Viết về bạn bè: Thấy chân dung tác giả

(Đọc Rừng xưa xanh lá của Bùi Ngọc Tấn)

Đình Kính

Bìa sách thiên về màu xanh, lại vẽ đồi, vẽ cây, vẽ cành và với hàng tít Rừng xưa xanh lá (NXB Hải Phòng – 2003), khiến nhiều người ngỡ đây là tập ký viết về lâm nghiệp. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chắc đã từ biển nhảy lên rừng? Không phải! Tập sách là phác họa chân dung mười văn nghệ sĩ, những bạn bè thân thiết của tác giả. Đúng hơn là mười hai vị. Song có ba vị cùng “hoàn cảnh” nên gộp vào một chân dung – Chân dung thân phận làm mướn, chân dung kẻ sĩ đi viết thuê…

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vẫn quan niệm rằng, nếu may mắn có trang sách chống chọi được với thời gian thì đó chỉ có thể là trang sách mà người viết thuộc nhất, rõ nhất, hiểu nhất những điều mình phô ra. Hầu hết tác phẩm của anh từ tiểu thuyết rồi các tập truyện ngắn Những người rách việc, Một ngày dài đằng đẵng  đến tập ký Một thời để mất, và tập chân dung này -Rừng xưa xanh lá, đều được viết ra trong quan niệm ấy. “Tôi viết ít. Và chỉ những gì tôi thấy là cần thiết. Những gì tôi sợ rồi sẽ bị lãng quên”. Tác phẩm của anh có chỗ đứng nhất định trong lòng bạn đọc, trước hết có lẽ bởi sự am tường, sự từng trải, cộng những chiêm nghiệm nơi anh trong những trang viết. Nếu gọi nhà văn là thư ký của thời đại thì anh muốn được làm người như thế.

Một trong những cái anh thuộc, ấy là bè bạn. Trong số đó không ít người đã cùng anh gắn kết, buồn vui qua gần nửa thế kỷ. Tình bạn đó được thử thách trong rủi ro, hoạn nạn. Và họ, những văn nghệ sĩ bạn anh, cuộc đời cũng rất thân phận. Vậy tại sao không viết về họ? Và anh đã viết !

Nhưng từ dự định đến lúc sách ra đời, cũng ngót ngét ba năm. Ba năm là ba mươi sáu tháng nghiền ngẫm, lao động cật lực; là hơn một ngàn ngày tập trung trí não nhặt nhạnh từng con chữ đưa lên mặt giấy. Để có 250 trang sách, chẳng dễ gì! Viết văn quả là “một trò chơi xa xỉ”, “một công việc mạo hiểm” (chữ của nhà văn Bùi Ngọc Tấn),  một công việc cực nhọc và phải kiên tâm. Nhưng nghề văn là một ma lực. Đã mấy ai trót bập vào rồi, đủ dũng khí buông bút. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn cũng vậy. Anh đã viết trở lại. Không những thế còn viết đều hơn, hay hơn. Làm văn chương đích thực chỉ có thể là những người biết vượt qua những buồn bực mang tính cá nhân để có cái nhìn cao hơn, xa hơn, khái quát hơn; biết quyện nỗi đau của mình vào những trăn trở chung của đồng loại, của dân tộc với một thái độ lịch lãm. Lịch lãm là yếu tố cần của người cầm bút. Viết văn là một hành động văn hóa. Lấy người lùn (một dị dạng, bất bình thường) để làm hề gây cười trên sân khấu xiếc (một hoạt động văn hóa) là thiếu yếu tố đẹp,  yếu tố văn hóa. Chỉ có thể đạt hiệu quả thẩm mỹ cao khi trên sàn diễn, bất luận làm tiết mục gì, cũng là những diễn viên có hình thể cân đối và có khuôn mặt đẹp. Trong văn chương cũng vậy.

Rừng xưa xanh lá là tác phẩm hay, đọc cuốn hút. Cuốn hút bởi thái độ lao động nghiêm túc của người viết. Văn Bùi Ngọc Tấn đẹp, dung dị. Viết “người thật việc thật” mà không rơi vào kể lể. Đọc không thấy nhàm. Anh có ý thức sắp đặt, chắt lọc nên nhiều cảnh huống hấp dẫn, nhiều tình tiết bất ngờ. Nhưng trên tất cả là, khi gấp sách lại rồi, ta bắt gặp cái tình nơi người viết. Như phần lớn tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn, Rừng xưa xanh lá khiến người đọc có thoáng một chút buồn, thoáng chút chua chát, nhưng vui nhiều hơn… Lao xao trong những con chữ, anh đưa ta trở lại thời bao cấp. Một thời đã từng là thế mà ngỡ như không phải thế. Một thời “khẩu phần tinh thần, khẩu phần vật chất đều được tiêu chuẩn hóa và phân phối… Một thời mà khi nhớ lại, bỗng thấy mình đã là những anh hùng, đã vượt qua quãng đời tưởng như bịa, không thể nào tin  được…”. Ngẫm lại thời đó không phải để trách cứ, mà là thái độ cảm thông, sẻ chia. Sống trong hoàn cảnh đó, để tồn tại mà theo đuổi nghiệp, những nghệ sĩ như Vũ Tín đã phải dùng đến phương tiện phục vụ nghệ thuật của mình để cầu cạnh từ chị bán thịt, cô bán cá, bà bán gạo. Những nhà văn có hạng như Chu Lai, Nguyễn Quang Thân đành hạ mình chịu nhục đi viết thuê. Viết để kiếm tiền, có bao sự trớ trêu. Người mù tịt văn chương thuê viết về họ và duyệt văn các nhà văn ! Bản thảo xong rồi mà ngượng ngùng không dám đứng tên mình. Đọc rồi cười, mà nước mắt ứa ra. Văn nghệ sĩ cũng là con người. Trước hết họ cần phải sống. Và sau lưng là gánh nặng gia đình, vợ con. Đọc Rừng xưa xanh lá tê tê đắng chát một nỗi buồn là vì thế. Những tài năng như Dương Tường, sinh ra chỉ biết nghệ thuật và sống vì nghệ thuật, một người đã dịch trên 50 đầu sách, “đó là những tác phẩm nổi tiếng của văn học thế giới, những tác phẩm luôn gợi mở cho những người cầm bút Việt Nam những suy nghĩ mới mẻ về sáng tác”, dịch trong ý thức “nghĩ đến anh em viết chưa được đọc cuốn này thì thiệt quá”; một người mà, chỉ cần tiểu luận Ai đầu tiên gọi chích choè là chích choè không thôi đã đưa anh lên hàng nghệ sĩ đích thực, cũng đã một thời từng phải đi bán máu kiếm sống. Rồi Lê Bầu, một cái tên quen thuộc với bạn đọc. Vừa là dịch giả, vừa là tác giả. Nhưng mấy ai biết hàng chục năm qua ông nhà văn đó sống trong nửa căn hộ chừng mười mét vuông, mà “lớp cót ngăn  ngày càng cũ, càng xộc xệch, bên này thở mạnh bên kia nghe thấy”. Nửa căn phòng hẹp tới mức, Lê Bầu “được cơ quan thưởng một cái quạt cần Trung Quốc, anh không có cách nào sử dụng được nó. Quạt cao, cánh rộng, để trong nhà thì nó quạt gió ra vỉa hè”… Lê Bầu mỗi khi cần đành đưa quạt ra ngoài để cho gió thốc vào. “Nó (cái quạt) cứ đứng ở vỉa hè, lênh khênh, ngạo nghễ như một gia đình thừa mứa của cải mà quạt, mà lùa gió qua cái cánh cửa van vát chênh chếch đã cải tiến vào nhà. Nhà Lê Bầu chỉ có thể tiếp được một người khách đã là hơi chật…”. Những người như Nguyễn Thị Hoài Thanh, “đồng lương không đủ nuôi mình mà chị còn phải nuôi con”. Vì nuôi con nên chị phải đủ nghề, “đi bán bánh rán, bánh mỳ, kẹo lạc, làm và bán nước mắm. Cuộc sống tưởng chừng như không có thời gian để thở, ấy thế mà Nguyễn Thị Hoài Thanh vẫn làm thơ”. Đọc những trang Bùi Ngọc Tấn viết về bạn bè, dễ dàng nhận ra tính cách tác giả. Rừng xưa xanh lá anh viết  với giọng văn đôn hậu, đằm, man mác, đôi chỗ dí dỏm, mà sâu lắng. Những trang viết về nhà văn Hứa Văn Định thật xúc động và thật hay. Hay không bởi chữ nghĩa, mà hay ở sự chân thực, hay ở tấm lòng, ở tình người.

