Viết để sống nhẹ hơn

Bên ngoài tác phẩm

NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN

VIẾT ĐỂ SỐNG NHẸ HƠN

 

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại Hợp Thành, Thủy Nguyên, Tp. Hải Phòng. Ông làm báo viết văn khi vừa tròn 20 tuổi. Từng là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội sau đó chuyển về sinh sống, thâm nhập thực tế để sáng tác tại Hải Phòng, nhà văn đã trải qua nhiều nghề: làm báo, làm rừng, kéo xe bò, thợ sắt, bốc vác, đi buôn, nhân viên văn phòng…Hiện nghỉ hưu. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên danh dự Hội Văn bút Quốc tế và hội viên danh dự Hội Văn bút Canada.

* Xin chào nhà văn Bùi Ngọc Tấn! Được biết từ nhỏ nhà văn đã ham mê văn chương báo chí. Thế những ngày còn là HSSV nhà văn thường đọc những gì của ai?

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: – Tôi là một cậu bé nhà quê. Làng tôi, Câu Tử Ngoại cách Hải Phòng gần 20km. Những năm 30, 40 của thế kỷ trước, đây là một khoảng cách kinh khủng. Được tiếp xúc với sách là một điều cực kỳ khó khăn. Rất may, bố tôi là một người yêu sách. Những lần bố tôi sang phố đều mang về một vài quyển sách mỏng. Loại sách Hồng như Lên cung trăng, Hạt Ngọc, Bướm Trắng… Rồi Ngụ ngôn La phông ten, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú Lùn….

Lớn lên chút nữa, tôi đọc cả truyện người lớn như Cờ bạc bịp của Nguyễn Công Hoan, Gánh hàng hoa, Hồn bướm mơ tiên (Tự Lực văn đoàn)…

Tôi thuộc Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân như thuộc những sách kiếm hiệp: Long Hình Quái Khách, Nữ Bá Vương vậy. Tóm lại là vớ được quyển gì, đọc quyển ấy. Mãi tới năm học trung học mới được đọc Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo, mê đến nỗi… quên ăn, đói cũng không rời được sách!

* Không còn làm báo đã lâu nhưng ngày nào cũng đọc báo Tiền Phong (tờ báo ông từng làm phóng viên), nếu trở lại tuổi 20 nhà văn sẽ chọn cho mình nghề làm báo hay là viết văn?

- Chắc lại “Ngựa quen đường cũ” thôi. Làm báo. Và cả viết văn. Dùng ngòi bút chiến đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Và dùng ngòi bút để lưu giữ ký ức của dân tộc.

* Nhà văn quan niệm thế nào về văn chương? Nhà văn có so sánh gì về người viết văn trẻ bây giờ với người viết trẻ thời của nhà văn không?

- Với tôi, văn chương thuộc về những kẻ yếu, những người bất hạnh, những người đau khổ, những người ở tầng đáy, những người chịu đựng lịch sử. Tôi viết về họ, phụng sự họ.

Những người viết văn trẻ hôm nay thật khác xa với lớp viết văn chúng tôi ngày trước. Họ được tự do hơn (tất nhiên là tương đối) trong việc lựa chọn đề tài, trong cách viết và công bố tác phẩm. Những điều chúng tôi ngày trước có nằm mơ cũng không thấy.

* Nhà văn đã kinh qua nhiều nghề do cuộc sống bắt buộc hay nhà văn muốn đi tìm thực tế sáng tác?

- Hoàn toàn do cuộc sống xô đẩy thôi. Năm 1968, khi tôi đang làm phóng viên báo Hải Phòng thì bị bắt tập trung cải tạo gần 5 năm, không có lí do, không xét xử. Năm 1973 được tha. Thất nghiệp hơn 2 năm. Phải kiếm sống bằng nhiều nghề. Bốc vác. Kéo xe bò. Thợ sắt… Cũng không phải dễ mà có việc đâu. Tìm được việc làm là mừng lắm rồi, dù phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, dù công việc rất bấp bênh, nay có mai không. Tôi nghĩ chẳng ai lại làm một cuộc khám phá đời sống như tôi đã bị đẩy vào, bởi như thế thì đắt quá!

* Trong tuyển tập truyện ngắn “Người chăn kiến”, những câu chuyện thật như ngoài đời không thể thật hơn… Ấy là chủ ý của nhà văn?

