Thư gửi anh Trần Phong Vũ

Thư gửi anh Trần Phong Vũ (California)

Kính gửi anh Trần Phong Vũ,

Sau khi từ biệt các anh các chị, từ Mỹ trở về Việt Nam, tôi nhận được những thông tin trái chiều về bài nói chuyện của tôi tại Boston. Có những ý kiến khen. Nhưng cũng có ý kiến chê mà chủ yếu là:

1- Tôi đã đánh đồng tất cả các cuộc chiến vào làm một.

2- Tôi như một người con trong gia đình đòi cha mẹ phần bánh chiến thắng: Lịch sử phải viết về họ, văn học phải viết về họ.

3- Tôi sợ sệt khi tiếp xúc với một số người

Về điều 1: Thực sự tôi chỉ làm cái việc thống kê những cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 mà dân tộc ta đã trải qua thôi:

“Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ, chiến tranh chống Pôn Pôt ở biên giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc.” Không có ý kiến phân tích về tính chất các cuộc chiến tranh, cũng không đánh đồng các cuộc chiến. Lại càng không có chữ “vì thế” (ở VN biết bao đơn vị anh hùng, cá nhân anh hùng đã được tuyên dương) như một bài viết đã thêm vào.

Về vấn đề thứ hai. có thể tôi đã chủ quan, nghĩ rằng ai cũng hiểu ý mình định nói. “Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù. Những người đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.”

Và:

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu phương. Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực…, tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả vào mục tiêu chung.

Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.

Lịch sử phải viết về họ.

Văn học phải viết về họ.

ý tôi muốn nói trong đoạn văn trên là: Chiến thắng của miền Bắc được làm nên bởi nhiều nguyên nhân trong đó có những năm tháng tù đầy oan khuất của biết bao người. Lịch sử không được quên nguyên nhân ấy, không được quên những người của những nguyên nhân ấy.

Văn học phải viết về họ. Vâng. Cho đến hôm nay, tôi tự hào là nhà văn duy nhất trong nước đã viết về họ. Những già Đô, những Nguỵ Như Cần, những Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Phố, những Vũ Lượng, Min, Giang Văn Giang… Tôi đã đưa cuộc sống của họ vào văn học, ra xã hội, ra ánh sáng.

Càng không phải tôi đòi chia quả thực, khi bọn người tù đầy chúng tôi (nhằm thực hiện pha lê hoá hậu phương) cho đến ngày hôm nay vẫn sống trong sự quản lý đặc biệt của nhà nước, vẫn là một thứ người loại 2. Đòi chia quả thực gì đây?

Nếu chịu khó đọc tiếp đoạn sau của bài nói chuyện thì thấy rõ ngay ý tôi định nói:

“Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10 tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.”

Chưa bao giờ tôi ngây ngô đến mức ngớ ngẩn có ý định đòi nhà nước chia phần bánh chiến thắng. Với lại đòi làm sao được mà đòi!

Có lẽ sự diễn đạt của tôi không được tốt, nên có thể hiểu theo nhiều cách trái ngược nhau.

Lỗi đó tại tôi.

Tôi xin nhận và rút kinh nghiệm trong khi viết.

Còn chuyện tôi sợ khi giao tiếp. Đúng là tôi sợ. Trong một buổi nói chuyện ở Viện Goethe cách đây mấy năm, tôi đã nhận rằng mình sợ đám đông. Tính tôi vốn ít nói, lại càng dè dặt khi tiếp xúc với những người lần đầu gặp gỡ, chưa biết người đó là ai, xấu tốt như thế nào.

Trong thời gian lưu tại Mỹ, tôi đã được các anh các chị dành thời gian đón tiếp, tôi rất cảm động.

Đi xa, tuổi cao, sức khoẻ tồi tệ, lệch múi giờ, rất kém trong giao tiếp, chắc chắn tôi có nhiều sơ xuất, mong các anh các chị thể tất.

Trân trọng cảm ơn.

Hải Phòng ngày 1-6-2009

Bùi Ngọc Tấn

Nghệ thuật đã làm được những gì hơn nó có thể làm

Xin trân trọng giới thiệu tham luận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại Hội Thảo “Văn học Việt Nam – Hoa Kỳ sau chiến tranh” do trường đại học Văn hoá Hà Nội và trung tâm William Joiner (UMASS Boston) đồng tổ chức (1/6- 3 /6 /2010). Tham luận này đã được in trong tập Con đường đi tới cái đẹp do nhà xuất bản Trí Thức ấn hành.