“…Thấy tôi, vợ tôi méo xệch, òa lên:

- Anh Định chết rồi!

Rồi đưa cho tôi tờ giấy. Điện. Điện của Mạc Lân. Tôi giữ bức điện ấy cho đến ngày hôm nay như giữ dấu chấm hết cuộc đời một người bạn: Hứa Văn Định chết. Đưa sáng chủ nhật. Lân. Dấu bưu điện Hải Phòng: 29/12/1995. Tôi kiếm xe lên Hà Nội ngay lúc đó… Tất cả sách ghi tặng bạn bè đều để lại… Chỉ mang một cuốn tặng Định. Dù đã muộn rồi. Chẳng thể đưa cho Định được nữa.

… Ngày hôm sau chúng tôi tiễn Định tới nghĩa trang. Lại qua Lò Đúc. Căn phòng áp mái của Định bên trên nhà bác Thế … Lại qua Phà Đen. Và Vĩnh Tuy, nơi anh yên nghỉ cũng là nơi tôi và vợ tôi ngồi trên bãi cỏ khoác vai nhau thời đang yêu. Tôi bỗng hiểu ra một điều đơn giản: cuộc đời thật ngắn ngủi và thế hệ chúng tôi đã bắt đầu sự kết thúc kiếp phù sinh của mình. Tất cả chúng tôi sắp đi qua hành tinh này mà không để lại một vết xước nào…”

Người ta nói cái đẹp là sự giản dị. Nhưng để đạt tới cái đẹp trong sự giản dị của văn chương quả không dễ. Giản dị khác với đơn giản. ở đây là văn hóa, là nhận thức, là tài năng và học vấn ở ngưỡng cao. Đọc Bùi Ngọc Tấn dễ dàng nhận ra văn anh đã chạm tới “chính  quả”. Khi “tu luyện” nhằm vươn tới cái đỉnh ấy, hình như mọi phô diễn đều nhẹ nhàng, tự nhiên và bình dị. Bình dị nhưng cao sang, đài các, quý phái. Một đời cầm bút chỉ mong đạt tới điều ấy. Đó là lúc nhà văn đạt tới độ làm văn mà như thể không làm văn. Đó là lúc nhà văn không “làm nghề” mà viết bằng tâm, bằng tấm lòng, viết bằng sự chín nẫu của suy ngẫm. Hay nói như nhà văn Nguyễn Khải, đó là lúc nhà văn đã biết nhóm củi để đốt lên ngọn lửa xanh, trong veo, không bụi không khói.

250 trang sách gấp lại rồi, cái tình, sự đôn hậu của tác giả Rừng xưa xanh lá vẫn còn đọng lại. Ngẫm về Lê Đại Thanh, Bùi Ngọc Tấn viết : “Trái tim ông là như vậy. Một núi lửa tình yêu. Nó là nỗi đau. Nhưng cũng là sức mạnh. Ngón đòn của số phận có thể làm ai đó gục ngã. Nhưng Lê Đại Thanh thì không. Trái tim ông đã cứu ông.  Hay đúng hơn, chính nàng thơ, nghiệp chướng của đời ông đã cứu ông. Trong tấm áo choàng rực rỡ huyền ảo mỏng manh của thi ca, Lê Đại Thanh là bất khả xâm phạm. Không một ngọn roi nào chạm tới được ông. Vòng kim cô không xiết được đầu ông vì trong đó đầy ắp thi ca, đầy ắp tình yêu cuộc sống.

… Ông có một sức khỏe khiến tất cả mọi người thèm muốn. Có lẽ vì ông ca ngợi thời gian và thời gian nhẹ tay với ông. Hơn thế, thời gian ủng hộ ông”.

Thời gian nhẹ tay, ủng hộ ông. Nhưng thời gian bất lực trong ý thức công bằng. “Ngày 17 tháng 7 năm 1996 ông vĩnh biệt chúng ta. Hàng nghìn người đưa tiễn ông như ngày nào hàng nghìn người tập trung ở quảng trường Nhà hát đấu tranh bắt bọn Quốc Dân Đảng phải trả tự do cho ông. Và chỉ đến lúc ấy tất cả mới hiểu rằng đời vẫn mến yêu ông đến thế”.

Đoạn cuối bài về Mạc Lân, Bùi Ngọc Tấn viết: “Mắt anh ánh lên nỗi khát khao. Giọng anh lại vang vọng sắc thái ngày nào. Tôi cầu mong anh hoàn thành dự định (viết sách). Nhưng phải gấp lên Lân ơi. Mà không chỉ Lân. Cả mình, cả Bầu, cả Tường, cả Bão… tất cả anh em mình. Thời gian gấp lắm rồi”.

Yêu người lắm, yêu bạn lắm mới có thể hạ những dòng dung dị mà cảm động như thế!

Rừng xưa xanh lá không chỉ viết mười gương mặt, những gương mặt quen thuộc, thực sự là “những lõi sáng” trong văn học nghệ thuật: Vũ Tín, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân, Dương Tường, Mạc Lân, Lê Bầu, Hứa Văn Định, Nguyễn Thị Hoài Thanh, Lê Đại Thanh, Nguyễn Thanh Bình, Nguyên Bình, mà cuốn sách, bằng những gì được thể hiện còn phác thảo một chân dung nữa: tác giả của cuốn sách đó, nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Đọc Rừng xưa xanh lá tôi chợt bâng quơ nhớ đến câu thơ của Đoàn Thị Tảo: Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan.

