thấy bố ấy rước về mười cái đầu. Thắng lớn rồi.” Đay nói. Bá nghĩ thầm: Chẳng cái gì qua được mắt Đay. Ba người đi. Đi xem phố xá, xem người Nhật sống như thế nào. Và cũng cầu may, biết đâu mua được thứ gì đó. Gọi là lang thang nhưng đâu phải vô mục đích. Và vẫn cứ dán mắt vào các nhà hai bên phố. Người ta cũng mở cửa đấy nhưng không bán hàng. Và nhà nào cũng có một túi ni lông đen để ở lòng đường sát với vỉa hè. Túi đựng rác. Bá tò mò nhìn trước nhìn sau không có ai ngoài hai người bạn, cúi xuống mở một túi ra xem: Ba chiếc cốc pha lê cực đẹp. Có chân, hoa văn vàng óng, và những mảnh vỡ của chiếc cốc thứ tư. Rác là như vậy đấy. Anh nhặt ba chiếc cốc đút vào chiếc túi tuỳ thân, mặc cho hai người bạn đồng hành chế riễu: Thưa bác sĩ, sao bác sĩ mất vệ sinh thế. Nhặt ở túi rác đem về uống. Bá cười: Đẹp thế mà chỉ vỡ một chiếc họ đã vất đi thì phí quá. Đem về bày tủ li. Đúng là vậy. Anh không tham. Chỉ thấy không thể để ba chiếc ly pha lê nằm trong đống rác. Một sự lãng phí chẳng thể nào tha thứ nếu anh không nhặt.

Bỗng nhiên hiện ra trước mắt ba người một bãi rác khổng lồ. Tủ đứng, tủ nằm. Xa lông. Máy giặt. Nồi cơm điện cũ. Rồi ghế xoay. Bá ngồi ngay lên chiếc ghế xoay. Xoay một vòng. Bốn bánh xe dưới chân đưa anh đi một quãng. Chà chà. Thật mê ly. Có cái ghế xoay này đặt trong nhà ngồi thư giãn, xem sách, đọc báo hay nghe nhạc thật tuyệt vời. Bảo đảm cả thành phố không ai có. Đang thả tâm hồn bay bổng, nhìn theo Đay và Niệm đi sâu hơn nữa vào bãi rác, bỗng nghe tiếng reo, anh giật mình đứng lên bước nhanh về phía họ: Một đống quạt bàn hiện ra trước mắt. Cái nào cũng còn nguyên bảo hiểm, cánh, cả giây và phích điện dù có chiếc bảo hiểm đã rỉ và bầu thì đã tróc sơn. Chỉ nhìn nét mặt họ, anh cũng biết anh không có phần ở đống quạt cũ này. Vì lúc họ tìm ra, anh không có mặt, anh còn đang đu đưa với chiếc ghế xoay. Cái ghế xoay chết tiệt! Đay cùng anh thuỷ thủ nhặt quạt bàn xếp thành một hàng rồi tìm ra một chiếc gậy gỗ xâu gần chục chiếc quạt lại. Thật sung sướng khi nghe Niệm nói: “Phần ông Bá một chiếc, thôi, cứ xâu cả vào đây, khiêng về tầu, ông ấy lấy sau.” Thật là một tấm lòng vàng. Cái quạt tai voi nhà anh cũ quá rồi. Khi chạy cứ long lên sòng sọc như muốn rời ra. Hai người khiêng quạt đi trước, Bá vác cái ghế xoay đi sau. Phải mang chiếc ghế này về. Vì nó quá sang trọng, quá tuyệt vời. Hơn nữa nó còn là nguyên nhân làm anh thất bát ít ra hai chiếc quạt! Khiêng vác trên vỉa hè, gặp người Nhật và cả những người mắt xanh mũi lõ sải bộ trên hè, không ai bảo ai cả ba đều cúi gầm mặt. Niệm kêu to, trấn ân bạn và cũng là để trấn an chính mình:

-Làm đéo gì mà xấu hổ. Họ biết mình là ai.

Rồi trừng mắt hỏi Bá:

-Ông là người nước nào. Tôi là người Ma lai xi a. Quốc tịch Ma lai xi a chính hiệu.

Đay cười nhạt:

-Thôi. Cứ nói Căm pu chia cho xong. Dân Mã lai nó đếch thèm những thứ này đâu. Sang đây mới thấy mình là cuối hạng người. Có phải không bác sĩ?

Bá gật đầu:

-Đúng là cuối hạng người.

Đay tuôn ra một tràng:

-Cuối hạng người một trăm phần trăm, không trệch đi đâu được. Bác sĩ nhìn kia kìa. Người ta đi nghỉ mát, pích ních kia kìa. Ô tô nối nhau chở vợ chồng con cái trong xe kia kìa. Xe đạp cài trên ô tô chỗ ba đờ sốc là để đến chỗ nghỉ đạp chơi cho khoẻ cẳng đấy. Còn anh em mình đi nhặt từng cái quạt cũ ở bãi rác, từng cái máy khâu ghẻ, cả mấy cái cốc vất đi bày tủ cho nó sang, vác cả cái ghế cũ. Không cuối hạng người là gì. ấy thế mà khi về đến Việt Nam chúng mình lại là nhất. Chúng mình là đầu hạng người. Ai nhìn chúng mình cũng nể. Ai cũng thèm được như chúng mình. Chúng mình chon von chót vót. Càng chịu khó cuối hạng người ở đây về nhà càng chót vót đầu hạng người đấy bố ạ. Khinh người như mẻ đấy bố ạ. Con gái đẹp mê tít đấy bố ạ. Bố mẹ được nhờ, vợ con thương quý, vênh mặt lên đấy bố ạ!

Một chùm bố ạ dồn dập vừa như công phẫn vừa như tự hào, vừa như chân lý không cho chối cãi. Xoay xở chiếc ghế nặng như cái cùm trên vai, Bá thấy đúng như Đay nói. Khi anh có quyết định xuống tầu vận tải nước ngoài, dù vẫn còn ở trên bờ, dù anh vẫn y xì là anh, chẳng có tí gì thay đổi, anh đã thấy mọi người nhìn anh bằng con mắt khác rồi, anh đã là một con người khác, chính anh cũng cảm thấy mình đã là một con người khác (và vợ anh càng khác nữa). Ngay chuyến này thôi, với những ngày vắng mặt ở Việt Nam để đi sang nước Nhật này, trở về với mấy món hàng cũ trong tay, anh thực sự ở một mặt bằng khác, một nấc thang giá trị khác, một tầng lớp khác, một tầm cao khác. Đúng. Chỉ cần vắng mặt ở Việt Nam ít ngày thôi rồi trở về, anh đã là một con người khác.

-Cho nên cố gắng càng cuối hạng người được nhiều được lâu càng tốt. Anh em mình trúng số độc đắc. Bao nhiêu người thèm được làm cuối hạng người đấy.

Niệm động viên anh. Vác. Khiêng. Đi. Nghỉ. Mồ hôi. Cực nhọc nhưng hăm hở. Thế rồi tới lúc rẽ ngang vào một phố nhỏ cả ba cùng kêu trời. Một cảnh tượng huy hoàng không ngờ đến, không mơ ước đến hiện ra trước mặt. Một gian hàng nhỏ mở cửa, bên trong chất đầy xe đạp cũ. Đây là một quả đấm thép trong chuyến đi tìm đường cứu gia đình mà anh em gọi là “tìm đường cứu nước”, cuộc chiến đấu để nên người hôm nay. Đây là lộc trời cho, là trúng số hên, là thần tài đãi kẻ ngẩn ngơ. Tưởng rằng chỉ đi chơi phố, may ra nhặt được cái gì ở bãi rác thôi, ngờ đâu lại được thế này! Ba người đánh gọn, hót trọn hai mươi sáu chiếc xe đạp. Sạch bách. Bởi ai cũng biết xe mi ni Nhật đang là thứ hàng được chuộng, lãi chỉ đứng sau xe máy và còn dễ bán hơn xe máy vì  hợp túi tiền, việc đăng ký cũng không phức tạp. Mặt hàng của những người sành điệu, của những bà những cô, những chàng trai, những con người cũng là người thời đại, dù chỉ là người thời đại bậc hai. Trong nước rặt một giống xe miền Nam, xe khung dựng, sang lắm là xe Thống Nhất. Tột cùng là chiếc Phượng Hoàng hay chiếc Mifa. Hai mươi sáu chiếc. Lần này cả ba người cùng đi, cùng nhìn thấy, nên Bá cũng có một suất như hai người kia. Chia ba. Bá tám chiếc. Tính Bá hay nhường nhịn, chịu phần kém. Con hai người kia mỗi người chín chiếc. Tính xô, tốt xấu, mầu ngọc hay da đồng, đỏ hay vàng chanh, đổ đồng mỗi chiếc bốn mươi đô. Thắng lớn rồi. Xe này về vất đi cũng hơn trăm đô một chiếc. Chủ hàng biên giấy nhận tiền, hẹn tối cho xe chở đến cầu tầu. 