     -  Khi lâm vào hoàn cảnh của những người dưới đáy, những phó người, tôi bỗng thấy như mình mới được sinh ra, lần đầu tiên biết có một thế giới khác vẫn tồn tại, vẫn hiện diện mà trước đây mình không hề biết. Tôi đánh giá lại những giá trị văn chương đã có trước đó và… không thể đọc được nữa. Dù là sáng tác của các bạn tôi. Nó nhạt, giả và công thức nhiều khi đến mức đáng xấu hổ.

    Cái ăng ten của tôi với một sự nhậy cảm nghệ sĩ ghi nhận và lưu giữ tất cả cuộc sống tôi mới nhìn thấy đó một cách bản năng, không tự giác. Vì ngày ấy tôi không hề nghĩ rằng rồi một lúc nào đó sẽ viết lại những gì mình có trong bộ nhớ.

    Cho đến khi bức tường Berlin sụp đổ…

    Những sáng tác của tôi “thật như ngoài đời, không thể thật hơn” như bạn nhận xét là tiêu chí của tôi mỗi khi tôi ngồi trước máy. Tất nhiên sự thật trong sáng tác cao hơn sự thật ngoài đời. Một sự thật được chắt lọc, nghiền ngẫm, tìm đến nguồn cội (tôi luôn tìm đến nguồn cội của sự việc). Một câu nói của A. Tchekhov mà tôi đọc được từ những năm 50 thế kỷ trước luôn là châm ngôn của tôi: “Trước hết các bạn ơi chớ có ăn gian nói dối. Chúng ta và cả đích thân Thượng Đế nữa. Đã có những việc như vậy đó…”. Đến Thượng Đế cũng còn nói dối cơ mà. Với tôi một tác phẩm gian dối là một tác phẩm vô đạo đức.

* Cầm bút lại sau 27 năm tạm ngưng, bút lực của nhà văn lại càng mạnh mẽ hơn. Xin nhà văn chia sẻ bí kíp để có sức viết khỏe đến thế!

    -  Cuộc đời viết văn của tôi chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1954 cho đến năm 1868, khi tôi bị bắt. Một giai đoạn không có gì đáng kể, viết không biết sợ là gì cả.

Giai đoan thứ hai: Từ năm 1990 tới nay: Tôi đã in 2 tập tiểu thuyết, 2 tập truyện ngắn và 2 tập hồi ký, tổng cộng khoảng 2500 trang. Nhưng đúng ra, những sáng tác này phải được tính từ năm 1968, thời gian tôi lăn lộn giữa đời, tích luỹ cuộc sống. Cầm bút viết chỉ là công đoạn cuối cùng.

1968 đến 2010. 42 năm. 42 năm trong một đời văn. Số lượng thế là vừa phải, cũng trung bình, nếu không nói là ít.

Tôi bằng lòng với kết quả ấy. Bởi tôi chỉ viết những gì tôi thấy cần phải viết ra để mình sống nhẹ hơn.

*Xin cảm ơn nhà văn. Chúc nhà văn sức khỏe dồi dào!

(Tập San áo Trắng)

Trương Anh Quốc thực hiện.

Đọc Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn

Chuyện Kể Năm 2000 của tác giả Bùi Ngọc Tấn ra mắt độc giả đã lâu.

Gần đây tôi được tặng bản dịch của quyển này qua tiếng Anh, A Tale For 2000, dịch giả là Đào Phụ Hồ, ấn hành tại Little Saigon vào mùa Thu năm 2010. Sách dày 704 trang.

Bản dịch dễ hiểu, giọng văn lưu loát, uyển chuyển làm tôi có cảm tưởng tôi đang đọc một quyển truyện tiếng Anh chứ không phải bản dịch. Đây là một quyển sách rất khó dịch, dịch giả phải đương đầu với tiếng lóng của người ở tù, tiếng lóng trên hè phố, giọng địa phương, cách xưng hô giữa người kể chuyện (hắn) và các nhân vật khác (ông, anh,) và tên của những cây cỏ dại hoang trong rừng núi. Tác giả là người thích đọc truyện ngoại quốc nên ông hay nhắc đến tên các tác giả và tác phẩm ngoại đã được phiên âm ra tiếng Việt cho nên dịch giả cũng phải vật lộn để tìm hiểu tác giả nói về ai, vấn đề gì, ẩn dụ gì để dịch cho đúng. Quả là gian nan. Vặt đi một vài lỗi nhỏ nhặt rải rác trong truyện thì đây là một bản dịch rất công phu. Sau khi tôi đọc bản tiếng Anh, dù rất hài lòng với bản tiếng Anh vì dịch giả đã làm việc rất cẩn trọng đầy tâm huyết, tôi đọc lại bản tiếng Việt, để chiêm nghiệm phản ứng của chính tôi đối với bản chính và bản dịch.