9/3/2003

Đ.K

Chữ nặng

Lê Minh Hà

Người khuân Rừng xưa xanh lá từ Hải Phòng về Hà Nội cho bạn tôi gửi sang đây (C.H.L.B. Đức) là Dương Tường. Ông không biết tôi. Dĩ nhiên. Còn tôi với ông, biết chứ. Chiều se sẽ hương – Vườn se sẽ sương – Đường se sẽ quạnh – Trời se sẽ lạnh – Người se sẽ buồn… Đấy, Dương Tường. Một thoáng rợn tên là heo may – Một hương cây tên là kỷ niệm – Một góc phố tên là hò hẹn – Một nỗi nhớ tên là không tên… Dương Tường. Mea Culpa – Dương Tường. Một cái danh gắn với bao tên sách, gắn với dịch thuật, hội hoạ, với tôi, trước hết là thơ. Dương Tường thơ.

Không có bạn ông, Bùi Ngọc Tấn, thế hệ chúng tôi không biết thơ ông sống bằng gì. Sự không biết ấy, vô tình, đến một lúc nào đó phải coi là tội lỗi.

Tôi không chuộng giai thoại văn học và rất ác cảm cái lối ăn đong theo đời nghệ sĩ của một vài cây bút mãi chẳng thể nào nhớ nổi tên. Nhưng Rừng xưa xanh lá không phải là giai thoại, Viết về bè bạn không phải là giai thoại. Cũng không phải là cuốn sách về chuyện đời chuyện nghề, chứa ẩn những khái quát phát hiện về tác giả, tác phẩm, thi pháp, và. Bùi Ngọc Tấn không hì hục với kỹ thuật, vật vã với trào lưu. Với một số tác giả, việc đạt được thêm một bước trên tiến trình hiện đại hoá văn chương là toàn bộ ý nghĩa của sáng tác khiến bạn đọc vui mừng. Với Bùi Ngọc Tấn, ý nghĩa của sự trở lại với chữ là nghĩa đời.

Nặng lắm. Bởi vì ông là nghệ sĩ, là người chịu cái kiếp phải bấm chân xuống đáy đời này mà bước. Nặng vì ông là nghệ sĩ Việt Nam.

Trong nghĩa đó, viết với Bùi Ngọc Tấn là chuyện viết lại, sống lại. Viết về bè bạn là chuyện sống, và viết, một thời. Nhem nhuốc. Nhọc nhằn. Thì phận viết thuê ở xứ nào, miền khí hậu nào, thể chế nào mà chẳng nhọc nhằn, nhem nhuốc. Không thế, khối kẻ sẽ tin là chữ sẽ khô, sẽ rỗng, sẽ lâm tử.

Thì viết, nhưng viết chỉ để được viết, viết chỉ để nhận chút nhuận bút tư nhân còm, làm sinh phần chữ cho những ai đã quyền, đã tiền, còn muốn cái tên mình để lại được một vết cào trên mặt đất thì đau đớn. Liệu thời ấy trên thế giới này còn có một đất nước nào nữa sinh ra được một thế hệ viết văn chui như nước Việt Nam mình?

Thì viết. Viết để nuôi hơi thở tàn cho mình, cho bố mẹ, cho vợ, cho con, cho bè bạn. Để nhìn nhau mà sống tiếp. Nghệ sĩ nuôi chữ bằng hai lá phổi rỗng hay một cái đầu điên thế giới này khối. Nhưng tôi chưa đọc thấy ở đâu trên thế giới này thời hiện đại chuyện nghệ sĩ bán máu, nghĩa đen. Bằng máu, họ nuôi gia đình, nuôi tình bạn, nuôi thân, nuôi những con chữ, nuôi tiếng cười, phụng dưỡng khao khát về cái Đẹp.

Hôm nay tao uống máu thằng Tường. Câu đùa xanh rờn của một người bạn của các ông có lẽ làm cho ai đọc tới cũng phải rùng mình. Tôi ứa nước mắt.

Vì khi ấy, chúng tôi bao lần dẫm chân tại chỗ dậm tập nghi thức đội ở vườn hoa đối diện quán bia Cổ Tân nơi họ thường ngồi. Bao chiều, nơi ấy chúng tôi hát ve ve ve hè về vui vui vui hè về, và những bậc thang của Nhà Hát Lớn ngay bên cạnh gần như là con đường dẫn tới đỉnh cao mơ ước về cái đẹp của nghệ thuật chưa hề có trong ý thức của chúng tôi.

Trong một tập tiểu thuyết, Bùi Ngọc Tấn đã làm tôi bủn rủn vì tập hợp từ “tù ngoại trú” chụp bắt chính xác sắc diện những người chưa trải cảnh tù đầy như ông. Hình ảnh phóng chiếu của nó thật khủng khiếp. Nó trở lại cùng Viết về bè bạn. Phải, bè bạn của ông, dù án cao su như ông hay vẫn lầm lũi đi về với phố với làng những ngày đó rút lại cũng chỉ là tù nhân ngoại trú, của đời sống cơ cực một thời. Cơ cực, giá chỉ vì chiến tranh hay bao cấp! Cơ cực, vì họ là nghệ sĩ. Mà lại ở nước mình. Mà lại ở cái thời ấy.

 Một thời tin tưởng

Một thời bay bổng

Một thời hạnh phúc

Và cả một thời nhảm nhí của chúng tôi nữa (trang 303-Viết về bè bạn-Nhà xuất bản Hải Phòng-2003).

Chúng tôi sinh ra, phương trưởng vào những năm tháng ấy, mà thật ra chẳng biết gì về thời của các ông, nếu không có những cuốn sách như thế này. Tôi biết bóng lá khoảng phố nơi Dương Tường sống, nhưng tôi không biết ông đi về trên đó, vóc dáng cò rù, đảo chính thơ bằng những con âm. Tôi sống ở phố Lò Đúc một thời Hứa Văn Định, nhưng tôi không biết gì về ông ngoài một đôi bài báo độc đáo, và đã tưởng ông là một người viết trẻ độc sáng đôi sớm đôi chiều, không hề biết ông cũng viết lại, sống lại. Các ông cười được rồi về cái thời các ông có thể coi là nhảm nhí. Nhưng với ai ai, bên niềm tự hào vì đã sống chính trong thời ấy, lớn lên và đi qua thời ấy, rồi sẽ phải ngậm ngùi bởi cái thời mình cho là đẹp nhất đó có bao điều đáng xấu hổ. Vì trong đó, nghệ sĩ, lương tâm của thời đại nông nỗi thế vì những đầy ải, vò xéo. Vì đọc họ mà không biết họ cưu mang đỡ mình và những cuộc đời khác đau khổ, khát khao. Vì họ, như lá, như nắng nhỏ, lầm lũi sống, song hành với cái đẹp và làm ra đẹp. Chẳng biết để làm gì. Nhưng thiếu thì cuộc đời này không đáng sống. Bùi Ngọc Tấn viết về bè bạn mình. Tất cả là nghệ sĩ. Nhưng đằng sau cuộc đời họ, qua hồi ức của ông, qua lối viết hồn hậu bình thản của ông, ta thấy một thời, đời người.