Chiều nào xe ô tô chở hàng cũng tới cầu tầu tấp nập. Người Nhật quả thật thà. Hàng không thiếu một chiếc. Hàng từ xe xuống cầu. Những hàng nhỏ như đầu máy khâu cũ, cát xét, đầu vi đê ô, ti vi, máy tính bỏ túi, đồng hồ đeo tay, xà phòng thơm, thuốc kháng sinh… từ cầu tầu chạy vào các phòng. Chất trên boong như núi là những thứ hàng to: Xe máy, xe đạp, tủ lạnh, máy giặt… Đó là chưa kể một xe đồ uống thuốc lá, hoa quả để tiếp khách của tầu và của các thuyền viên gửi tầu mua hộ (vì thời gian quá hạn hẹp, thuyền trưởng có sáng kiến để tầu mua hộ anh em thuyền viên, chắc tay quản lý cũng kiếm được ít nhiều). Hàng của thuyền trưởng thuyền phó, chính uỷ nhiều hơn hết. Toàn là thuyền viên mua hộ hoặc đặt trước, com măng trước với các cửa hàng. Mà toàn hàng đẹp. Hàng xịn, gần như mới. Các ông ấy có đi phố chỉ là đi chơi, “dạo quanh thị trường” thế thôi. Còn mình phải chạy ma ra tông mà mua mà đánh dấu, ghi tên. Nhìn đống hàng trên tầu, Bá lo. Khi mua, ham mua được nhiều. Bây giờ lo. Hàng nhiều thế này khi về đánh thuế chết. Xe máy, mỗi người chỉ được mua một chiếc xe không thuế, quá tiêu chuẩn phải chịu thuế 100%. Tiêu chuẩn một người hai xe đạp. Thế mà có người bốn xe máy. Hơn chục xe đạp. Lại còn không biết bao nhiêu máy lạnh, máy giặt, ti vi cát xét, đầu vi đê ô, loa thùng, và những túi phồng căng rất bí mật, không biết là loại hàng gì. Bá là lính mới, mua được ít mà cũng ba xe máy, mười đầu vi đê ô, tám xe đạp, mấy cặp loa thùng, gần chục cái cát xét, thử hỏi dân cũ quen thuộc, dầy dạn kinh nghiệm mua biết bao nhiêu! Suốt đêm, nằm trong ca bin, nghe tiếng lục cục, lịch kịch ở hai buồng bên cạnh, tiếng chân người đi lại ở hành lang, không sao ngủ được. Họ đang giấu hàng. Bá đi sang phòng bên, cũng một anh phục vụ viên như Bá, nhưng là phục vụ viên đích thực, đã đi dăm chuyến. Anh ta đang dùng tuốc vít tháo vách tầu ra. Thấy Bá, anh nhăn răng cười. Bá cầm một chiếc ốc vít lên, nhìn chăm chú vào cái chữ thập lõm xuống trên đầu ốc vít. Hiểu ý anh ta giải thích:

-Yên tâm. Chốc nữa giấu hàng xong, vặn lại đâu vào đấy chỉ cần hoà tí nước muối, lấy giẻ xấp chấm vào là lại y như cũ. Chẳng còn dấu vết tuốc vít nữa đâu mà sợ.

Rôi nói đầy vẻ thèm thuồng:

-Chỉ mấy ông thợ máy là sướng. Dưới buồng máy tha hồ yểm. Chẳng biết đâu mà lần. Vặn bu lông, lật sàn hầm máy lên, có đến năm chục cái xe cũng xong hết. Rồi hoà một xô nước muối đặc, rẩy trên sàn, bôi lên các bu lông, bôi vào chân máy, rẩy vào mặt bích, chỉ một đêm rỉ sét kín hết, chẳng ai phát hiện được.

Đó là điều hoàn toàn bất ngờ đối với Bá. Thảo nào anh thấy Đay lúi húi ở bếp với cái xô, thò tay vào xô khoắng khoắng rồi xách xô xuống hầm máy. Anh cứ tưởng Đay đem xuống lau chùi cái gì dưới ấy.

-Sướng nữa là thằng cấp dưỡng với ông phó ba, phó gạo. Người bạn nói tiếp trong cơn hào hứng. Kho bếp, kho thực phẩm là của họ. Phó gạo được sử dụng là đúng rồi. Người ta là sĩ quan, nhưng thằng cấp dưỡng cũng được ăn theo. Trên tầu nhiều kho nhiều buồng lắm. Không có bản đồ không biết hết được đâu. Chỉ dành cho ban chỉ huy tầu. Với lại chẳng bao giờ khám đến các buồng của thuyền trưởng, thuyền phó với chính uỷ.

Rồi cười:

-Giấu cho phải phép đấy thôi. Họ đã định khám thì không cái gì lọt. Giấu ở đâu cũng lòi ra. Đây này. Anh ta lấy ngón tay gõ gõ vào vách ca bin ở những chỗ chưa giấu hàng. Đấy. Bên trong rỗng biết ngay. Có hàng biết ngay. Giấu sao được họ. Cái chính là phải…

Rồi chìa bàn tay, miết miết những ngón tay vào nhau:

-Đếm.

Rõ ràng anh ta đang phấn khởi. Bá chỉ muốn hỏi người đồng cấp rằng anh ta có những thứ hàng gì mà phải giấu cả trong vách ca bin nhưng không dám.

Sáng thứ hai, ngày đầu tuần, tầu rời bến. (Bá cũng đã nhờ tầu mua hộ một két bia, một két nước ngọt và một cây thuốc lá để dùng đến khi cập cảng.) Loa phóng thanh vang lên: Mời tất cả các đồng chí tới câu lạc bộ họp. Không biết có việc gì. Bá là người tới đầu tiên. Nhưng hoá ra chỉ có một nội dung: Mỗi người đóng năm vé ngoại giao. Lệnh ban ra được tất cả thực hiện ngay tức khắc. Vui vẻ nộp tiền. Không ai thắc mắc. Không ai kêu ca. Ai cũng biết đó là những điều không thể thiếu. Không những thế nộp xong tiền, Bá còn cảm thấy phấn khởi, có một cái gì đó bảo đảm làm anh an tâm. ở câu lạc bộ bước ra, anh leo lên boong, toan nhìn lại Ô sa ka một lần nữa thì tầu đã ra tới phao Dê rô rồi. Trên boong, ngay bên cạnh đống hàng đã gọn đi nhiều vì chỉ còn xe đạp, xe máy, mấy thuyền viên bắt đầu khuân đồ nghề, những cờ lê mỏ lết, những kìm, những búa, những giẻ, những tuốc vít ra làm việc: Rã xe. Tháo rời những xe máy xe đạp ngoài tiêu chuẩn thành từng bộ phận để tiện việc cất giấu và khai báo. Đó là những thợ máy và một vài thuỷ thủ học thêm nghề, trưởng thành qua những chuyến đi, sẵn sàng phục vụ để thêm thu nhập. Trên tầu gọi là nhóm xe. Còn nhóm hàng điện tử làm ở một khu khác, bên kia băng chuyền cá. Hai chiếc xe máy và sáu chiếc xe đạp của Bá được Đay . Rất nhanh. Phải chi. Theo đúng lệ làng. Một số tiền không đáng kể được Bá hạch toán vào chi phí. Trên boong chỉ còn la liệt những khung xe. Phụ tùng đóng vào bao. Để trong phòng. Chật quá thì để trên boong. Coi như không có xe máy, xe đạp mà chỉ là những khung xe. Khung với ít phụ tùng nhặt về thay thế. Cũng là phù phép cả thôi. Cái chính là ban chỉ huy tầu làm việc và mình đếm. Mười đầu vi đê ô của Bá cũng được tháo rời. Vẫn cái vở không có đầu vi đê ô mà chỉ có vỏ và một ít linh kiện rời. Trước khi “đầu”, anh em cơ công báo vụ đều thử con sống con chết. Thật mừng là cả mười con của Bá con nào cũng sống, nghĩa là đều tốt. Người Nhật đúng là tuyệt vời. Nói một là một, hai là hai, không gian dối.

Yên tâm được một việc. Mua hàng. Đưa hàng xuống tầu. Còn chuyện đưa lên. Nghĩ đến lại lo. Không biết có trót lọt không. Đã đành rằng đếm. Nhưng đếm nhiều thì lờ lãi chẳng còn được bao nhiêu. Cái bản hạch toán nhẩm trong đầu hoá ra không đúng. Nhiều khoản chi phí lắm. Đầu vào chưa tổng kết được. Và không biết tầu có bị khám không? Có khi mình trâu chậm uống nước đục cũng nên. Đếm làm sao được hết. Bên Vosco đấy. Nuôi hải quan tốt thì công an khám. Nuôi công an hải quan quận tốt thì công an thành phố, hải quan thành phố xuống khám. Rồi lại tự động viên mình: Có người có ta không sợ. Nhất là khi nằm trên tầu từ Nhật về, lênh đênh gần tuần lễ, nghe những thông tin rò rỉ, biết có người mua tới năm xe máy, mấy trăm chiếc đồng hồ Xeiko, cho vào túi ni lông gói chặt thả xuống hầm dầu, hàng thùng thuốc con nhộng, hàng trăm máy tính bỏ túi rải dưới buồng máy, hàng chục cân thuốc nhuộm thì Bá cũng bớt đi một phần lo lắng:

-Người ta đi nhiều người ta biết. Phải chắc ăn như thế nào họ mới đánh to như thế chứ.