Tôi không nhớ chính xác thời điểm nhà văn Lê Lựu một mình chính thức sang thăm nước Mỹ theo lời mời của trung tâm William Joiner (WJC), một tổ chức phi chính phủ do một số chiến binh đã tham chiến ở Việt Nam sáng lập. Hình như là khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Đó là quãng thời gian cực kỳ khó khăn của nước ta. Chiến tranh chống Mỹ, thống nhất đất nước. Chiến tranh biên giới Tây Nam. Chiến tranh biên giới phía Bắc. Ba cuộc chiến tranh liên tiếp vừa kết thúc. Việt Nam bị tàn phá, bao vây, cấm vận, cô lập. Và trong nước cũng như ngoài nước, nhiều luồng ý kiến trái ngược nhau về nước Mỹ, một siêu cường mới đây thôi còn là kẻ thù đã rải xuống Việt Nam bao nhiêu bom đạn.

Tôi cũng không nhớ Lê Lựu đã ở Mỹ bao lâu với tư cách là một nhà văn, một người lính. Chỉ nhớ rằng khi về nước, anh đã nói chuyện ở một số nơi về chuyến đi vừa kết thúc. Người ta ghi âm buổi nói chuyện của anh. Người ta in thành băng. Người ta gọi nhau, tập trung lại nghe. Đó là một thời sự lớn. Chính tôi đã cùng nhiều người khác chụm đầu lắng nghe anh qua một cuộn băng không biết là sao chép lần thứ bao nhiêu. Hiện tượng đó nói lên một điều: Chúng tôi cũng như nhân dân khát khao biết bao một cuộc sống hoà bình, là bạn với tất cả các nước trên thế giới kể cả nước Mỹ.

Chiến tranh đã qua đi những những mất mát đau thương còn nóng hổi và lòng thù hận, những định kiến, nhìn nhau qua đôi mắt kẻ thù vẫn còn đó trong nhiều người kể cả những nhà hoạch định chính sách của hai phía. Những chiến hào phảng phất mùi thuốc súng vẫn còn ngăn cách giữa Việt Nam và Mỹ.

Chuyến đi của Lê Lựu, một chuyến đi vất vả khó khăn do hai nước chưa có quan hệ ngoại giao là giọt nước đầu tiên mở đầu công việc làm tan băng trong quan hệ giữa các cựu chiến binh hai nước.

Và từ đấy, biết bao nhiêu nhà văn và nghệ sĩ đã tới Mỹ theo lời mời của WJC cũng như của những tổ chức phi chính phủ Mỹ khác. Những người ở hai chiến tuyến từng nã súng vào nhau đẫ đến với nhau. Ban đầu chỉ là những nghi thức, không được tự nhiên, hai nhóm ngồi đối diện nhau, chủ yếu là để đọc diễn văn, và nói chuyện một cách khô cứng.

Ảnh: Các nhà văn Việt Nam và Mỹ chụp ảnh kỷ niệm

Nhưng những lời mời, những cuộc viếng thăm vẫn tiếp tục. Và dần dần những cuộc gặp gỡ sau này không còn diễn ra theo nghi thức nữa. Họ đến với nhau bằng những tấm lòng, những trái tim hướng thiện, có trách nhiệm cao với cuộc sống, cùng muốn khép lại quá khứ, vì quá khứ dù sao cũng đã là quá khứ, mà cuộc sống là phải nhìn về phía trước. Hơn thế họ là những nghệ sĩ mà nghệ sĩ nào trái tim không đầy ắp yêu thương. Trong một lần tới Mỹ, Dương Tường đã viết nhanh một bài thơ khi đứng trước bức tường ở Wasington DC, ghi tên trên 50 nghìn lính Mỹ tử trận ở Việt Nam:

Bởi lẽ mình với cậu

chưa hề biết nhau

nên mình đến

 

Bởi lẽ cậu bỏ lại mẹ cha

cùng người hôn ước

Và mình cũng từng giã biệt vợ con

nên mình đến

 

Bởi lẽ tình yêu mạnh hơn thù hận

Và có thể bắc cầu qua mọi đại dương

nên mình đến

 

Bởi lẽ cậu không trở lại

còn mình đã có ngày về

nên mình đến

 

Bài thơ của anh đã được in ở Mỹ. Nữ nhiếp ảnh Ellen Kaplowitz đã viết bài thơ lên một tấm pa nen lớn đặt ngoài cửa ra vào triển lãm của chị. Còn hoạ sĩ Rodney Dickson thì in bài thơ vào thiếp mời triển lãm của mình có tên là Life ~ Death (Sống – Chết) ở New York.

Vâng. Tình yêu mạnh hơn thù hận và bắc cầu qua mọi đại dương. 