Cảm như tiếng gào của những âm thanh im lặng khi đọc Viết về bè bạn. Đọc, không phải vì muốn có những thông tin rọi chiếu thêm vào tác giả và tác phẩm. Đọc, không phải vì tò mò chuyện bếp núc nghệ sĩ. Đọc, không phải để luyện nghề. Đây không phải là một cuốn sách làm ta dám đọc lại ngay vì những mục đích cụ thể xyz. Đọc, để thấy dẫu mình tuổi tác rồi, dẫu lên bờ xuống ruộng bao phen rồi vẫn còn biết xấu hổ và đau đớn. Đọc, để được kinh ngạc, cảm động, và thán phục, và tin. Vào chữ, vào người.

C.H.L.B. Đức

2.2.2005

L. M. H.

Bùi Ngọc Tấn kể chuyện bạn bè

vvbb

TRẦN THIÊN ĐẠO

Cứ suy theo nhan đề, thì chúng ta có thể xếp các trang Viết về bè bạn – Tập chân dung văn nghệ sĩ (NXB Hải Phòng, 2003) của Bùi Ngọc Tấn cùng một loại với mấy tập sách đã ra mắt bạn đọc vài ba năm nay.

 

Chẳng hạn như các cuốn Chân dung và đối thoại – Bình luận văn chương (NXB Thanh Niên, 1999), rất ăn khách độ nào, của Trần Đăng Khoa; Cây bút, đời người – Tập chân dung văn học (NXB Trẻ, 2002); giải phê bình văn học Hội Nhà văn 2003, của Vương Trí Nhàn; Nhà văn Việt Nam hiện đại – Chân dung & Phong cách (NXB Văn học 2003) của Nguyễn Đăng Mạnh hay Một thoáng nhân văn (NXB Khoa học xã hội, 2004) của Nguyên An… thảy đều là những tác phẩm phác hoạ chân dung các tay bút hiện đại còn sống hay đã khuất.

Mỗi tác giả một phong cách, không ai giống ai. Trần Đăng Khoa, trịch thượng; Vương Trí Nhàn, bay bướm. Nguyễn Đăng Mạnh, đạo mạo; Nguyên An, thử nghiệm tìm tòi… Còn Bùi Ngọc Tấn, thì cứ ngấm ngầm sôi bỏng, tựa như câu văn chữ viết của ông lúc nào cũng vọt ra từ trái tim và máu huyết.
Vậy nên có chuyện như vầy. Với Bùi Ngọc Tấn, chúng ta giờ đây không thể đọc ông như đọc bất luận tác phẩm nào của bất luận nhà văn nào, cho dầu đó là truyện ngắn, tiểu thuyết, hay hồi ký… Một là vì, sau thời gian hai mươi bảy năm trời bị im hơi lặng tiếng. Hai là, về phần chúng ta, làm sao có thể dửng dưng đứng ngoài mà nhìn, đọc ông một cách bàng quan, ngoại cuộc, xa lạ.

VIẾT VỀ BÈ BẠN…

Các bức chân dung Bùi Ngọc Tấn phác hoạ trong tập sách kể ra không nhiều so với mấy cuốn cùng loại nhắc tới trên. Đếm không quá đầu mười ngón tay. Nhưng ở đây, chiều sâu và bề dày đâu phải đo bằng những con số, mà nằm chính ở mật độ keo sơn các đương sự gắn bó với nhau. Bởi vì ở đây, toàn là chân dung các văn nghệ sĩ bè bạn của tác giả, đồng hội đồng thuyền với ông từ thuở nảo thuở nào:
“Các bạn tôi là tuổi trẻ của tôi, là một phần của cuộc đời tôi. (…) Họ là các nhà văn, nhà báo, hoạ sĩ, tức là những nghệ sĩ (..). Tôi viết về sự nhếch nhác trần ai của họ, của những người làm nghề mà các chân dung văn nghệ sĩ khác chưa nói tới hoặc chỉ nói qua”. (sđd, tr.6-7).

Những bạn bè nối khố, rất thân,rất gần, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi. Và, đặc biệt trong suốt thời gian 27 năm ròng ông bị loại trừ, chẳng nề tai hoạ có thể ập tới bất kỳ lúc nào, đã cứ đương nhiên chơi thân với ông, đã mến tặng ông những miếng khi đói bằng một gói khi no, về vật chất và về cả tinh thần: “Thịt ăn hết đã lâu, nhưng tình còn đó cho đến tận bây giờ”. (sđd, tr.329). Keo sơn, gắn bó với nhau trong vui chơi cũng như trong hoạn nạn. Dẫu rằng, tận đáy lòng, giá như họ có lảng tránh mình đi nữa thì ông cũng không nỡ thốt nên lời oán trách. Thấu rõ rằng chính tình thế cay nghiệt mới bắt họ phải tạm thời thờ ơ, lơ là với mình, như trong trường hợp Nguyên Hồng:
“Tôi không trách Nguyên Hồng về chuyện anh không tặng tôi sách. Tôi biết anh là người yêu quý vợ chồng tôi. Tôi biết anh là người thuỷ chung đôn hậu. Tôi thương anh. Tôi thương tôi. Mỗi chúng ta đều đáng thương. Anh đã vướng nhiều chuyện lôi thôi. Anh tránh tôi, buộc phải tránh dù lòng anh không muốn. Chúng ta mấy khi được là chúng ta đâu”. (sđd, tr.463)

Đến như Nguyên Hồng, một nhà văn tầm cỡ, có hạng – một con người hằng biết tự trọng, có bản lĩnh, đã dám từ bỏ mọi chức vụ, mọi quyền lợi, dắt vợ con lủi về thui thủi trong gian nhà vách đất ở ấp Cầu Đen, đồi Cháy, là bạn với núi rừng Yên Thế – một Hoàng Hoa Thám tân thời: “Ông đéo chơi với chúng mày nữa. Ông về  Nhã “. (sđd, tr.337), như ông đã rỉ vào tai Tô Hoài, trong một buổi giáp mặt nước mắt lưng tròng. Đến như Nguyên Hồng như vậy đó, mà cũng chẳng tài nào thoát khỏi hoàn cảnh buộc mình phải chà đạp tình nghĩa và giày xéo tâm hồn.
Thế mới biết tinh thần và tâm trạng con người bấy giờ bị vùi dập, nát nghếu và tả tơi tới mức nào!