B N T

 

Cái uy của Nguyên Hồng

Trong một lần vào thành phố Hồ Chí Minh, tới thăm Nguyễn Khải, tôi đã được nghe anh kể nhiều điều thú vị về các nhà văn. Tham gia nhiều khoá chấp hành, lại ở ngay Hà Nội, luôn gặp gỡ với đủ loại nhà văn nhà thơ, trong đó có nhiều cây đa cây đề, anh biết bao chuyện về các nhà văn lớn chê bai châm chọc khích bác nhau, nói khi vắng mặt cũng như nói đốp vào mặt nhau những câu chẳng ra làm sao một cách nửa đùa nửa thật. Gần như không chừa một ai. Thế nhưng không một người nào đụng đến Nguyên Hồng. Nguyên Hồng có cái uy riêng. Nguyễn Khải nói với tôi như vậy. Tự nhận mình là đệ tử của Nguyên Hồng, tôi rất thú vị về điều ấy, về chuyện Nguyên Hồng có cái uy khiến ai cũng phải tôn trọng mà Nguyễn Khải nói cùng tôi.

Cái uy của Nguyên Hồng là gì nhỉ?

Chắc chắn cái uy ấy không phải toát ra từ vẻ mặt đôn hậu của anh, bộ quần áo nâu giản dị anh mang trên người cùng với toàn bộ dáng vẻ quê mùa chân chất của anh mà trong lần gặp đầu tiên, Pi-e A-bra-ham, chủ nhiệm tạp chí Europe đã gọi là Người-Của-Đất. Càng không thể là cái làn ràng ràng trong đó lủng củng chai lọ anh luôn xách theo như một thứ samsonite tuỳ thân của các thủ trưởng hôm nay, cũng không thể là thú vui ăn uống vỉa hè cổng chợ của anh. Tôi hiểu rằng người ta có thể không đánh giá cao sáng tác nào đó của anh, người ta có thể không thích cách sống xuề xoà tới mức luộm thuộm của anh, nhưng tất cả đều kính trọng nhân cách của anh, nhân cách nhà văn và nhân cách công dân. Anh chính là lương tâm văn học của tất cả, nhất là lớp trẻ chúng tôi. Cho đến bây giờ chúng tôi vẫn nói cùng nhau chuyện sau khi thôi giữ chức chủ bút tuần báo Văn, sau khi bị kiểm điểm lên xuống vì “tội” đã lãnh đạo báo Văn “đi trệch đường”, Nguyên Hồng xin nghỉ hưu và đưa cả gia đình từ Hà Nội về Yên Thế. Hành động treo ấn từ quan này chỉ có ở Nguyên Hồng, mà phải chờ đến gần nửa thế kỷ sau mới có một, hai quan chức đủ dũng khí, đủ tự trọng thực hiện.

 Ngoài cuộc đời rất trong sạch của mình mà ai cũng phải kính nể, cái uy của Nguyên Hồng có lẽ còn ở chỗ anh đến với nghệ thuật như một tín đồ, với niềm si mê trong trẻo của mối tình mãi mãi là mối tình đầu. Không gì có thể làm vẩn đục được nó. Tiền bạc, chức vụ, danh vọng, nhà cao cửa rộng, sự tín nhiệm yêu mến của cấp trên, hay đơn giản chỉ là một chuyến đi nước ngoài mà bao người khao khát, tất cả không có chỗ trong sự suy nghĩ của anh. Anh đắng cay với nó, sung sướng với nó, khổ cực với nó. Anh vinh quang với nó và nhọc nhằn với nó. Tất cả đều coi anh là một bậc thánh tử vì đạo. Trong nghệ thuật anh chưa một lần dối trá. Có thể về cuối đời, sự dũng cảm, cái gan góc tự do kiểu ấy (chữ của Vương Trí Nhàn) trong anh ít dần đi, nhưng anh chưa một lần dối trá. Anh là nhà văn của những người cùng khổ. Hơn thế, toàn bộ sáng tác của anh còn trùng hợp với quan niệm của Elffriede Jelinek, nhà văn Áo, Nobel văn học 2004 “Văn học không đứng về phía kẻ mạnh.” Một bài thơ một câu của Dương Tường mang tên “Để ghi trên mộ chí sau này” có thể nói trọn châm ngôn sống và sáng tác của anh: Tôi đứng về phe nước mắt.

Nhiều lúc tôi lẩn thẩn tự hỏi: Nếu Nguyên Hồng còn sống tới hôm nay thì anh sẽ viết gì nhỉ. Chắc chắn sẽ có một quyển hồi ký mà anh đã nói với nhà thơ Thanh Tùng và người anh con cô con cậu Vũ Quốc Phan. Thanh Tùng đã hỏi anh: Sao bố không viết Bỉ Vỏ tập hai đi? Xã hội bây giờ còn bỉ vỏ hơn ngày trước đấy. Và ông Vũ Quốc Phan, trong một lần từ Paris về đã nói với anh: “Anh ngạc nhiên về sự im lặng của em. Trước khi anh ra đi sang Pháp em còn dám viết Bỉ Vỏ. Tình trạng hiện thời không thiếu Bỉ Vỏ mà em không viết gì cả.” Và Nguyên Hồng đã trả lời với cả hai người rằng anh sẽ viết một quyển hồi ký, đến khi anh chết người ta sẽ biết anh. Quyển hồi ký chưa được viết ấy, tiếng hót của con chim khôn trước lúc lìa đời ấy, chắc chắn sẽ chứa đựng nhiều điều thú vị, bởi khi sắp vào quan tài Nguyên Hồng mới viết, hẳn nó sẽ lại “đạt tới cái tầm chân thực mà chỉ các nhà văn Anh hay các nhà văn Nga mới đạt tới”để chúng tôi lại một lần nữa “sửng sốt về cái khả năng chân thực ghê gớm mà cũng là cái gan góc tự do kiểu ấy” của Nguyên Hồng như Vương Trí Nhàn đã viết về quyển hồi ký đầu tiên “Những ngày thơ ấu” của anh.

Nguyên Hồng đã nhìn thấy những Tám Bính, Năm Sài gòn thế hệ mới. Khi trả lời Thanh Tùng, anh đã khóc. Khóc vì thấy mình không còn là mình nữa, mình mắc nợ với họ, không làm tròn trách nhiệm nhà văn với họ.

*

Nguyên Hồng đã bước vào cõi vĩnh hằng, đã xa tất cả chúng ta, nhưng đọc anh, ta thấy trái tim Nguyên Hồng vẫn còn rên rỉ cùng ta. Chúng tôi, lớp con em anh tóc cũng đã bạc trắng đầu. Tôi đã nhiều lần làm tổng kết cuộc đời. Bản tổng kết nào cũng có những ngày may mắn được quen anh. Đó là những tháng năm vừa hạnh phúc vừa bất hạnh, vừa ngọt ngào vừa cay đắng, vừa hy vọng vừa thất vọng của tôi. Và vì tất cả đã thành quá khứ nên càng làm tôi xao xuyến.

Sinh thời Nguyên Hồng rất thương tôi. Tình thương ấy chưa một lần nói thành lời ngoại trừ mấy hàng chữ anh đề tặng trên tập Một tuổi thơ văn: Cho Bùi Ngọc Tấn rất thương. Mùa đông nhớ năm xưa. Và ba lần anh khóc ở nhà tôi. Chỉ chảy nước mắt thôi. Không nói. Lần thứ nhất: Gặp lại tôi sau năm năm xa cách. Lần thứ hai khi tôi cho anh xem bộ quấn áo số của tôi. Và lần thứ ba khi anh tặng tôi tập hồi ký Một tuổi thơ văn.

Đã 23 năm Hải Phòng vắng bóng anh, và phỏng theo cách En-xa Tơ-ri-ô-lê khóc Mai-a, vắng Nguyên Hồng ở mọi nơi cần có Nguyên Hồng. Xã hội chúng ta đang sống đây nơi nào chẳng cần có Nguyên Hồng. Tôi thèm được đạp xe lang thang cùng anh tới Trại lính Cát dem, Sở thầu Tây cụt, Máy nước hai vòi, phố Sau nhà lốp… và càng khao khát biết bao được đưa anh tới phố Nguyên Hồng, một phố nhỏ, vắng, chỉ khoảng 60 số nhà, lam lũ, chẳng thể nào bì được với phố Văn Cao. Tôi chắc anh bằng lòng với cái phố nhỏ ấy. Anh đâu phải là người của những đại lộ. Phố Nguyên Hồng Hải Phòng một đầu nối với phố Lán Bè còn gọi là phố Bờ Sông, một phố mà thời bao cấp, gần như toàn bộ dân phố khi lĩnh tem phiếu đều đem bán hết để lấy vốn làm ăn buôn bán sinh nhai. Còn đầu kia thông ra đại lộ Tôn Đức Thắng, nơi những Tám Bính mới đứng ven đường chào khách.