Bùi Ngọc Tấn sinh ngày 3 tháng 7 năm 1934 ở Hải Phòng. Tiểu sử của ông đã được đăng trên blog của ông, như sau:

Bố ông làm chủ tịch xã và chủ tịch mặt trận Liên Việt huyện Thủy Nguyên khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Năm 1947 Thủy Nguyên bị quân Pháp chiếm đóng ông theo bố mẹ tản cư lên Bắc Giang, Thái Nguyên và tiếp tục học văn hóa. Thi tiểu học, ông đỗ đầu liên khu Việt Bắc. Suốt thời gian học trung học, ông được học bổng toàn phần. Năm 1954, ông vào đội Thanh niên xung phong tiếp quản Thủ Đô. Cuối năm 1954, ông từ chối đi học kỹ thuật ở nước ngoài, về báo Tiền Phong (Trung Ương Đoàn Thanh Niên Lao Động Việt Nam) làm phóng viên. Cuối năm 1959, ông chuyển về báo Hải Phòng. Tháng 11 năm 1968 ông bị cáo buộc tội “Tuyên truyền phản cách mạng” và bị đưa đi tập trung cải tạo cho đến tháng 4 năm 1973. Thất nghiệp 2 năm, đến tháng 5-1975, nhờ sự giúp đỡ của ông Hoàng Hữu Nhân, tổng cục trưởng Tổng cục Thủy Sản, nguyên bí thư thành Uỷ Đảng Cộng Sản VN thành phố Hải Phòng, ông Tấn được đi làm nhân viên văn phòng Quốc Doanh đánh cá Hạ Long và nghỉ hưu từ tháng 5 -1995 cho tới hôm nay. Trong thời gian thất nghiệp ông đã làm rất nhiều nghề: Bốc vác, thợ sắt, đi buôn, kéo xe bò và cả… viết chui để kiếm sống.

A Tale For 2000 dày 704 trang, in thành một quyển và chia làm hai phần. Phần I nói về thời gian ở trong trại tập trung cải tạo từ năm 1968 cho đến 1973 của Nguyễn văn Tuấn, người kể chuyện có dáng dấp của tác giả. Phần II nói về đời sống của Tuấn sau khi thoát tù. Nhân vật đã vất vả kiếm sống, tìm cách minh oan, cố gắng khôi phục danh dự, và xin phép được làm việc theo đúng khả năng nghề nghiệp của mình, viết văn. Thời gian này kéo dài từ năm 1973 cho đến năm 1975, cuối cùng Tuấn được cấp giấy phép lao động, không phải viết văn, mà đi làm cho một công ty hải sản.

Năm 1968 là một thời điểm đặc biệt. Ở Hoa Kỳ, giới thanh niên biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam và phụ nữ cởi áo nịt ngực ném vào lửa đốt đòi quyền bình đẳng. Ở Trung quốc, Mao Trạch Đông phát động phong trào thanh lọc tư tưởng bài trừ văn hóa phản động. Nhà văn Yu Hua, cách đây vài năm, trong quyển Brothers (Anh Em) đã phản ảnh hoàn cảnh biến động lúc bấy giờ bằng cách cấu tạo nhân vật Song Gang, đã từng là anh hùng lao động Chủ Nghĩa Xã Hội Trung Quốc, bị người ta vu oan là phản cách mạng nên bị bỏ tù, và vợ ông bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Hứa sẽ đón vợ lúc xuất viện ở bến xe buýt nên Song Gang  trốn tù và bị Hồng Vệ Quân giết chết trước khi đến bến xe. Việt Nam, lúc bấy giờ, còn nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc nên cũng áp dụng chính sách thanh lọc nói trên. Trong Chuyện Kể Năm 2000, Nguyễn văn Tuấn, tương tự nhà văn Bùi Ngọc Tấn, con của một gia đình cách mạng có uy tín, từ chối đi học ở nước ngoài, ở lại để viết văn phục vụ quốc gia và xã hội. Giống như trường hợp Song Gang của Yu Hua, Tuấn bị vu oan tội tuyên truyền phản cách mạng, tuy không có bằng chứng cụ thể cũng không bị tuyên án, anh bị đưa đi tù, lao động khổ sai. Những người bạn thân của Tuấn trong giới viết văn cũng bị điêu đứng với giới cầm quyền. Nguyễn Vũ Phương, chuyên viết kịch bản điện ảnh bị bắt không lâu trước khi Tuấn ra khỏi tù. Nguyên Bình, nhà văn, đã bị theo dõi liên tục. Người ta đặt máy thâu âm thanh để theo dõi cuộc trò chuyện của anh.

