Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đón Xuân bằng hoa xương rồng

Hẹn hò mãi mới có dịp cùng rảnh rang để một chiều mùa Đông chuẩn bị sang Xuân, tôi cùng nhà thơ Vũ Thị Huyền đến góc riêng của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ngõ 10 Điện Biên Phủ với lối đi quanh co nhỏ hẹp dẫn chúng tôi lên căn hộ tầng hai biệt thự kiểu Pháp để gặp ông. Mái tóc bạc chưa hết 100%, dáng người cà rầm cà rì đúng phong cách người của những năm 60. Chậm chạp mở cửa, chậm chạp pha trà, chậm chạp trò chuyện… Những cái chậm chạp trong chiều cuối năm cứ tí tách đưa kim đồng hồ quay để chúng tôi cảm nhận mùa Xuân đang về bên cửa.

Thời gian đọng lại, câu chuyện đọng lại cho đến khi nhà văn Bùi Ngọc Tấn chỉ ra chậu xương rồng ngoài ban công, nói: “Năm nay, tôi sẽ đón Xuân bằng xương rồng. Xương rồng cũng như con người, vẫn vươn lên rạng ngời và nở hoa từ gian khổ nhọc nhằn, thiếu thốn.” Nhà văn kể, cây xương rồng vốn là của một người bạn thân với ông. Chăm sóc quá nên cây vươn cao, thẳng và bề thế. Nhưng chỉ xanh lá mà không ra hoa, bạn ông bắt đầu nản thì Bùi Ngọc Tấn xin về. Ông để hoa ở ngoài ban công, không tưới, không chăm. Kệ cho nắng, gió dội xuống chậu cây đầy gai tua tủa. Thời tiết khắc nghiệt và sự bỏ mặc khiến cây rụng gần hết lá. Nhưng thật kỳ lạ, khi những chiếc lá rụng xuống cũng là lúc những bông hoa xinh đẹp bừng nở. Và càng nắng gay gắt thì hoa càng đỏ sẫm màu. Nghe chuyện về hoa mới ngẫm lại câu nói của nhà văn, thấy có lý. Sự khắc nghiệt của cuộc đời và xã hội giúp nhà văn có nhiều tác phẩm hay. Cũng như xương rồng, phải khắc nghiệt nắng gió mới nở hoa, khoe sắc.

Ảnh:  Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Nhìn dăm ba bông hoa trong chậu bát tiên ông chỉ, có bông màu vàng cam, có bông phớt hồng, lại có bông hòa thêm chút sắc đỏ, nhà thơ Vũ Thị Huyền ngâm nga: “Hoa chưa được đỏ anh nhỉ. Hay hoa thiếu ánh mặt trời?” Nhà văn cười: “Hoa sẽ đỏ vào dịp Xuân nay. Hoa xương rồng càng già càng đỏ. Và tôi sẽ mang chậu xương rồng vào đây, ngay canh bàn uống nước này để chơi như hoa đào ngày Tết. Tết này, các bạn nhớ đến chơi để cảm nhận sắc hoa xương rồng trong phòng khách của Bùi Ngọc Tấn.”

Lời mời vào ngày cuối năm. Không vồn vã. Không hồ hởi. Cũng không nặng khách khí. Nếu có tình thì đến, thì lưu lại để cảm nhận. Cũng không níu giữ người quá bận rộn hoặc không có thời gian thảnh thơi. Cả tôi và Vũ Thị Huyền cùng cười và bất giác câu chuyện tự nhiên trở nên vui hơn, cởi mở hơn sau lời khoe sẽ dùng xương rồng để chơi Tết thay hoa đào của ông.