Không chỉ dành cho anh một tên phố, Hải Phòng nơi khai sinh ra anh với tư cách nhà văn, còn dựng tượng Nguyên Hồng. Cho tới nay tôi vẫn giữ giấy mời buổi lễ xúc động ấy. Trường Trung học Văn hoá Nghệ thuật Hải Phòng. Hai ngày trước Thiên Chúa giáng sinh. Cả trường tưng bừng trong ngày hội lớn. Tượng Nguyên Hồng dựng trong sân trường, dưới một tán lá, bên một gốc cây. Đèn đuốc sáng trưng. Các cháu ca hát, nhẩy múa. Sau buổi lễ, một bữa rượu được ghi trong chương trình: Dự tiệc rượu cùng cố nhà văn Nguyên Hồng. Một bữa rượu rất Nguyên Hồng được tổ chức ngay giữa sân trường. Chỉ có rượu trắng và thịt đựng trong đĩa lớn. Tất cả quây quần. Có thể dùng đũa hoặc bốc bằng tay. Tôi ngồi cùng bàn với Nguyễn Vũ Giang, con trai thứ hai của anh rất giống anh, sau khi về hưu, trở về ở hẳn Cầu Đen Yên Thế trông nom phần mộ hương khói cho bố mẹ. Và tiến sĩ tin học Bùi Quốc Tuấn, con rể anh, chồng Thanh Thư, cô con gái cũng mang rất nhiều nét Nguyên Hồng. Giang đem rượu từ Yên Thế xuống, thứ rượu gia truyền, sinh thời Nguyên Hồng vẫn uống. Chúng tôi đã uống cùng nhau thứ rượu này ở Cầu Đen trong ngày giỗ Nguyên Hồng hồi giữa năm, sau khi thắp hương trên mộ vợ chồng nhà văn.

Mắt tôi cay cay ngày giỗ anh đầu hè ấy và mắt tôi tràn đầy niềm vui đêm nay, đêm trước mùa lễ Giáng Sinh, khi anh đã có một hoá thân mới: Tượng đồng. Và tôi ngồi uống rượu với các con anh bên chân tượng. Sáng hôm sau ba anh em, tôi, Nguyễn Vũ Giang và Bùi Quốc Tuấn ngồi chung một chiếc xích lô tới phố Nguyên Hồng. Chúng tôi bước chậm dọc phố từ phía Lán Bè qua những hiệu tạp hoá nhỏ, những gánh quà rong, những cửa hàng bán tre nứa… và tôi cứ có cảm giác Nguyên Hồng ở đâu đó đang dõi nhìn những bước chúng tôi đi. Tới đầu phố phía đại lộ Tôn Đức Thắng, chúng tôi dừng ở một hàng nước chè chén vỉa hè. Ngồi xuống ghế. Giang giở bị bọc, lôi ra chai rượu chưa dùng đến tối qua. Và một túi lạc rang. Chúng tôi rót rượu mời mọi người. Mấy khách thanh niên đang ngồi liền bên hút thuốc, anh xe ôm cùng vài bác xích lô đón khách dưới gốc cây, ông chủ quán và cả hai ông già dáng vẻ hưu trí mải miết vào bàn cờ tướng chắc là rất gay go trên vỉa hè cạnh đó ngẩng cả đầu lên ngạc nhiên nhìn chúng tôi rót rượu ra các chén của ông hàng nước và mời tất cả. Để mọi người yên tâm vui vẻ uống, tôi giới thiệu Nguyễn Vũ Giang và Bùi Quốc Tuấn là ai. Và tại sao hai người lại có mặt ở đây. Một tiếng “a” gần như đồng thanh. Sau đó là những nụ cười cởi mở. Không có gì là ngăn cách giữa những người vừa mới gặp nhau. Uống. Những người ở phố Nguyên Hồng uống rượu với các con của Nguyên Hồng ngay trên phố Nguyên Hồng, thứ rượu Nguyên Hồng vẫn uống mang từ Bắc Giang xuống. Uống và chuyện. Chuyện về việc dựng tượng Nguyên Hồng tối qua mà báo Hải Phòng và các hãng thông tấn vỉa hè đã loan đi. Chuyện về Nguyên Hồng. Tôi nghĩ trong số dự bữa rượu vỉa hè với chúng tôi hôm ấy có người chưa đọc Nguyên Hồng lấy một dòng. Nhưng tất cả đều biết anh. Đều nói tới anh với một vẻ yêu mến và kính trọng.

Tôi bỗng nhớ đến câu nói của Nguyễn Khải về cái uy của Nguyên Hồng. Và tôi hiểu thêm một nét nữa trong cái uy ấy. Nó còn bắt nguồn từ tình cảm của tầng lớp đông đảo những người đang ngồi chung quanh tôi, trên một đầu phố Nguyên Hồng này.

B. N. T.

Nguyên Hồng ở Paris

Một anh bạn nhận xét: Tôi có cơ duyên với Nguyên Hồng. Có vẻ là như thế và nếu  vậy, đó là một may mắn, một hạnh phúc của tôi. Khi tập hồi ức Một thời để mất của tôi  viết về Nguyên Hồng in ra, mấy năm sau tôi nhận được một bức thư từ Pháp:

Vũ Quốc Phan 22 Rue Caillaux, Paris 75013, France

Mallorca 16 – 7- 2001

Thân gửi anh Tấn, chị Tấn và các cháu.

Rất thích thú tôi được đọc và đọc đi đọc lại trong lúc nghỉ hè nơi đây Một thời để mất. Tôi là anh họ Nguyên Hồng. Nhờ ngòi bút của anh mà tôi cảm thấy Nguyên Hồng vẫn sống và có Nguyên Hồng ở bên. Anh đã sống với Nguyên Hồng và tôi dám chắc anh biết Nguyên Hồng còn hơn cả Nguyên Hồng phải không Tấn? Vì thế tôi ao ước được gặp anh bất cứ ở đâu. Tôi muốn thực hiện ao ước đó và sẽ tạo điều kiện để gặp nhau. à mà ngày giỗ Nguyên Hồng 80 tuổi năm 1997 anh có lên Yên Thế dự không? Nếu anh cũng lên thì tiếc quá, vì tôi cũng về Việt Nam, có mặt ở đấy mà anh em không biết nhau mà gặp. Tôi rất thương xót Nguyên Hồng…

Vũ Quốc Phan.

Sau bức thư này ông Phan còn nhiều lần gọi điện cho tôi, và phải tới mùa thu năm 2004, tôi mới có thể sang Pháp gặp ông theo lời mời của ông. Thực lòng khi tới Paris, tôi không nghĩ mình lại có thể hiểu thêm về Nguyên Hồng mà chỉ đi như một chuyến xuất ngoại mà ông Vũ Quốc Phan gửi giấy mời, nhằm tạo điều kiện cho tôi bằng anh bằng em, một chuyến đi du lịch để nhìn thế giới. Một tấm lòng của một bạn đọc phương xa.

Tới Paris, gặp ông bà Phan, tôi mới biết rằng mình đã nhầm. Tình cảm của ông bà Phan đối với tôi thân thiết hơn nhiều, biểu lộ ngay ở tiếng xưng hô. Tôi được ông bà gọi bằng tên hoặc gọi là “chú”. Như một người em và tôi hiểu rằng tình cảm ấy tôi được thừa hưởng qua Nguyên Hồng.

Ông Vũ Quốc Phan năm nay (2004) đã 84 tuổi nhưng vẫn còn rất khoẻ mạnh và sáng suốt. Ông vẫn lái xe Mec xê đét đưa tôi đi chơi Paris cũng như vẫn nhớ như in những ngày tuổi thơ ở Nam Định, tuổi thiếu niên ở Hải Phòng cùng với Nguyên Hồng. Tôi rất thương xót Nguyên Hồng. Câu nói ấy của ông trong thư gửi cho tôi không phải  câu nói cho có vẻ văn chương mà là tấm lòng của ông với Nguyên Hồng, một cái tình vừa anh em ruột thịt vừa bè bạn. Tất cả những gì dính dáng đến Nguyên Hồng có trong tay đều được ông lưu giữ, bảo quản rất cẩn thận. Tới Paris rồi đến quận 13, một trong những quận sầm uất nhất của kinh thành ánh sáng, điều thật bất ngờ là tôi được “gặp” Nguyên Hồng ở đó. Có lẽ đó là món quà lớn nhất trong chuyến tôi sang nước Pháp mà số phận đã dành cho tôi. Không chỉ được đứng trước tháp Effeil, ngồi trong nhà thờ Đức Bà nghe hát thánh ca, tới Khải Hoàn Môn hay lâu đài của bọn cướp biển Viking sát bờ biển Normandie, về Orleans, ngược lên Lille mà tôi còn được “gặp” Nguyên Hồng trong một căn buồng phố Caillaux yên tĩnh, nơi ông bà Vũ Quốc Phan cư ngụ. Đúng là tôi có cảm giác gặp Nguyên Hồng khi ông Vũ Quốc Phan đưa cho tôi xem những bức thư của Nguyên Hồng gửi ông bà, những quyển sách có chữ đề tặng của Nguyên Hồng và đặc biệt tấm ảnh Nguyên Hồng chụp với ông Phan năm 1936. Một bức ảnh vô giá. Năm 1936 là năm Nguyên Hồng đã hoàn thành Bỉ Vỏ, tập tiểu thuyết đầu tay của ông, tập tiểu thuyết ngay tức khắc đưa Nguyên Hồng từ một thiếu niên nghèo túng vô danh trở thành một nhà văn lớn, một người của thời đại, tên tuổi mãi mãi ngời sáng trong lịch sử văn học. Tôi hiểu rằng mình đang cầm trong tay một bức ảnh của lịch sử và cứ ngắm mãi hai người trong ảnh.  Đó là hai thiếu niên cởi trần, gầy gò khoác vai nhau cười trong tư thế một chân quỳ một chân chống, cánh tay tỳ trên gối, bàn tay nắm lại thành nắm đấm nhô ra từ một khuôn cửa.