CHÂN BƯỚC GẬP GHỀNH.

Mà không những vậy thôi đâu, họ còn phải đồng thời nếm đủ mọi mùi vị lưỡi tê tân khổ. Gánh chịu bao nhiêu là đói rách thể xác và đau đớn tinh thần ngày càng chồng chất đè nặng trên đầu. Gói mình trong bầu không khí ngột ngạt không ngớt bủa vậy, thiếu thốn ngặt nghèo. Vậy mà tác giả và bè bạn của ông vẫn cứ phải chân bước gập ghềnh trên đường thế đồ gót rỗ kì khu không chừa một ai này.

Bè bạn của ông, trước hết, là Nguyên Hồng (phần thứ hai, dưới nhan đề Một thời đã mất, sđd, tr. 297-499) – đã phải lánh mình chui rúc trong rừng sâu núi thẳm. Rồi tiếp theo, kể theo thứ tự xuất trình trong tập sách, là những Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân (đề mục Rừng xưa xanh lá, sđd, tr.11-28, Dương Tường (Tôi là bạn ông Dương Tường, sđd, tr.29-58). Lê Mạc Lân (Thời gian gấp ruổi, sđd, tr.59-91), Lê Bầu (Lê Bầu người hiểu giá trị của thời gian, sđd, tr.93-118), Nguyễn Thị Hoài Thanh (Một mơ ước về kiếp sau, sđd, tr.119-144), Hứa Văn Định (Quyển sách tặng Định, sđd, tr. 145-170), Nguyên Bình (Nguyên Bình với cô gái mồ côi và hòn đảo, sđd, tr. 171-200). Lê Đại Thanh (Một ông già sống cho đến khi chết, sđd, tr. 201-228). Nguyễn Thanh Bình (Cuộc phiêu lưu mầu trắng, sđd, tr.229-252) và cuối cùng là Vũ Tín (Thời trai trẻ đã qua, sđd, tr. 253-281).

Họ thảy đều “mang nghiệp chướng trong mình” (sđd, tr.7). Thảy đều đã trải qua số phận long đong, nghiệt ngã chẳng kém gì tác giả, từ bấy lâu rồi. Ông vụt “nhớ đến một câu của Pa-u-tốp-xki (…). Tôi viết cho bạn bè tôi và vào tuổi này họ đang ít dần “đến bây giờ tôi mới ngấm câu này”  (sđd, tr. 91). Khiến ông “bỗng hiểu ra một điều đơn giản: Cuộc đời thật ngắn ủi và thế hệ chúng tôi đã bắt đầu sự kết thúc kiếp phù sinh của mình. Tất cả chúng tôi sắp đi qua hành tinh này mà không để lại vết xước nào”. (sđd, tr. 169).
Vậy thì phải viết về họ, phải viết “về sự nhếch nhác trần ai của họ” (sđd, tr. 7), e rằng thời gian như thoi đưa, mau lẹ “gấp ruổi” (sđd, tr. 59) quá rồi, không thôi mình lại chẳng kịp hằn sâu dấu vết.

NHẾCH NHÁC TRẦN AI

* Thì họ cũng như ông, để sống còn, để nuôi vợ nuôi con, đã phải dấu mình bán chữ – bán chui, bán lén (hương hồn của những Trần Dần, của những Phùng Quán… đâu rồi). “… những người đang đi vào con đường viết lách, những cộng tác viên của một vài tờ báo, những người đang muốn có một cái truyện ký đầu tiên, hay cũng đã có một hai cái tin đăng báo và giờ đây đang giao du với những cán bộ biên tập các nhà xuất bản, những người đã có một vài sáng tác được in đang muốn kết nạp vào hội văn nghệ địa phương, kể cả hội nhà văn, rất cần bản thảo như một chứng chỉ”. (sđd, tr. 82), hoặc, ban ngày ban mặt hơn, cho tỉnh uỷ nọ: “muốn có một bộ lịch sử Đảng bộ (…)mà không thể không có bản thảo, không thể không xuất bản tập lịch sử đảng bộ” (sđd, tr. 86-87). Lê Bầu. Lê Mạc Lân… đã nếm mùi tân khổ này.

* Thì họ cũng như ông, để còn sống, để nuôi vợ nuôi con, đã phải bán máu - bán những dòng máu đỏ đang thật sự chảy trong huyết quản, khi mình đà là những bộ xương bọc da, ốm nhom ốm nhách, lại còn phải dở trò gian lận, để bán được nhiều hơn bận trước. Chỉ cần “đeo thêm chì vào người để đạt trọng lượng 70 ký lô và bán được 250, 300 cc. (…) Thế là mất đi một tí máu, nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui” (sđd, tr. 79). Rất vui, chua chát thay cho cuộc sống đoạ đày. Đoạ đày thể xác, đoạ đày tinh thần loại người lao động trí óc, khi họ ngơ ngáo ngồi chờ phiên mình: “Ngượng nghịu nhìn nhau. Rồi cũng quen dần. Lương thiện thì rõ ràng là lương thiện rồi. Nhưng nó tố cáo bước đường cùng. (…) Quần áo chỉn chu. Tóc chải gọn gàng. Mặt mũi sáng sủa, đi lại rón rén nhẹ nhàng chỉ trông cũng biết là người có học” (sđd, tr. 80-81). Dương Tường, (lại) Lê Mạc Lân… đã dấn thân sống tạm bợ như vậy một thời gian dài.

* Thì họ cũng như ông, để sống còn và, lần này, để “mơ ước về kiếp sau” (sđd, tr. 119)- đã phải trải qua cuộc đời lận đận chẳng kém gì cảnh ngộ lao lung và bị loại trừ ông từng gánh chịu. Cả cuộc đời bầm dập của Nguyễn Thị Hoài Thanh xuất phát từ “cái chuyện Nguyễn Cao Kỳ (tư lệnh không quân rồi phó thủ tướng nguỵ) là anh ruột (của) chị…” (sđd, tr.123), cộng thêm vô đó một thứ lộc trời cho: “Năm ấy, (chị) còn đang tuổi ba mươi. Thời con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần li dị. Vẻ đẹp của tuổi ba mươi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa” (sđd, tr. 126). Một thân một bóng nuôi con. Mẹ con chị ở nhà tập thể có chung mỗi một ô cửa ra vào độc nhứt, nửa gian phía ngoài dành cho mẹ con chị, nửa gian trong là kho chứa dụng cụ. Rồi một hôm, người ta bỗng dưng khoá cửa… kho dụng cụ, để “bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa“, vì chị đã một mực không chịu “ra đụng vào chạm” (sđd, tr.126) với ông trưởng phòng. Rồi sau đó, cũng vì đã, lần này, “cự tuyệt thẳng thừng”(sđd, tr.127) ông chủ nhiệm, mà gian buồng chị ở bỗng dưng đầy nghẹt bàn ghế như nêm cối, chật cứng hết phương ra vào được nữa… Cuộc đời Nguyễn Thị Hoài Thanh rồi cứ thế mà tiếp diễn. Đau đớn thay, phận đàn bà”.