Cuộc gặp mặt cuối năm bên bàn uống nước trong căn phòng của nhà văn diễn ra khi ông vừa đi Nga về ít ngày. Một bạn đọc người Việt định cư tại Nga mời ông sang chơi vì yêu mến văn ông. Bùi Ngọc Tấn đến Nga và được cảm nhận sức sống mãnh liệt của văn hóa Nga trong từng mạch máu, hơi thở của người dân Nga. Trong câu chuyện ông kể về chuyến đi Nga của mình, ánh lên sự ngưỡng mộ và tình yêu với nền văn học Nga vĩ đại. Những nhà văn, nhà thơ bây giờ được dựng tượng đài sừng sững trong khu nghĩa trang dành cho những người nổi tiếng, nhưng quan trọng và ý nghĩa hơn, tượng đài của họ nằm trong trái tim mỗi người dân Nga. Để khi nói về họ, bất cứ người Nga nào cũng có thể tự hào. Bùi Ngọc Tấn trầm tư khi nói về những lá thư của bạn đọc Nga vẫn được gửi tới mộ Sê-khốp, chiếc bật lửa vẫn để ngay ngắn trên bệ mộ nhà thơ Maiakovski, những bông hoa vẫn được đặt trên mộ Lê-vi-tan…. Tình yêu của người dân Nga với văn nghệ sĩ đốt lửa cho nền văn học Nga cháy mãi. Tôi nhìn thấy trong đôi mắt xa xăm của Bùi Ngọc Tấn  niềm khao khát cách xử sự đầy văn hóa ấy ở Việt Nam.

 Miên man những câu chuyện về nước Nga, nhà văn lại quay sang những chuyến đi của ông tới Đức, tới Mỹ… Câu chuyện cứ dài mãi, dài mãi tưởng như không thể dứt. Trà cứ rót thêm, thêm nữa, thêm nữa nhưng chẳng ai còn cầm tách lên để nhâm nhi. Bởi sự lôi cuốn trong câu chuyện tâm tình về những chuyến đi của nhà văn, về lòng yêu mến của bạn đọc dành cho ông ở khắp những nơi ông đặt chân đến.

Ông giở file ảnh lưu giữ những tấm hình chụp những nơi ông từng đến trên máy tính cho chúng tôi xem. Nụ cười phảng phất đứng dưới những tán lá vàng của mùa thu Nga, đôi mắt xa xăm bên quảng trường Đỏ hay dốc Lombard (San Francisco) một cái dốc đẹp nhất nước Mỹ… Những tấm ảnh mơ hồ đọng nỗi man mác nào đó trong tâm tư nhà văn. Vướng vào nghiệp văn chương là mắc nợ với đời. Một món nợ không bao giờ trả hết. Các nhà văn thường cô đơn với cái tôi của chính mình. Thoát sao được nỗi cô đơn, dù có với được cái tôi ấy bằng tác phẩm thì bi kịch vẫn cứ quẩn quanh trong tâm trí “Tôi mắc nợ những khoảng trời Bat-đat/ Nợ rặng đèn khu phố Brot-way…” Maiakovski đã viết như vậy.

“Trà nguội hết rồi, để tôi thay chén mới…” – nhà văn nhận ra những tách trà không còn bốc khói tự bao giờ khi câu chuyện tạm ngưng một chốc. Tranh thủ, tôi và Huyền dạo qua một vòng căn phòng khách có cửa sổ nhìn ra những nếp nhà lô xô, có ban công nhìn xuống ngõ quanh co lối lên thẳng tới căn buồng của nhà văn. Dưới ấy, một chị hàng bánh đa buổi tối đang lúi húi chuẩn bị nước dùng, nhân thịt, nhân tôm… Không có mấy tiếng ồn ở trong góc nhỏ này. Hèn gì, nhà văn có thể ngồi thưởng thức không gian yên tĩnh dù sống ở một khu phố sầm uất và đông đúc vào bậc nhất của thành phố Cảng. Nhưng cái tài của những ngôi nhà kiến trúc kiểu Pháp này là, cứ đóng cửa sổ, cửa chính lại thì chẳng còn âm thanh nào lọt vào nữa. Mà ngay chính cái lối đi quanh co cũng đã cản bớt âm thanh ồn ào náo nhiệt trên đường Điện Biên Phủ vào nhà ông rồi. Bình yên. Thanh lặng vả tĩnh tâm đến lạ giữa ban ngày. Tôi có một chút gì đó cảm giác cô đơn và tưởng như ông cũng hằng ngày nhâm nhi sự yên tĩnh ấy với cái tôi của một nhà văn say viết. Ở cái góc nhỏ yên tĩnh và lặng im này, Bùi Ngọc Tấn nghiền ngẫm và thu lượm thêm nhiều chi tiết của cuộc sống để biến thành những trang viết, những truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết đến với chúng ta. Những trang viết thật như chúng ta thấy, như chúng ta sống. Như những bếp than tổ ong ngày đêm im lặng phả khói chung quanh nhà ông, như mùi của cuộc sống ẩn trong từng xiên thịt ướp húng lìu nướng và chảo chả lá lốt… của những người làm hàng tầng trệt đang bốc hơi ngào ngạt. Như những điều chưa bằng lòng và mong ước của chúng ta về một ngày mai tốt đẹp hơn. Và cũng từ cái thật ấy mà bạn đọc yêu mến ông, yêu cái giản dị bình thường của sự từng trải ẩn sâu trong con người Bùi Ngọc Tấn.  