Nguyên Hồng và Vũ Quốc Phan chụp ở Đồ Sơn năm 1936 sau khi viết Bỉ Vỏ

Ảnh: Nguyên Hồng (phải) và Vũ Quốc Phan chụp ở Đồ Sơn năm 1936 sau khi viết Bỉ Vỏ

Ông Phan cười:

-Tấn thấy không? Hai lực sĩ đấy. Hai lực sĩ trơ xương, nắm chặt tay gồng lên cho nổi cơ bắp.

Tôi nhìn tấm ảnh và nhìn ông Phan. Tôi nhận ngay được ông trong ảnh. Dù cách nay đã hơn 60 năm, ông vẫn nguyên một nét mặt ấy. Còn Nguyên Hồng, quả thực không thể nhận ra. Không thể nào nhận ra được chàng lực sĩ nhí đang co tay cho nổi gân cốt, con chuột ở bắp tay phồng lên kia là người vừa viết xong Bỉ Vỏ với những suy nghĩ sâu sắc già dặn như vậy về kiếp người.

Ông Phan sinh năm 1920, sau Nguyên Hồng 3 năm (theo ông Phan, Nguyên Hồng sinh năm 1917, đúng vào năm Cách Mạng tháng Mười Nga). Bố ông Phan và mẹ Nguyên Hồng là hai anh em ruột. Ông nội ông Phan và cũng là ông ngoại Nguyên Hồng là cụ Tuần Cáng ở làng Phù Long Nam Định. Năm 1926 xẩy ra dịch tả chết rất nhiều, bố mẹ ông Phan mất vì dịch, ông Phan về ở phố Hàng Cót Phù Long với ông bà nội. Cụ Tuần Cáng có ba người con: Người con cả vẫn gọi là bác giáo Toản, người con thứ hai là ông  Vũ Đình Phúc bố ông Phan và cô gái út, bà Vũ Thị Vui, mẹ Nguyên Hồng, cô Vui theo cách gọi của ông Phan. Ngày ấy cô Vui buôn bán,  cất hoa quả, rau củ ở Vân Nam về bán ở chợ Rồng.

-Hồng nó láu lắm. Toàn ăn dỗ tôi thôi.

Nhớ lại thời niên thiếu xa lắc xa lơ, ông Phan cười nói với tôi. Bé bỏng, 6 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ, được ông bà thương, nhất là bà, thỉnh thoảng lại dấm dúi cho vài xu. Không hiểu sao, mỗi khi ông Phan có tiền, Nguyên Hồng biết ngay, đến gạ gẫm đánh bi đánh đáo. Và lần nào ông Phan cũng thua “cháy túi”. Bà nội biết, cốc vào đầu Nguyên Hồng: “Cha tiên nhân cái thằng này, từ rầy bà không cho mày đến đây nữa.” Nhiều khi chính ông Phan bị bà củng đầu, không cho chơi với Nguyên Hồng. Nhưng làm sao không chơi được. Nguyên Hồng là em nhưng lớn hơn, đọc sách nhiều, là cả một kho chuyện, biết bao nhiêu trò chơi, đánh đáo đánh bi thì khỏi nói. Lại còn từ Phù Long đi bộ lên tỉnh học qua phố Lò Sũ, nơi cô Vui và Nguyên Hồng ở, sao không ghé vào cho được. Bà nội buôn chuyến, từ Nam Định về Hải Phòng, nơi bác giáo Toản mở trường học gọi là trường Đông Hải. Khi đi mang trầu cau, giao ở chợ Sắt và khi về mang tôm cá hoa quả cho cô Vui bán ở chợ Rồng. Mỗi lần đi xa, bao giờ bà nội cũng kho cho cháu một nồi thịt hay một nồi cá kho để cháu ăn dần. Thỉnh thoảng bà cho cả tiền, nhưng thật ít khi ông Phan được tiêu, mà thường vào túi Nguyên Hồng.

Bùi Ngọc Tấn và ông bà Vũ Ngọc Phan

Ảnh: Bùi Ngọc Tấn và ông bà Vũ Ngọc Phan

-Thuở nhỏ, bố mẹ mất, tôi chỉ có Nguyên Hồng là bạn. Đi đâu cũng có nhau. Trời rét cắt ruột, tôi nhất định không ở nhà với ông bà, đòi bằng được đến Lò Sũ ngủ với Nguyên Hồng. Hai thằng rải ổ, đắp chiếu, nằm co ôm nhau, được chân hở đầu, được đầu hở chân. Chúng tôi rất quý nhau, không bao giờ tôi tố cáo Nguyên Hồng nhưng chẳng gì giấu được bà nội. Cụ rất thương tôi, luôn dành phần hơn cho tôi. Ngày tết cụ may hai cái áo dài cho hai cháu, bao giờ tôi cũng được ưu tiên chọn trước, rồi mới đến lượt Nguyên Hồng. Nguyên Hồng rất giống mẹ. Giống nhất ở tật nói lắp. Cô Vui cũng nói lắp.

Hai chúng tôi cùng cười. Tôi nhìn khuôn mặt phúc hậu của ông Phan, nhân chứng sống duy nhất còn lại của Nguyên Hồng một thời xa xưa ấy mà cảm thấy mình thật may mắn.

-Nguyên Hồng xoay sở rất giỏi. Có hôm đánh bạc được tiền, xâu vào giải rút lõng thõng, trông thấy bố, vội lấy tay ôm bụng. Bố hỏi: “Mày đau bụng à?” “Không.” “Bỏ tay ra tao xem.” Nguyên Hồng bỏ tay ra, chùm xu rơi thõng xuống. Bố bảo: “Cho tao vay.” Lại mếu máo nhưng rồi cũng phải cho bố vay, nhưng chỉ cho vay một nửa. Lại có lần bố đưa tiền đi mua thuốc phiện. Cầm tiền bố đưa, Nguyên Hồng đi đánh đáo thua hết, biến mất. ở nhà bố chờ, cơn nghiện đến, điên lên. Nguyên Hồng không dám về. Cô Vui phải đi tìm Nguyên Hồng. Về đến nhà, Nguyên Hồng sụp xuống lạy bố: “Con trót dại.” Bố đánh. Đánh đau. Roi mây vun vút. Cô Vui ngồi gian ngoài nghe tiếng roi, tiếng thét cũng ôm mặt khóc.

Cũng theo ông Phan, một trong những lý do khiến Nguyên Hồng giỏi văn là vì Nguyên Hồng phải đọc nhiều sách cho bố nghe. Cứ những lúc bố nằm trong màn với chiếc bàn đèn là Nguyên Hồng phải chui vào, đọc truyện. Ngày ấy gia đình Nguyên Hồng ra Hải Phòng ở Ngõ Cấm Đông Khê. Ông Phan cũng ra Hải Phòng ở với bà bác. Em gái ông Phan, cô Vân ở với Nguyên Hồng nhiều lắm. Nguyên Hồng là lớn, chỉ có một người em gái: cô Quế. Ông Phan và Nguyên Hồng thân thiết như hai anh em ruột. Lớn lên hai anh em càng thêm gắn bó, nhất là khi Nguyên Hồng đi tù về, cho dù gia đình rất sợ ông Phan bị bắt, bị ghi sổ đen. Hai người không dám đi với nhau, nhiều khi muốn gặp nhau phải nhắn tin qua người thứ ba. Đã nhiều lần ông Phan phải đến Tân Dân Thư quán để gặp Nguyên Hồng ở đấy mà không dám đi cùng nhau trên phố.

-Thời gian viết Bỉ Vỏ, Nguyên Hồng có nói gì với anh không?

-Em đang viết một tập. Một tập tiểu thuyết chưa từng có. Nguyên Hồng nói với tôi như vậy. Nghe thì biết thế thôi, chứ cũng không ngờ đó là quyển sách làm Nguyên Hồng nổi tiếng đến thế.