Những cuộc gặp gỡ giữa những người hai bên chiến tuyến đã từng nổ súng vào nhau giờ đây không chỉ có những bài diễn văn viết sẵn. Mà là những hồi ức chiến tranh, những chuyện tâm tình. Đạo diễn Trần Văn Thuỷ, trong Nếu đi hết biển đã thuật lại một buổi nói chuyện giữa anh và Wayne Karlin, nhà văn tác giả của nhiều tập tiểu thuyết, giáo sư văn chương tại College of Southern Maryland, về chiến tranh Việt Nam mà hai người ở hai chiến tuyến, hơn thế, còn cùng trong một mặt trận. Trần Văn Thuỷ ôm máy quay phim chạy bộ dưới đất hoặc nấp dưới lùm cây còn Wayne Karlin ngồi trên trực thăng xả súng đại liên xuống đất. Thuỷ hỏi Wayne: “Từ trên trực thăng, khi anh bắn, anh thấy cái gì?” Wayne trả lời: “Thường thì không rõ lắm, có khi chỉ thấy các lùm cây động đậy”.

-Tôi kêu lên: “Thế thì suýt nữa anh đã bắn chết tôi rồi!”- Thuỷ kể lại. Wayne gần như khóc: “Trong các cuộc chiến, khi bắn giết nhau, người ta không hề nhận diện ra nhau, đó là điều tệ hại nhất của chiến tranh.”

Wayne đã tặng Trần Văn Thuỷ một bức ảnh chụp thời trai trẻ, mặc quân phục, trên trực thăng, bên cạnh khẩu đại liên với lời đề tặng: “Tặng anh Trần Văn Thuỷ. Tôi rất mừng là gặp anh vào thời điểm này chứ không phải lúc tôi chụp bức ảnh này. Hoà bình người anh em. Wayne Karlin.”

Cũng với nỗi ghê sợ khi con người trong chiến tranh không có gương mặt ấy, Wayne đã kể với Trần Văn Thuỷ khi ông gặp nhà văn Việt Nam Lê Minh Khuê:

- Tôi nhìn chị ấy qua cái bàn ăn ở nhà bếp và tôi đã thấy một khuôn mặt con người, mà hồi đó chiến tranh đã cố gắng biến khuôn mặt đó thành những gì không phải con người, là một cái gì phải giết chết nếu không thì mình sẽ bị giết… Chúng ta viết văn là nhằm khẳng định khuôn mặt con người, những người từng bị coi là không có khuôn mặt.

Có lẽ nhiều nhà văn Mỹ và Việt Nam cùng chung ý nghĩ với Karlin. Viết về chiến tranh để khẳng định khuôn mặt con người, về nỗi buồn chiến tranh không có đàn ông không có đàn bà như Bảo Ninh từng nói. Viết để kêu gọi tình yêu thương con người, rằng hãy đừng để chiến tranh xẩy ra, hãy sống trong hoà bình, hợp tác hữu nghị để cuộc sống con người trên trái đất ngày một tốt đẹp hơn. Rất nhiều tác phẩm văn học viết về chiến tranh Việt Nam đã được các cựu chiến binh Mỹ sáng tác mà chúng ta chưa được đọc. Nhưng nhiều sáng tác của Việt Nam về đề tài chiến tranh đã được dịch và được đọc ở Mỹ. Đặc biệt là quyển tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh.

Ảnh: Nhà văn BNT và nhà văn Bảo Ninh cùng 2 nhà văn Mỹ

Một cựu binh Mỹ sau khi đọc Nỗi buồn chiến tranh đã viết: “Là một lính thuỷ đánh bộ, tôi đã chiến đấu chống lại anh ta vào năm 68-69 và đã có mặt ở Sài gòn năm 75 khi anh ta có mặt ở đấy. Tôi tự thấy mình có sự hối tiếc đối với những người lính Băc Việt và có chút gì đó xấu hổ vì đã gây ra những nỗi buồn anh ta đã viết ra. Cuốn sách này cần cho tất cả các cựu binh đã chiến đấu ở Việt Nam.”

Nỗi buồn chiến tranh đã kéo người lính ở hai bên chiến tuyến đến với nhau, giúp hai bên hiểu nhau, nhìn nhau thấy cùng là con người và còn hơn thế.

Ông Dennis Mansker thành viên của hội cựu chiến binh vì hoà bình, hội cựu chiến binh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả nhiều tác phẩm viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, bất ngờ được đọc Nỗi buồn chiến tranh đã choáng váng vì xúc động. Ông nói: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc. Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau có tính phổ quát của những người lính ở mọi bên xung đột, và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề binh nghiệp. Bảo Ninh thực sự là bạn chiến đấu của tôi, cho dù anh ta ở phía bên kia.”

Chỉ có nghệ thuật mới khiến một người bên này chiến tuyến nhận một người bên kia chiến tuyến là bạn chiến đấu.

Trong trường hợp này, tôi muốn nói: Nghệ thuật đã làm được hơn những gì nó  có thể làm.

B. N. T.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.