Có khá nhiều tranh vẽ chân dung ông được treo trên bức tường của phòng khách, trên lò sưởi. Bức của Đỗ Phấn khổ nhỏ, khung vuông, bức của Đặng Xuân Hòa to hơn, treo ngang cửa ra vào với phòng ngủ đồng thời là phòng làm việc, rồi bức của Nguyễn Thanh Bình… Nhưng đập vào mắt tôi và Vũ Thị Huyền là một bức chân dung lạ, không phải của ông mà là của nhà thơ, dịch giả Dương Tường.  “Đây là một món quà đặc biệt, Dương Tường tặng tôi. Người mẫu: Dương Tường. Người vẽ: Lưu Công Nhân. Bức này giờ mang đấu giá chắc được giá lắm….” Nghe câu đùa, cả tôi và Huyền cùng bật cười. Bởi chúng tôi hiểu đây là một kỷ niệm vô giá của ông.

Ông mở tủ sách, lấy ra một cuốn sách dày đưa cho tôi xem rồi bảo: “Tôi mới lôi cuốn này ra đọc lại – “Chuông nguyện hồn ai” của Ernest Hemingway. “Hemingway là một trong những nhà văn tôi thích nhất. Tôi đọc ông từ những năm 60. Bây giờ đọc lại để gặp lại những năm tháng xa xưa si mê ông. Đọc để thấy lại tuổi trẻ của mình. Và đọc để xem sự cảm nhận và thẩm thấu của mình với Hemingway có khác đi không, qua đó biết được tuổi tác và sự nhạy cảm của mình, mình đã già đi bao nhiêu….”

Ông đang làm thử test tuổi già trong ông. Tuổi già đã đến với ông. Và ông chống lại nó. Bằng sự làm việc. Bằng niềm vui trong việc viết những gì đã trải để “góp phần lưu giữ ký ức của dân tộc” như ông tâm niệm….

 Xuân này, cùng với chậu xương rồng, Bùi Ngọc Tấn còn đón Xuân bằng một niềm vui văn chương: Tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” của ông vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản 1000 cuốn. Nhuận bút gửi về không bao nhiêu, vì ông đã mua quá nhiều sách tặng bạn bè. Bìa tiểu thuyết do người bạn có duyên với ông, người đầu tiên vẽ chân dung ông, người minh họa truyện ngắn đầu tiên khi ông viết trở lại sau 22 năm im lặng – họa sĩ Đặng Xuân Hòa thiết kế, khác hẳn với bìa cuốn sách xuất bản lần đầu. Nâng niu tập sách trên tay, nhà văn Bùi Ngọc Tấn cười thật tươi và nhìn ra chậu cây xương rồng đang nở hoa ngoài ban công.

Vẻ như mùa xuân dã về  trong căn phòng nhỏ của ông.