* Thì họ cũng như ông… Còn nhiều cảnh tình khác nữa, mà những Hứa Văn Định, Nguyên Bình, Lê Đại Thanh, Nguyễn Thanh Bình, Vũ Tín… đã sống qua. Mà ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn đã níu kéo thời gian làm sống trở lại dưới mắt mình.

MỘT THỜI CÒN ĐÓ

Cũng tựa như nhà văn Pháp đầu thế kỷ XX tìm lại thời gian đã mất, Bùi Ngọc Tấn tái dựng khoảng thời gian ông và các văn nghệ sĩ bè bạn của ông đã trải qua. Còn đó, trên hơn 530 trang sách, khoảng thời gian đầy giông tố, bão bùng trùm phủ lên đầu hầu hết mọi người, mà bọn nhà văn nhà báo thi sĩ hoạ sĩ là những gương mặt gánh chịu nhiều hơn hết. Họ thuộc thành phần chân yếu tay mềm, dễ bề vùi dập, dễ bề vò nát. “… chúng tôi đều viết về con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, và khao khát được viết thật hơn, không chỉ có những thuận lợi mà còn những khó khăn, không chỉ những người trung thực, mà còn những kẻ quan liêu, những tên nịnh hót”. (sđd, tr. 185). Và nhứt là vì họ “có cái đầu (…)để nghĩ”, độc lập, không lệ thuộc, không xu phụ- trong “tình trạng có những cái đầu chỉ nghĩ theo những điều mà những cái đầu khác đã nghĩ sẵn cho mình”. (sđd, tr. 73). Thế là dĩ nhiên họ bị “gay go” (sđd, tr. 185) cả lũ.

Hệt như chính ông trước kia, “một kẻ mới tập tọng vào nghề khi viết luôn có ở trước mặt những nhà phê bình. Họ nghiêm khắc nhìn tôi”. Hệt như Nguyên Hồng bấy giờ: “Mình lăn lộn mình nghiền ngẫm, mình đọc, có khi 5 năm chục năm mới xong một quyển sách, mấy ông phê bình đọc vài đêm xong sáng tác của mình, thế là các ông ấy phán. Nào là chưa sâu, nào là thiếu tính giai cấp, hiện thực bị phản ánh một cách phiến diện“. (sđd, tr. 388).

Qua ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn, mọi tình huống dầu đen tối hay cười ra nước mắt đến đâu, mọi cảnh ngộ dầu đau đớn hay tủi nhục đến đâu, thảy đều được miêu tả, trình bày một cách rất mực hiền lành, trung hậu. Câu văn cứ như phẳng lỳ, nhẵn nhụi, không lồi lõm, gồ ghề. Ngôn từ cứ như bình dị, không lời cao tiếng thấp,  không mát mẻ chua chát. Thể như sự việc thuật lại chỉ là một mớ dữ kiện ngoại tại, không dích líu tới mình. Thể như tác giả chỉ là kẻ đứng ngoài mà nhìn, hờ hững quan sát thế cuộc. Dẫu rằng mắt đẫm lệ trong miền xa cách.

Nhưng đó là lớp vỏ bọc ngoài.
Và trong trường hợp này, chúng ta chớ nên coi thường bãi nước đọng, như ngạn ngữ Pháp đã nhắc: il faut se méfier de l’eau qui dort.
Chính nhờ thứ bút pháp phẳng lì và bình dị này mà tâm tình sôi sục của Bùi Ngọc Tấn khôn thôi âm ỉ trong lòng tập sách vẫn cứ vang dội vào tai những ai chịu lắng nghe.
T.T.Đ

(Nguồn: Tạp chí Sông Hương)

Giới thiệu sách mới

Giới thiệu sách mới

Tháng này, tôi xin giới thiệu đến bạn đọc một số sách đáng chú ý (theo ý kiến của tôi) mới xuất bản ở trong nước.

Viết về bè bạn
của Bùi Ngọc Tấn
Nhà xuất bản Hải Phòng, 2003. 536 trang

Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn
Nhà xuất bản Hải Phòng, 2003. 355 trang

Để hiểu ngọn ngành hai cuốn sách này và truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn, tưởng cần phải nhắc lại về tác giả một chút. Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934, nguyên quán ở Hải Phòng. Ông từng là một nhà báo (với bút hiệu Lôi Động và Tân Sắc) và nhà văn thuộc thế hệ sau 1954. Ông từng cộng tác với tờ Tiền Phong, Hà Nội, và Hải Phòng Kiến Thiết. Ông bị bắt vào tháng 11 năm 1968 vì tội “phản cách mạng, tuyên truyền chống chế độ”, và đi tù cho đến năm 1973 mới được thả ra. Năm 1993, ông tái xuất hiện trên văn đàn với bài “Nguyên Hồng: một thời đã mất” đăng trên Tạp chí Cửa Biển của Hội Nhà văn Hải Phòng. Sau này tập bút kí đó được Nhà xuất bản Hội Nhà văn in thành sách với nhiều đoạn bị đục bỏ.

Bùi Ngọc Tấn nổi tiếng trong thời gian hậu gulag hơn là thời gian trước khi ông đi tù. Ngày nay, nói đến ông, người ta nghĩ ngay đến tác phẩm Chuyện kể năm 2000, một truyện dài – hay nói chính xác hơn là tự truyện – viết về cuộc đời tù đày và cuộc sống xã hội sau khi ra tù của ông. Cuốn sách mới in xong liền bị cấm phát hành.

Viết về bè bạn (VVBB) là một tập hợp những bài viết của Bùi Ngọc Tấn về những người bạn của tác giả. Những người bạn mà Bùi Ngọc Tấn đề cập đến là Chu Lai, Nguyễn Quang Thân, Dương Tường, Mạc Lân, Lê Bầu, Nguyễn Thị Hoài Thanh, Hứa Văn Định, Nguyên Bình, Lê Đại Thanh, Nguyễn Thanh Hà, Vũ Tín, và Nguyên Hồng. Đây là những người bạn thủy chung với tác giả trong những giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời họ. Phần viết về Nguyên Hồng (hơn 200 trang) chính là cuốn sách mà Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã xuất bản, nhưng trong lần xuất bản này những đoạn bị đục bỏ được khôi phục lại cho đúng với nguyên bản.

Cuốn sách viết theo kiểu “chân dung” về sự “nhếch nhác trần ai của họ, của những người làm nghề mà các tập chân dung văn nghệ sĩ khác chưa nói tới hoặc chỉ nói qua. Viết về cái chông gai và cả hiểm nguy của người nghệ sĩ, đặc biệt là với nghề văn để các bạn trẻ suy nghĩ kĩ trước khi bước vào nghề, dấn thân vào cuộc phiêu lưu với nghệ thuật ngôn từ. Tôi muốn có bóng dáng thời đại chúng tôi đã sống trong những trang sách của tôi cũng như tôi hiểu được rằng viết chân dung, viết hồi kí là phải trung thực, nếu không muốn mình là kẻ bịp người khác.” (VVBB, trang 7).