Quyển Chuyện Kể Năm 2000 là một bộ tranh chân dung, tổng hợp nhiều khuôn mặt của nhiều thành phần và giai cấp trong xã hội miền Bắc Việt Nam trước năm 1975. Tác giả Bùi Ngọc Tấn cho độc giả hàng chục bức họa truyền thần của những nhân vật cùng chịu đựng sự khắc nghiệt của tù đày với Tuấn, bạn bè và gia đình chia sẻ và giúp đỡ ông, và những bộ mặt giảo quyệt, tham lam, độc ác hay ngu ngốc của giới cầm quyền, từ anh hạ sĩ cai quản tù nhân cho đến cấp lãnh đạo thành phố. Trong khi miêu tả hoàn cảnh xã hội, kinh tế, và chính trị thời bấy giờ, tác giả đưa ra những quan điểm như sau:

Ăn cắp không nhất thiết luôn luôn là một hành động vi phạm đạo đức. Để phán đoán hành động ăn cắp người ta cần xét lại động cơ. Tuấn là nhà văn có phẩm cách, rất liêm sỉ, tuy thế ông vào tù rồi trở thành tên ăn cắp. Ông khoe học được hai tài mọn, nói dối và ăn cắp. Ông tâm sự: không ăn cắp, có thể ông không chết nhưng sẽ rất khổ sở và buồn bã. Cuộc sống trong tù rất thiếu thốn. Tù nhân làm việc khổ sai nhưng không được cho ăn đầy đủ. Thỉnh thoảng ở trong rừng họ gặp lá sắn hay khoai môn dại họ hái lá bới củ mang về trại giam để ăn thêm. Hành động này vi phạm nội qui và bị xem là ăn cắp dù đây chỉ là những thứ mọc hoang. Với Tuấn và các tù nhân, ăn cắp trong trường hợp này là một cách chống đối và qua mặt những người có uy quyền đã đàn áp họ. Điều đáng chú ý ở đây là Tuấn, cũng như Andrew Dupresne một nhân vật trong tiểu thuyết của Stephen King, là một người ngay thẳng đầy tự trọng, vì bị tù oan mới trở nên người ăn cắp.

Những người ở tù, cả hình sự lẫn chính trị, có thể không phải là người xấu. Phần lớn nghịch cành đã đưa đẩy họ vào tù. Nhiều tù nhân giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ thức ăn với những người không được thân nhân tiếp tế vì không có thân nhân hay bị bỏ rơi. Nhiều tù nhân trở nên trộm cắp hay móc túi sau khi ra khỏi tù chỉ vì đời sống quá khốn khổ và không có chỗ cho họ nương tựa để vươn lên.  Nguyễn văn Dự bị tù vì tội dấu tài liệu tôn giáo về sau đi làm nghề móc túi; Giang, con liệt sĩ, bị tù vì tội ăn cắp xe đạp về sau trở lại nghề ăn cắp xe đạp sau khi cũng làm đủ thứ nghề như Tuấn; Voòng Kỷ Mình, người dân tộc bị tù vì tội chống tham ô; Lê Bá Di là người thẳng tính và tự trọng. Ông không chịu được sự sĩ nhục của một tên tù nịnh bợ cán bộ đã đập guốc vào mặt tên nịnh bợ này. Sau đó ông bị trả thù trước sự chứng kiến của người quản trị. A Thềnh bị lính gác ngục bắn chết vì tội đi hái ớt rừng; Lý Xìn Cắm lưng cánh phản có nét mặt của Hemingway thợ lò gốm người Hoa giản dị và tốt bụng; Già Đô làm lính thợ trên tàu của Pháp vì ngưỡng mộ ông Hồ (vì ông Hồ đã từng phụ việc chăm sóc lò hơi nước) mà trở về với hy vọng phục vụ tổ quốc, bị bỏ tù vì bị vu là gián điệp sau khi ông chống tham ô thâm lạm của công. Họ là những người biết yêu thương và giúp đỡ các tù nhân khác. Còn một khuôn mặt tù khác nữa rất đáng được quí trọng là Ngụy Như Cần, tù chính trị 23 năm.