Ông Phan kéo tôi từ phòng khách vào buồng riêng, lấy ghế mời tôi ngồi trước một chiếc bàn lớn có nhiều ngăn kéo và lôi ra từ đó không biết bao nhiêu sách có chữ đề tặng của Nguyên Hồng. Này đây Bỉ Vỏ: Tặng anh chị Phan – Mai, những dòng chữ đầu tiên của những ngày đau khổ của gia đình ta ở Hải Phòng xưa. Nguyên Hồng. 27-2-1958. Tập Lò Lửa: Tặng anh chị rất thân yêu. Nguyên Hồng. Kỷ niệm mùa Xuân 1958 Hà Nội. Tập Những nhân vật ấy đã sống với tôi: và cũng sống với anh nữa đấy, bác giáo Toản và cậu Tha của chúng ta. Tập Địa Ngục: Gửi anh chị Phan – Mai những hình ảnh đau xót của dân tộc những năm 1944-1945 đã qua. V.v.. Tập sách cuối cùng Nguyên Hồng tặng ông Phan là quyển Thời kỳ đen tối: Những ngày này anh và tôi mỗi người một cảnh sống thật đáng ghi nhớ. Hà Nội 6-2-1982.

 Và đây một bức thư của Nguyên Hồng gửi ông Phan dài ba trang pơ luya, đặc kín những dòng chữ “xô vào nhau gập ghềnh lên xuống”: (…) Phan và tôi chúng ta đã đi cuộc đời của chúng ta bằng bốn cẳng chân và bốn cánh tay của hai đứa trẻ mồ côi. Tôi viết sách giữa những cánh thanh niên cùng tuổi sa ngã truỵ lạc và cam chịu những hèn nhục đâù hàng. Phan ra đi, tưởng chỉ còn là thân lạc loài, giờ thành một chuyên gia, có thể gọi là ưu tú. Chúng ta, trước dân tộc, trước mắt mọi người, trước cha mẹ dưới suối vàng, trước những người thân đã nhắm mắt, chúng ta có thể nhìn thẳng và nói mấy câu: Chúng con đã thắng! Chúng con đã thật là người! Chúng con sẽ còn góp nhiều sức nữa để làm tròn nhiệm vụ của những kẻ đã qua những đau xót và tiến lên đời sống tươi sáng, vinh dự chân chính của con người cần lao.

Anh Thịnh, anh Phụng, tất cả những lớp tuổi như thế, anh em của chúng ta phải cùng chúng ta tiến. Tôi cũng như anh, hiện nay không có cả pardessus, không có cả complet rét nữa. Tôi quyết cho đến lúc tiến hẳn được lên xã hội chủ nghĩa, thì để các con mặc đồ len, còn tôi chỉ vareuse da hay cái áo bông. Thằng Hà, hiện nay ở Trung Quốc về, tôi đã tập cho gánh nước đỡ mẹ. Rồi đây khi tôi trở về nông thôn nghiên cứu vấn đề ruộng đất, tôi sẽ cùng các cháu làm ruộng, làm vườn. Ngày kháng chiến, bà đi từ mờ sáng, nắm cái nắm cơm bằng bàn tay với muối vừng, vào trong rừng Yên Thế kiếm củi. Cứ chiều nào bà chậm về, các cháu lại ra đứng ở bờ đồi trông đợi. Nhưng về sớm lại lo. Cái bóng lệch xệch gánh củi đi giữa con đường nắng, trên trời và mặt đất âm ả tiếng Dakota bỏ bom, tiếng B26, tôi trông mẹ xa xa, thấy đau quặn từng khúc ruột. Đã có ngày cả nhà chỉ có một buồng chuối, dấm từ lúc xanh đến khi chín, không dám ăn, đem đi bán làm vốn buôn, lần hồi được tuần lễ. Lúc cắt chuối, có những mẩu thối, trông đi trông laị thấy mất, nhìn các con thì thấy phúng phính nhai, tôi vội móc mồm chúng nó ra mà không được!

Bây giờ đã không còn tiếng súng giặc, không còn những cảnh lấy đêm làm ngày, mẹ con bà cháu đoàn tụ, làm ăn dù khó khăn cũng chứa chan hạnh phúc. Chỉ cần chịu khó, chịu khó nữa cho qua bước đầu này. Phải không anh chị Phan – Mai, chúng ta sẽ nhất định lại thắng. Thôi nhé. Để thư sau viết dài hơn. Hôn anh chị và các cháu.

                                                                                          Nguyên Hồng

Tái bút. Gói quà của anh, tôi đã uỷ nhiệm cho chồng cô Quế đi lĩnh. Khi nào bà lên chơi sẽ cầm lên. Lần sau anh đừng gửi nhiều quà bánh như thế. Cam, chuối, dứa, nhãn bên nước nhiều lắm. Nhà không dư thừa nhưng các cháu cũng có luôn. Còn tôi, anh chị cho gì tôi xin nhận. Nhưng cũng xin nói lại anh chỉ cần được thư luôn của anh chị và các cháu là mừng nhất. Cùng chuyến này tôi gửi tặng anh chị cuốn Bỉ Vỏ và Những ngày thơ ấu. Cuốn Bỉ Vỏ trước kia hồi Pháp thuộc đã có người định viết thành truyện phim và quay phim. Chiến tranh phát xít bùng cháy, cuốn đó bị cấm. Nay bên Liên Xô dịch ra tiếng Nga. Tôi đã nghĩ đến anh, đến cháu. Sau đây chính những tác phẩm của tôi mà được chính những người thân thiết hiểu biết mình dịch ra thì sung sướng biết mấy. Tôi nghe nói, năm 1946, lúc phái đoàn chính phủ Việt Nam sang, cuốn Địa Ngục của tôi, trong đó gồm có những chuyện về cảnh đau khổ chết đói hai triệu người năm 1945, được đưa sang và có mấy truyện kiều bào đã dịch ra tiếng Pháp, phổ biến trong anh em lính thợ. Nếu có như thế và còn những bản bằng tiếng Pháp, anh Phan sưu tầm được thì gửi cho tôi.

Chuyến sau tôi sẽ gửi Địa ngục và Lò lửa là hai tác phẩm viết về cách mạng và đời sống đặc biệt của nhân dân Việt Nam những năm phát xít quân phiệt Nhật thống trị. Trong hai tác phẩm này, có nhiều truyện trích vào văn tuyển dạy ở các trường trung học Việt Nam. Càng nghĩ càng thấm thía về cuộc đấu tranh của dân tộc. Nếu không có cách mạng và kháng chiến thì làm sao trí thức chúng ta có được địa vị cao quý, làm sao chúng ta phát triển được tài năng? Làm sao chúng ta sống được? Và làm sao chúng ta không làm việc nhiều nữa? nhiều nữa!

                                                                                Hôn thêm các cháu

                                                                               Nguyên Hồng

Thư đề ngày 27 tháng 2 năm 1958. Đó là những ngày sóng gió của Nguyên Hồng. Anh đã mất chức chủ bút tuần báo Văn. Đã bị kiểm điểm lên xuống vì “đã làm báo Văn đi trệch đường”. Anh đã đưa cả gia đình từ Thủ Đô về Yên Thế. Nhưng không có gì làm Nguyên Hồng giảm đi lòng yêu nhân dân lòng yêu đất nước và chùn bước trên con đường  sáng tạo nghệ thuật. Cùng với bức ảnh chụp chung với Nguyên Hồng năm 1936, ông Phan còn đưa tôi một bức ảnh khác, một bức ảnh chân dung Nguyên Hồng cỡ 4×6. Tôi lật mặt sau tấm ảnh. Một chữ ký của Nguyên Hồng, dưới đề: 1957. Chiếc ảnh anh bóc ra từ tấm thẻ nhà báo khi còn ở báo Văn để tặng ông Phan, còn in dấu nổi của Sở Báo chí. Một Nguyên Hồng mặt chữ điền trẻ trung đẹp trai thông minh kiên nghị vừa tròn 40 tuổi đang trước mắt tôi. Một Nguyên Hồng trẻ hơn tôi bây giờ 30 tuổi. Cầm bức ảnh tôi không thể không nghĩ đến khi tôi mới tuổi 20, không thể không nghĩ đến bước ruổi khủng khiếp của thời gian…

NguyenHong_1957

Ảnh: Nguyên Hồng thời làm chủ bút báo Văn bị đình bản.

Nguyên Hồng gửi sách mình viết cho ông Phan. Ông Phan cũng gửi rất nhiều sách về cho Nguyên Hồng. Chủ yếu là những sách Nga và Liên Xô. Người mẹ của Gooc ki, Thép đã tôi thế đấy của Ô xtrôp xki, Anna Karenina, Chiến tranh và hoà bình của L. Tôn xtôi, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang của Sô lô khôp… Có thể nói tủ sách tiếng Pháp của Nguyên Hồng khá phong phú là nhờ ông Phan. Đó cũng là điều Nguyên Hồng viết trong thư: “Còn tôi, anh chị cho gì tôi xin nhận.” Tất nhiên kèm theo sách là quần áo ấm, thuốc men. Có một lần, ông Phan gửi về cho Nguyên Hồng một con dao cạo râu chạy điện Remington loại  mới nhất hồi đó. Hải quan Việt Nam đánh thuế cao vì là hàng xa xỉ. Nguyên Hồng không nhận. Hơn nữa, năm ấy Nguyên Hồng cũng đã để râu rồi.