Chông gai và nhếch nhác như thế nào? VVBB cho người đọc nhiều giai thoại thú vị nhưng có khi nhức nhối. Có những văn nghệ sĩ có tài nhưng hoặc không được viết, hoặc được viết nhưng không được in, hoặc được in nhưng không dám dùng tên thật. Có văn nghệ sĩ phải sống lây lất qua ngày bằng nghề bán chữ và … bán máu. Hãy đọc một đoạn Bùi Ngọc Tấn tả cảnh đi bán máu của Mạc Lân:

Đang loay hoay với kế mưu sinh thì Dương Tường đến. Nào ai ngờ được chính anh chàng lơ ngơ này lại là người giải quyết cho Mạc Lân vấn đề cực kì khó khăn ấy: Đi bán máu. Lân tròn xoe mắt, sửng sốt và bất ngờ. Bán máu? Bán ở đâu? Bán như thế nào? Ai mua? Ông lại sáng tác ra chuyện gì nữa thế? Không phải truyện sáng tác, hư cấu. Người thực việc thực một trăm phần trăm.
[…]
Lấy máu theo trọng lượng cơ thể. [Dương] Tường chắc mỗi lần bán chỉ được 150 cc. Lấy 200 cc có thể do cảm tình gì đó. Lân 60 kí lô mới được lấy 200 cc.

Về sau những lần Lân cần tiền Lân đeo thêm chì vào người để đạt trọng lượng 70 kí lô và bán được 250, 300 cc, anh nghĩ chắc Dương Tường cũng giở trò gian lận này. Lấy xong máu, cầm biên nhận đến tài vụ lĩnh tiền, nhận phiếu bồi dưỡng. Tiền tính theo cc còn tem phiếu thì đồng loạt. Mỗi người được lĩnh tem 2 cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít màu nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui. Con người mình bỗng nhiên tăng thêm phần giá trị trước gia đình và trước bao cặp mắt của cánh phe vé, bỗng nhiên mình được bao bọc quấn quít giữa những cái nhìn trìu mến, tình cảm, hò hẹn của đám đàn ông đàn bà chuyên sống bằng buôn bán tem phiếu lúc nào cũng có mặt ngoài cổng bệnh viện.”

VVBB còn chứa đựng một vài thông tin nhỏ mang tính cá nhân. Chẳng hạn như viết về Dương Tường, một tác giả của 50 tác phẩm dịch thuật có giá trị, người mà Gallery Lã Vọng giới thiệu [trên giấy trắng mực đen]: “Ông này [Dương Tường], nhà thơ và nhà phê bình lỗi lạc, đã soi sáng cho tôi rất nhiều khía cạnh của văn hóa Việt Nam”, chưa bao giờ là hội viện của Hội nhà văn. Chẳng hạn như Nhà thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh, người Hải Phòng (cùng quê với Bùi Ngọc Tấn), chính là em ruột của ông Nguyễn Xuân Vinh, cựu tư lệnh không quân trong quân đội Sài Gòn trước 1975 và là một nhà khoa học không gian (Mĩ), một người chống cộng tới cùng. Và cũng chính mối quan hệ ruột thịt này mà người ta nhầm lẫn bà là em của ông Nguyễn Cao Kỳ và đã làm cho nhà thơ bao phen lận đận lao đao. Chẳng hạn như Hoạ sĩ Nguyễn Thanh Bình tuy là con của một thứ trưởng ngoại giao nhưng từng đi bộ đội (dù bố mẹ anh có thể xin cho con đi học thay vì đi lính).

Nói là viết về bè bạn, nhưng trong thực tế, tác giả cũng viết về cuộc đời của chính mình trong ấy. Do đó, cuốn sách không chỉ là một phát họa về cuộc sống của những bạn bè nghệ sĩ mà còn thỉnh thoảng cho người đọc biết về những tháng ngày gian truân của tác giả từng kinh qua sau khi ra tù. Về cuộc sống thời bao cấp, Bùi Ngọc Tấn viết: “Một thời mà mỗi khi nhớ lại, bỗng nhiên thấy mình đã là những người anh hùng, đã vượt qua một quãng đời tưởng như là bịa đặt, không thể nào tin được. Và thế hệ hôm nay càng chẳng thể quan niệm nổi” (VVBB, trang 255).

VVBB không phải là một loại tản văn bình thường, mà còn là một sáng tác chữ nghĩa, những suy nghĩ độc đáo của Bùi Ngọc Tấn. Viết về Lê Đại Thanh, Bùi Ngọc Tấn nhận xét người bạn già của mình là đã “Sống chứ không phải là tồn tại.” Sống khác với tồn tại. Còn sống ngày nào hãy sống hết mình với cuộc đời, với nghệ thuật. Tiền bạc, danh vọng, địa vị, tất cả đều là hư vô. Bùi Ngọc Tấn nhận xét về cái chết như sau: “Khi cái chết đến với con người thì cũng từ đó một cuộc sống mới nẩy sinh. Ý nghĩa lớn nhất của cuộc sống vẫn còn tiếp tục sau cái chết có lẽ là sự công bằng, điều cả loài người mong ước như một khát vọng hướng thiện.” (VVBB trang 201)

Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn, như tên gọi cho biết, là một tập truyện gồm 19 truyện ngắn của Nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Sau gần một phần tư thế kỉ vắng bóng trên văn đàn, Bùi Ngọc Tấn lại cầm bút và viết khỏe. Đây là tác phẩm thứ hai (hay thứ ba) của ông kể từ khi ra tù. Bùi Ngọc Tấn từng tự sự về chính ông như sau:

Thập niên thứ tư: dưới đáy. Cố ngoi lên để khỏi bị nhận chìm xuống đáy. Đấu tranh đòi hưởng công bình, đòi hưởng luật pháp. Thập niên thứ năm: chiêm nghiệm. Xác nhận thực tại mình bị tiêu diệt. Hiểu. Thập niên thứ sáu … trò chuyện với vô cùng.”

Có thể nói tuyển tập truyện ngắn này là một “trò chuyện với vô cùng”. Những truyện trong sách tập trung vào đề tài những câu chuyện nhức nhối trong cuộc sống nhà tù và ám ảnh sau khi ra tù, những hoàn cảnh éo le đưa đẩy người nữ bộ độ vào con đường làm gái bán bia ôm, những câu chuyện thương tâm trong thời đổi mới … Tuy không khắc họa một cách lạnh lùng, trần trụi, những con người đang mất dần nhân tính và những kẻ bị đau khổ bị sỉ nhục trong xã hội như trong những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn cũng làm người đọc thêm khinh bỉ những kẻ xấu xa, xúc động trước những nỗi đau khổ của những người làm ăn lương thiện đang phải đấu tranh hàng ngày cho miếng ăn.