Những người ở cương vị lãnh đạo, có quyền bắt giam tù và hạ nhục người khác là những người ăn cắp có tổ chức qui mô và được che chở. Họ có thể là những người thiếu học thức và thiếu lương tâm, nhưng thừa quyền hành. Cai trị và hành hạ những tù nhân có học thức như Tuấn là ông Thanh Vân, hạ sĩ quản lý nhà tù học lớp 10 nhưng thích làm ra vẻ triết gia; Lan mặt ngựa, công an hỏi cung Ngọc, vợ Tuấn, suốt ngày khi chị chỉ còn ba ngày nữa là sinh con; ông Trần, Giám đốc sở Công an, đã dùng mưu mô xảo quyệt cho Tuấn, một người vô tội, vào tù và không cho có điều kiện làm việc, và các ông Quảng, Khuổng là Ngưu Đầu Mã Diện của ông Trần. Đây là những người dùng quyền thế nhận chìm người khác. Cuối cùng,Thưởng, người dám liều chịu khiển trách của cấp trên, đã cấp giấy cho phép lao động cho Tuấn, không hẳn là người tốt bởi vì ông ta cũng móc ngoặc tham nhũng, tuy nhiên có ít nhiều lòng nhân đạo và không hoàn toàn giả dối như ông Trần.
Trong những bức họa chân dung của Chuyện Kể Năm 2000 có hai khuôn mặt bị tù lâu năm nhất đó là Già Đô và Ngụy Như Cần. Đây là hai nhân vật mà tác giả Bùi Ngọc Tấn đã xây dựng rất công phu. Trong khi tác giả cấu tạo Già Đô bằng phương pháp hiện thưc, thì với Ngụy Như Cần tác giả đã chấm phá bởi đường nét siêu thực.

Già Đô là lính thợ của Pháp. Ông có vợ đầm, có con lai, nhưng ông bỏ tất cả để về Việt Nam phục vụ quốc gia. Ông yêu mến và lý tưởng hóa ông Hồ Chí Minh nên dù vợ khóc ông vẫn ra đi để con lại cho người vợ nuôi. Ông chống tham ô, biểu tình nên bị đuổi ra khỏi xưởng. Người ta nghi kỵ ông vì cái lý lịch làm cho Tây, nên ông bị đi tù lao động khổ sai. Không người thân, không nhà cửa, cuộc sống ở tù đã tước đọat hết tất cả những tài năng, hy vọng. Khi được thả ra khỏi tù không hộ khẩu, không tiền, không nghề nghiệp ông sống lang thang trở nên mất trí và chết ở góc đường, xác vô thừa nhận.

Ngụy Như Cần là người miền Nam bị tù vì người ta bảo là ông phản cách mạng. Người ta đồn ông là trùm gián điệp của Mỹ hay của Pháp, và bị tù hai mươi ba năm. Ở trong tù ông bẫy lợn rừng, ông chăm lo bảy ao cá sắp theo hình bậc thang, cá được dùng để thêm vào món ăn cho cuộc sống thiếu thốn đói khổ của người tù, ông bắt hằng trăm con rít bằng chiếc đũa để cán bộ ngâm rượu. Ngụy Như Cần có tài thu phục thú vật. Ông nuôi một con khỉ, dạy nó biết nấu cơm hái rau, làm bạn với ông. Con khỉ bị cán bộ bắt đem về để cho con cháu chơi. Ông nuôi một con trăn dạy cho nó nghe hiểu ông và hễ thấy loài người thì trốn vào rừng. Ông nuôi hai con tắc kè dạy chúng diễn trò. Và đặc biệt ông nuôi một con cá chép rất to bề dài hơn một mét, biết trồi lên để ông vuốt ve. Sau hai mươi ba năm ở tù, khi được thả ra ông vào rừng treo cổ tự tử chết, có lẽ để tự mình tránh số phận của Già Đô. Sau khi Ngụy Như Cần mất rồi con cá chép bị một cán bộ bắn chết để ăn thịt.