Tháng 2 năm 1982, ông Phan về nước gặp Nguyên Hồng sau 42 năm xa cách và đó cũng là lần gặp nhau duy nhất. Hai người nói biết bao nhiêu chuyện. Ông Phan đã trao cho Nguyên Hồng những bức thư của những người bạn bị giam trong nhà tù quân sự trên nước Pháp vì “tội” tổ chức chống lại chính phủ Pháp, về anh em lính thợ Việt Nam bị bọn Đức cầm tù trong thế chiến thứ hai, về công lao anh em lính thợ đã đưa lúa nước vào nông nghiệp Pháp…

Nguyên Hồng vẫn nuôi mộng viết một tập sách về hai người -hai anh em- cùng chung một mục đích nhưng đi hai con đường khác nhau và dặn ông Phan sưu tầm lưu giữ những tài liệu về anh em lính thợ. Tập sách chưa được viết ra ấy dựa trên nguyên mẫu hai người: Nguyên Hồng và Vũ Quốc Phan. Tháng 12 năm 1939, sau khi thi certificat xong và học thêm hai năm nữa, chàng thanh niên mồ côi thất nghiệp Vũ Quốc Phan rời quê hương sang Pháp, sung vào đoàn lính thợ. Nhờ giỏi tiếng Pháp, ông được làm phiên dịch. Hết hạn ông thi vào trường kỹ thuật. Không có tiền theo học, cũng giống như Nguyên Hồng ở Việt Nam, ông Phan đi dạy học, dạy con em Việt kiều tại Pháp. Năm năm học, điểm số trung bình của Vũ Quốc Phan tăng dần từ 14 lên 19 điểm. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực phát thanh và trở thành giám đốc kỹ thuật đài phát thanh Europe I của Pháp. Hội nghị Fontainebleau năm 1946, chính ông Phan là người chịu trách nhiệm về âm thanh. Tại đây, ông đã được gặp Chủ Tịch Hồ Chí Minh, được Chủ Tịch tặng một tấm ảnh có chữ ký của Chủ Tịch bằng bút máy. Suốt cuộc hoà đàm Paris thời chống Mỹ kéo dài 6 năm, cũng lại chịu trách nhiệm về kỹ thuật, ông Phan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà và Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam cùng những sự giúp đỡ quý báu khác về liên lạc, về thu nhận và truyền tin mà hiện nay chưa tiện công bố. Ông Phan kể cho Nguyên Hồng biết ông đã cho bà Nguyễn Thị Bình mượn ô tô hàng ngày đi họp và những việc ông vận động ủng hộ cách mạng Việt Nam trong hàng ngũ Việt kiều, cho Nguyên Hồng xem những biên lai ghi số tiền ủng hộ cách mạng Việt Nam: Quỹ Cứu quốc, Tổ chức Việt Nam ái hữu…, thư của ông Trần Ngọc Danh thay mặt Hồ Chủ Tịch chúc mừng năm mới, giấy mời của ông Nguyễn Duy Trinh, bà Nguyễn Thị Bình mời ông Phan đi dự chiêu đãi tại Salons de Hôtel Lutetia…

Nguyên Hồng rất xúc động nói: Quý quá. Những cái này gợi cho em rất nhiều.

Thời gian về Việt Nam ở nhà Nguyên Hồng, ông Phan rất buồn thấy nhà phải đi xin, đi mua tem gạo, đong cho khách ăn. Lại còn những điều mắt thấy tai nghe khác. Thế rồi một buổi chiều hai người bắc ghế ra sân nhìn hoàng hôn Yên Thế, bỗng nhiên ông Phan hỏi:

-Anh ngạc nhiên về sự im lặng của em. Trước khi anh ra đi, em còn dám viết Bỉ Vỏ. Tình trạng hiện thời không thiếu Bỉ Vỏ mà em không viết gì cả.

-Hồng nó ôm lấy tôi. Ông Phan nói giọng nhẹ nhàng. Nó bảo tôi: Anh ạ. Hãy cứ để kệ mọi chuyện ấy đấy. Sau khi em chết mọi người sẽ biết. Cái phần gì của em, anh đem ra đi.

Ông cười:

-Tức là rượu uýt xki. Tôi đem rượu ra hai anh em uống. Nguyên Hồng vẫn dặn tôi: Có những tài liệu gì hay ở bên ấy anh hãy giữ lại hộ em. Đúng như Tấn viết: Hồng nó cứ tưởng nó còn sống lâu, còn thời gian để viết những điều nó nghĩ. Nó chết mà chưa viết được ra là nó ân hận lắm đấy.

Ông đưa cho tôi xem những tập tài liệu mới sưu tầm thêm cùng với những tấm ảnh ông chụp ở mộ Nguyên Hồng, giọng buồn buồn:

-Năm 1984 tôi lại về Việt Nam, định mang những thứ này về cho Hồng thì nó chết rồi.

 

                                                  *

 

Trước khi ra sân bay về nước, tôi đến chào ông bà Phan. Mở chai sâm banh, nâng ly mời tôi, ông Phan nhìn tôi như nhìn một người em mình sắp chia tay. Vẫn với giọng nhẹ nhàng thân thiết, ông hỏi:

-Giáng Hương thế nào rồi?

Giáng Hương là tên một nhân vật của Nguyên Hồng và cũng là tên con gái tôi. Ngày bé, cháu thường ngồi lên lòng Nguyên Hồng và vít bát của anh xuống khi anh ăn uống cùng tôi. Lớn lên, cháu hay nướng mực khô cho bác Nguyên Hồng uống rượu. Những chuyện ấy tôi đã viết trong “Một thời để mất” và ông Phan đã đọc.

-Thưa anh chị, cháu Giáng Hương năm nay đã ngoài 40 tuổi rồi ạ. Cháu dạy học.

- Sáng mai Tấn bay à? Va li đầy chưa?

-Dạ. Va li đầy rồi ạ.

-Có còn chỗ cho một cái áo nữa không?

Tôi cười:

-Thưa còn.

Ông Phan vào nhà lấy ra một gói nhỏ, một chiếc áo khoác da mầu Dullhin và nói với giọng đầy trìu mến:

-Của Giáng Hương. Để Giáng Hương trời mưa mặc đi làm. Cứ nói với Giáng Hương là áo này của bác Nguyên Hồng. Bác Nguyên Hồng cho. Nhé.

 Tôi bỗng cảm thấy không chỉ ông Phan mà cả Nguyên Hồng nữa đang ngồi trước mặt tôi.

 Hải Phòng 11-2004

Những cái tết đã thành cổ tích

 

Đã thành cổ tích thật rồi những cái tết cách đây gần 70 năm, những cái tết thần tiên một “miền thơ ấu”. Miền thơ ấu đâu chỉ là một tuổi ấu thơ mà còn là bầu trời ngày ấy, mặt đất ngày ấy, những người quanh ta ngày ấy…Thế giới của ta khi ta bắt đầu biết có ta trên cuộc đời này. Giờ đây đã vượt qua cái ngưỡng cổ lai hy, những ngày ấy luôn trở lại trong tôi như một cõi đi về.

Không còn nữa con đường làng trong mùa khô hanh, vương đầy vụn rơm rạ. Không còn cánh đồng lúa vàng sắp gặt xong, những con cun cút hốt hoảng bay lên ngay sát mũi liềm và những đêm cả nhà đập lúa, mình lăn lóc trên đống rơm tươi. Và khi việc thu hoạch đã xong xuôi, rơm lên đống thóc vào bồ, khi luỹ tre quanh nhà đang trút những chiếc lá cuối cùng xuống mảnh vườn đông kem xào xạc, còn gì thú vị hơn là tính xem bao nhiêu ngày nữa đến Tết. Tết, tiếng ấy thật ngân nga hấp dẫn. 50 ngày. 40 ngày. Rồi hôm nay đã là mồng một tháng chạp rồi. Đúng tròn một tháng nữa thôi. Càng gần tết lại càng mong, càng sốt ruột. Sao mà ngày giờ đi chậm! Kiên nhẫn trừ dần, chỉ còn trên mười ngày thì thấy Tết đã đến nơi rồi. Đã thấy lòng dạ xốn xang rồi. Nhất là một buổi sáng thấy anh cu Thước, cháu họ bố tôi mang cuốc chim, xà beng đi quanh bờ tre đánh gốc tre. Những gốc tre cao lưng lửng mà ngày thường mỗi khi có khách ở lại ăn cơm chúng tôi lại hò nhau đuổi bắt gà để mẹ tôi làm cơm đãi khách, lũ gà dại dột rúc đầu vào mà cứ tưởng mình đã được an toàn cho đến khi bị túm hai chân, lôi ra. Những cây tre chặt từ bao giờ, chỉ còn gốc khô chìa ra ngoài luỹ. Anh cu Thước bổ bằng cuốc chim, bậy bằng xà beng, rồi đem chẻ đôi gốc tre ra. Không chỉ gốc tre, anh còn lang thang trong vườn, đào những gốc cây hồng những gốc cây dâu mà bố tôi chặt đi vì nó đã cỗi. Tất cả chất thành một đống. Củi cho nồi bánh chưng đã được chuẩn bị. Sắp gói bánh rồi!