Phạm Thùy Linh

Ảnh: Vũ Dũng

Tái bản Biển và chim bói cá

Tiểu thuyết Biển và chim bói cá (BVCBC) đã tái bản: Bìa của Đặng Xuân Hòa, và có thêm phần phụ lục gồm bài phỏng vấn tác giả Bùi Ngọc Tấn của Dương Phương Vinh, các bài viết về BVCBC của Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Khánh Phương và Dương Tường.

- Hình ảnh bìa của BVCBC tái bản lần 2.

- Bài điểm sách của Dương Tường:

Biển và chim bói cá (*)

Trong số năm tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn đã viết, Biển và chim bói cá là cuốn duy nhất đến được với công chúng mà không gặp trục trặc gì. Ba cuốn đầu, hoàn thành trong những năm 1960, bị tịch thu từ lúc còn ở dạng bản thảo, do đó không bao giờ được chào đời. Cuốn thứ tư, Chuyện kể năm 2000, tác phẩm đã khiến ông được mệnh danh là Soljénetsyne Việt Nam, bị thu hồi và tiêu hủy một tuần sau khi phát hành.

Biển và chim bói cá, mà một số nhà phê bình văn học chào đón như xuất bản phẩm hay nhất của mùa sách này, là câu chuyện rã đám của một công ti quốc doanh đánh cá biển. Với một cấu trúc dứt khoát phi tuyến tính, không cốt truyện cũng chẳng có nhân vật chính, cuốn tiểu thuyết khoảng 500 trang này bày ra hỗn độn tung tãi những mâu đời vụn của những người làm công ăn lương cố sống cố chết bám lấy cái xí nghiệp đang ngoi ngóp trong nguy cơ “đắm tàu”. Những câu chuyện kì cục khiến ta vừa phì cười vừa muốn khóc. Những con người cùn mằn tội nghiệp – nhân viên văn phòng, cạo giấy, thủy thủ… – chạy ngược chạy xuôi đôn đáo, dùng mọi mánh xoay sở thảm hại để kiếm đủ sống qua ngày… Một chồng chất hỗn đọn những nhân vật tuy khắc họa sắc nét, thậm chí đôi khi nổi bật như tác phẩm điêu khắc, nhưng hòa trộn thành một khôi vô dạng hình, qua đó lấp ló sự suy tàn không tránh khỏi của cả một hệ thống.

Một sử thi của tan rã, tôi những muốn nói thế.

DƯƠNG TƯỜNG


(*) Bài này nguyên viết bằng tiếng Pháp cho tạp chí Carnets du Viêt Nam (Sô tay Việt Nam) số 22 – tháng 7/2009. Tác giả tự dịch sang tiếng Việt. Xem nguyên văn dưới đây

Note de lecture

La mer et les martins-pêcheurs

Des cinq romans que Bùi Ngọc Tấn a écrits, La mer et les martins-pêcheurs est le seul à parvenir jusqu’au public sans trop d’incidents. Les trois premiers, achevés dans les années 1960, ont été saisis à l’état de manuscrit et partant, n’ont pu jamais vu le jour. Le quatrième, Histoire à raconter en l’an 2000, qui lui a valu le surnom de Soljénitsyne vietnamien, a été retiré de circulation et détruit une semaine après sa parution.

La mer et les martins-pêcheurs, salué par certains critiques littéraires comme la meilleure sortie de la saison, est l’histoire de la déconfiture d’une entreprise d’État de pêche maritime. D’une structure franchement non-linéaire, sans intrigues ni protagonistes, ce roman de quelque 500 pages étale pêle-mêle des bribes de vie des salariés d’un établissement d’État  qui se cramponnent tant bien que mal à la boîte en danger de naufrage. Des histoires cocasses qui font rire et pleurer à la fois. De pauvres hères – employés, gratte-papiers, marins… –  qui se démènent à droite et à gauche, usant désespérément de toutes sortes d’expédients minables pour joindre les deux bouts et survivre à la débâcle. Un fouillis de caractères pourtant bien campés, parfois même sculpturaux, qui se fondent en une masse amorphe, à travers laquelle transparait le déclin inéluctable d’un système.

Une épopée de la désagrégation, je suis tenté de dire.                                                                           

DƯƠNG TƯỜNG

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.