Già Đô là khuôn mặt điển hình của những người hết lòng tin tưởng vào chế độ rồi bị chính chế độ mà họ tin tưởng chà đạp. Họ bị tù tội chỉ vì bị nghi ngờ. Là lính thợ của Pháp, đi nhiều nơi trên thế giới, từng sống ở Marseille, Già Đô khổ vì cái lý lịch của ông. Qua Già Đô tác giả cho thấy một người yêu nước, có thể đóng góp bằng tài năng kỹ thuật đã bị bạc đãi và bỏ rơi. Ông luôn luôn lo sợ sẽ bị chết trong tù mà không hề dự đoán được cuộc sống sau khi ra khỏi tù lại càng đáng sợ hơn.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn khi cấu tạo nhân vật Ngụy Như Cần đã làm một công việc đáng quí. Ông xây dựng một mẫu người miền Nam, có nhân dạng và nhân tính, thông minh và tự trọng, chứ không phải là ác quỷ hay dã thú ác độc ăn gan uống huyết người khác như một số tác giả trước đây. Có thể nói những nhân vật xấu trong Chuyện Kể Năm 2000 như Lan Mặt Ngựa, Thanh Vân, hay ông Trần đều là những người ở vị trí lãnh đạo, và nhất là giới Công an. Những nhân vật này lạm dụng quyền hành và của công. Họ bỏ tù những người ăn cắp trong khi chính họ là những người ăn cướp có giấy phép. Độc giả có thể bảo rằng Tuấn thiếu thiện cảm với những nhà lãnh đạo này là lẽ tất nhiên bởi vì họ đã trực tiếp hỏi cung, thi hành sự trừng phạt, bắt Tuấn phải chịu khuất phục trước quyền uy của họ; thì ở trường hợp của Ngụy Như Cần, hai vị cán bộ đã bắt con khỉ và bắn con cá, là những người lãnh đạo tàn nhẫn, đều không có liên can với Tuấn, lúc ấy đã là người tự do. Bắt con khỉ là tước đoạt tài sản của người tù, trong trường hợp này con khỉ không chỉ là tài sản mà còn là người thân. Bắn chết một con cá, lạ hiếm vì to lớn dị thường, chỉ để ăn thịt khi không đói kém, là một hành động dã man. Tác giả để Ngụy Như Cần tự chọn cho mình cái chết khi được trả tự do để tự bảo vệ phẩm cách không bị nhận chìm xuống tận cùng đáy của xã hội như nhân vật Già Đô. Cả hai nhân vật Già Đô và Ngụy Như Cần đều biểu lộ lòng can đảm trong sự chọn lựa giữa sự sống và cái chết.

Nếu đừng bị tù và trù dập, Bùi Ngọc Tấn rất có thể là nhà văn theo chủ nghĩa lãng mạn. Những đoạn văn hay và cảm động nhất là những đoạn Tuấn nói về tình yêu với Ngọc, vợ ông, đặc biệt là cảnh hai vợ chồng tắm dưới ánh trăng ở một nhà kho trong rừng. Nếu ngại chiều dài hơn 700 trang của quyển sách xin độc giả nên đọc ít nhất là chương 26 và hai chương cuối là những chương rất tuyệt vời.

Dù chất chứa rất nhiều chi tiết tương tự như cuộc đời của tác giả, đây không phải là hồi ký mà là tiểu thuyết. Với dạng tiểu thuyết tác giả có thể sáng tạo linh động hơn, không cần phải chính xác với từng chi tiết nhỏ, ông có thể thêm vào một nhân vật là hiện thân của hai hay nhiều nhân vật khác có thật trong đời sống. Cái ưu điểm lại trở thành nhược điểm vì nó làm giảm đi cái sức mạnh của sự thật khi độc giả tự hỏi đâu là sự thật chỗ nào là hư cấu. Để được xuất bản quyển sách vẽ lại bộ mặt của xã hội, kinh tế và chính trị, của miền Bắc, cuộc sống trong tù, cái khổ của tù nhân còn những điều gì ông đã không thể viết? Những điều Bùi Ngọc Tấn viết về ngục tù của chế độ độc tài tuy không phải là điều mới lạ, không bạo động bằng Trung quốc qua ngòi bút Yu Hua, không ác độc bằng chế độ Trujillo như Junot Diaz diễn tả, tuy nhiên sức thuyết phục của ông rất lớn vì ông là người đã sống suốt đời với chế độ và đã từng tin tưởng yêu thương chế độ này. Quan trọng nhất, ông là một nhà văn can đảm vì dám nói những điều không đẹp về một chế độ tù lao động khổ sai đã giam cầm ông và muôn vàn người lính của miền Nam Việt Nam sau năm 1975.

Nguyễn Thị Hải Hà

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.