Tết lại càng gần hơn khi ông phó Hoắc, một ông thợ may trong làng cầm đồ nghề cắt may đến. Ai cũng được đo được cắt một bộ quần áo mới. Mẹ tôi đã chuẩn bị cho ngày hội cắt may này từ giữa mùa hè. Bà đã giồng bông, kéo sợi dệt vải, nhuộm nâu bằng vỏ chang, vỏ sú. Rồi khi thấy đã đạt được mầu sắc mong muốn  thì nhấn thêm mấy nước củ nâu. Mặc cái quần mới cứng cọ vào nhau sột soạt thú vị vô cùng. (Có lẽ vì vậy mà bây giờ mỗi khi đọc câu thơ Hoàng Cầm những cụ già phơ phơ tóc trắng/ những em sột soạt quần nâu, chúng tôi bao giờ cũng nhớ lại những ngày tết nhất hội hè đình đám ngày xưa.) Trời cứ rét, bầu trời hiếm hoi ánh nắng. Chúng tôi còn đang mong đến ngày được mặc thử bộ quần áo mới thì lại xẩy ra một chuyện tuyệt vời khác: Bác Buồi Ngay từ trên Vẹt Khê đem đến tết bố mẹ tôi một con gà trống. (Quê tôi có cái lệ gọi như vậy. Đẻ con gái thì gọi đệm tiếng Đĩ. Chị Đĩ Thơm, mẹ cái đĩ Tho. Đẻ con giai thì đặt thêm tiếng B. vào tên. Anh B Ngay là cháu họ bố tôi, là con ông B Vẹo và là bỗ cái đĩ Thẳng.) Ôi! Con gà trống của bác Ngay năm nào cũng là con gà trống tuyệt vời. Dù nó hoa mơ hay tía mật. Dù mào cờ hay mào nụ. Dù cựa dài hay cựa ngắn. Thả nó vào cái bu đan bằng tre thưa, trên đè mấy viên gạch, anh em chúng tôi ngồi quanh cái bu nhìn ngắm. Đàn gà nhà nuôi cứ tớn tác cả lên. Lũ gà mái cục ta cục tác ầm ĩ. Con gà trống nhà nuôi vỗ cánh dõng dạc cất tiếng gáy cảnh cáo kẻ lạ mặt và khẳng định vị trí độc tôn của mình. Không hề sợ hãi, con gà trong bu trễ cánh oai hùng, cất tiếng đáp lại. Tiếng gáy nói rằng nó coi thường tất cả. Con gà trống chủ nhà kêu lên một tiếng giận dữ. Quên cả sợ hãi, nó lao thẳng đến chố chúng tôi. Chúng tôi lùi ra. Để hai con gà, con trong lồng, con ngoài lồng xù lông xoè cánh chỉ muốn nuốt sống ăn tươi nhau. Khi cơn tức giận của chúng đã lên đến đỉnh điểm, anh em tôi mỗi người ôm một con gà và buông tay ra. Chúng lao vào nhau với một sức mạnh khó lường. Bốc lên. Ngã xuống. Lông cổ dựng đứng. Mào bật máu tươi. Im lặng đánh, không kêu một tiếng. Lùi ra xa rồi lại lao vào nhau. Chúng tôi kết thúc cuộc chiến của chúng khi vẫn còn bất phân thắng bại. Bởi vì nếu một con thua thì rất nguy hiểm. Chỉ có thể bắt nhốt  con gà lạ khi nó còn đang say máu.

Khi bác Ngay đem gà đến tết nhà tôi là không khí tết đã “sôi sục” lắm rồi. Đã cúng ông Táo. Anh cu Thước đã đem đồ đồng như lư hương, giá cắm nến ra cầu ao đánh sáng trưng. Khắp làng nhà nào cũng dựng cây nêu. Rồi tiếng lợn kêu. Gần. Xa. Xóm này ngõ khác. Ngày nhà tôi giết lợn thật vui như Tết. Chặt mấy tầu lá chuối rải ở góc sân, đặt con lợn đã chọc tiết lên đó, dội nước sôi, cạo lông. Và mổ. Chúng tôi chỉ chờ đến công đoạn mổ này. Để được anh cu Rẫu, anh ruột anh cu Thước, lẳng ra từ đống lục phủ ngũ tạng còn bốc khói nóng hôi hổi của con lợn một bộ phận quan trọng nhất đối với chúng tôi: Cái bong bóng. Cái bong bóng bèo nhèo, dầy bình bịch và khai mù ấy được chúng tôi mang ra cầu ao, nặn rửa, lấy chân day đi day lại cho nó mềm ra, mỏng đi, rồi bắt xe điếu vào thổi. Buộc, thổi. Thổi, buộc. Mỗi đứa góp một hơi, đỏ mặt tía tai. Chưa được. Cố tí nữa. Tí nữa thôi. Căng rồi! Thế là chia thành hai phe reo hò lao vào, lừa, dắt, đá. Quả bóng da của chúng tôi không tròn mà hình bầu dục cong cong bay lượn. Ngày ấy chúng tôi đã có những cú sút lá vàng rơi, đường đi của quả bóng khó lường làm bó tay mọi thủ môn mà mấy chục năm sau vua bóng đá Pê lê mới thực hiện thành công.

*

Hoá ra chúng tôi hưởng tết từ rất lâu trước khi tết đến. Biết bao niềm vui trước tết. Như giục anh tôi chặt tre bắc lên một cành me làm đu cho chúng tôi. Như ngồi nghe nồi bánh chưng sôi, chờ ăn bánh chưng con, chiếc bánh chưng năm nào cũng được gói riêng cho chúng tôi, chiếc bánh chưng vớt ra nghi ngút khói, nóng bỏng, nát be bét nhưng luôn  là miếng bánh chưng ngon nhất. Rồi đến những niềm vui trong tết. Như sáng mồng một trở dậy nhìn và nghe pháo nổ ngoài sân, khói pháo thơm lừng, xác pháo hồng rải rác mặt sân, nghĩ rằng mình đã lớn thêm một tuổi. Chờ được mừng tuổi. Rồi ngồi viết khai bút. Năm nào cũng vẫn là những vần thơ khai bút ấy:

Minh niên khai bút, bút khai hoa

Vạn sự giai thành phúc lộc đa…

Giờ đây ngồi viết những dòng này, mới thèm khát làm sao được thấy lại thế giới ấy. Được nhìn lại, thế thôi, đâu dám điên rồ mong sống lại. Được thấy lại bầu trời lành lạnh không nắng không mưa trên mảnh sân vương xác pháo hồng như cánh hoa đào. Thấy lại cây bưởi đầu sân đang nhú lộc non, mà giao thừa nào bố tôi cũng thắp hương cạnh đó khấn vái trời đất. Còn bé tí nhưng tôi cũng im lặng lắng nghe tiếng thì thầm khe khẽ của Người, không những thế lúc ấy tôi còn nghe được tiếng nói của cây cỏ. Thế giới ấy không còn nữa. Đã tan rã. Người của thế giới ấy cũng biến mất. Như chưa hề tồn tại. Một lần nghe quá khứ thúc giục, tôi đã trở về ngôi nhà cũ của bố mẹ tôi giờ đây đã thuộc về người khác, đã được phá đi làm lại hoàn toàn. Chẳng còn chút gì lưu giữ kỷ niệm xưa ngoài chiếc rãnh nhỏ phía sau nhà. Thì im lặng ngồi trên bờ rãnh, chờ một con cá đuôi cờ từ gốc cây khoai nước lao ra. Chờ mãi. Chẳng thấy cá đâu. Chỉ nghe thấy tiếng chân bước của thời gian. Và bắt gặp vĩnh cửu.

Thế giới ấy chỉ còn trong suy nghĩ của tôi. (Thế nghĩa là nó vẫn còn tồn tại. Và đã ngoài 70, tôi hiểu rằng nó chẳng tồn tại được bao lâu nữa.) Trong những đêm mất ngủ của tuổi già trằn trọc, thế giới ấy vẫn trở về cùng tôi. Mà mỗi khi nó trở về tôi lại thấy đau bởi bây giờ tôi mới biết khi ấy tôi sống trong sự tuyệt vời mà chẳng ý thức được sự tuyệt vời…

B. N. T.

Bùi Ngọc Tấn ở Châu Âu

Ảnh: Phút đầu tiên đặt chân tới Bruges, Bỉ, một trong những thành phố đẹp nhất Châu Âu. 

 

Ảnh:  Tới phố Nhân Quyền ở Nuremberg 

 

Ảnh: Một bức ảnh với các cụ Marx, Engels (Berlin) những người của lịch sử.  

 

 Ảnh: Sững sờ trước vẻ đẹp kỳ lạ của những bức tượng ở Leipzich. 

 

Ảnh: Cổng Brandenburg, biểu tượng của Berlin.  

 

Ảnh: Tới bức tường Berlin, bức tường ô nhục dấu vết một thời chia cắt và chiến tranh lạnh. 

 

Ảnh: Không thể không đến thăm tháp Eiffel 

 

 Ảnh: Đi tàu Bateaux Mouches trên sông Seine, Paris. 

 

Ảnh: Quảng trường Tự Do (nơi trước đây là ngục Bastille) 

040907C_BNT_Munchen 

Ảnh: Bùi Ngọc Tấn ở Munich, Đức 

  

040907ZF_BNT_Salzburg 

 Ảnh: Bùi Ngọc Tấn chụp trước nhà của Mozart tại Salzburg, Áo

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.