Trong Lời nói đầu, Dương Tường nhận xét về Bùi Ngọc Tấn như sau: “Bùi Ngọc Tấn, trong mắt tôi, là người biết chưng cất cái đau thành hi vọng, thành tiếng cười, không, chính xác hơn, thành nụ cười, vì anh không mấy khi cười thành tiếng. Tôi gọi đó là hóa học của nhân bản. Hay có khi đó là bí quyết đạt đạo của những bậc hiền?”

Nhận xét về văn phong của ông, tôi nghĩ Phạm Xuân Nguyên viết khá đầy đủ: “Giá trị nhà văn của Bùi Ngọc Tấn trước hết là ở giọng điệu văn chương làm cho người đọc hiểu ông, tin ông, đồng cảm với ông, và cùng ông đồng cảm với những phận người, những kiếp bụi nhân sinh. Cao hơn chuyện văn chương là chuyện cuộc đời. Bùi Ngọc Tấn là nhân vật của văn ông và đồng thời ông cũng là tác giả của những điều ông viết ra. Đó là văn chương của sự thật.” Qua giọng văn, người đọc có thể thấy ông là một người trầm tĩnh và bao dung, thể hiện những suy nghĩ chiều sâu của một tác giả đứng tuổi. Bùi Ngọc Tấn có một văn phong độc đáo: ngắn gọn và cô đọng. Có nhiều câu văn chỉ một chữ. Chỉ một chữ nhưng đặt vào văn cảnh thì ai cũng hiểu.

Viết về bè bạn và Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn là những cuốn sách có giá trị lịch sử văn học và văn chương mà bất cứ ai quan tâm đến văn học nước nhà cần phải có trong tủ sách.

Nguyễn Văn Tuấn (Nguồn Tuan’s blog)

4/2003

Viết Về Bè Bạn

vvbbTủ Sách Tiếng Quê Hương vừa cho ra đời một lúc ba tác phẩm, trong đó có cuốn “Viết Về Bè Bạn” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Về hình thức, đây là một trong ba cuốn sách được trình bày và ấn loát công phu với kỹ thuật và mỹ thuật cao, vì cả ba đều được Tiếng Quê Hương gửi in bên Đài Loan, không nề tốn kém. Sách dày ngót 400 trang, đóng chỉ. Bìa offset bốn màu do Từ Phong trình bày, trước và sau có mép gấp vào, vừa dày dặn vừa lịch sự, trang nhã, nhìn thoáng đã thấy bắt mắt.

Độc giả trong nước đã biết nhiều tới tên tuổi Bùi Ngọc Tấn sau khi tác phẩm “Chuyện Kể Năm 2000″ của ông vừa in ra thì bị nhà cầm quyền cộng sản ra lệnh tịch thu toàn bộ. Đây là tác phẩm thứ hai tiếp theo tập truyện “Những Người Rách Việc” được ra mắt sau khi tác giả ra khỏi nhà tù và bị cấm viết liên tiếp trong hơn một phần tư thế kỷ (27 năm chẵn). Ngay sau đó không lâu, “Chuyện Kể Năm 2000″ đã được tái bản ở hải ngoại, được bà con đón nhận nồng nhiệt, và nhờ thế chúng ta được biết tới phong cách và văn tài của ông.

Viết Về Bè Bạn” là một cuốn hồi ký. Nhưng khác với những hồi ký quen thuộc -trong đó, nếu không tất cả thì hầu hết những sự việc chính thường xoay quanh thân thế và sự nghiệp của tác giả- trong tác phẩm này Bùi Ngọc Tấn đã chọn những người bạn văn của ông làm đối tượng hồi ký. Và mặc dầu Bùi Ngọc Tấn không công khai bộc lộ, nhưng người đọc hiều ngầm được những lý do sâu xa khiến một người từng ở tù như ông, không hoặc chưa thề trực tiếp viết về mình, ít nữa là trong lúc này.

Trong Lời Đầu Sách, tác giả viết: “Thôi thì trong khi chưa hồi ký được về mình hãy “Viết Về Bè Bạn“. Và ông nhấn mạnh: “Nhưng các bạn tôi hầu hết là những người chịu nhiều vất vả, kể cả đắng cay… Đành có sao viết vậy… Tôi viết về sự nhếch nhác trần ai của họ” (VVBB trang 12)

Trong đoản văn đầu tiên: Rừng Xưa Xanh Lá, Bùi Ngọc Tấn đã hé mở cho người đọc thấy phần nào cái “nhếch nhác, trần ai” của ba người bạn văn của ông: Đình Kính, Chu lai, hai nhà văn quân đội và Nguyễn Quang Thân, tác giả nhiều thiên tiểu thuyết từng một thời làm say mê độc giả ở quốc nội. Ông viết: “Phải có tiền…..Và cũng chỉ còn một cách kiếm tiền: viết thuê. Dùng nghề nghiệp của mình kiếm sống“.

Để có tiền, nói cách khác, để sống còn, “Thôi thì đành gác lại những trang sách vẫn nghiền ngẫm nung nấu, những tác phẩm sẽ được viết ra bằng tim gan mình. Hãy để lại sau. Để đến bao giờ chưa biết, nhưng trước mắt là kiếm sống(VVBB trang 15)

Đình Kính, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân đã phải ép mình chấp nhận viết thuê cho viên giám đốc một lâm trường quốc doanh. Dĩ nhiên họ không thể viết theo ý mình. Họ phải vận dụng ngôn từ, chủ nghĩa, kể cả những mánh lới mang tính lưu manh, để thỏa mãn ý muốn của người thuê viết, là biến “Rừng xưa lá úa” trở thành “Rừng xưa xanh lá”.

Rừng xưa lá úa. Nhưng những con người đến cùng rừng hôm nay đã thay lá cho rừng. Không phải đất trời, sự vận động của thời tiết, của bốn mùa đã làm nên điều ấy. Mà chính là những con người (…) (…) Con đường mới mở trong rừng đâu phải chỉ làm bằng máy móc. Trước hết, nó được làm bằng trí tuệ, bằng tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội của những người làm việc âm thầm không cần ai biết đến…..Rừng thay lá. Rừng sống lại. Rừng lại hát khúc ca hùng tráng của rừng“.

Những cây bút viết thuê này biết rằng họ phải bịa, cho dù phải cúi mặt vì xấu hổ với lương tâm. Nhưng biết làm gì khác hơn khi vợ con, bố mẹ và cả chính mình còn có một thứ nợ đời phải trả. Đó là nợ áo cơm. Bằng mọi gíá họ phải đáp ứng đòi hỏi của người thuê là hoàn tất cuốn sách có tên “Rừng Xưa Xanh Lá” trong thời hạn hai tháng được nuôi ăn, và sau khi hoàn tất được trả công mỗi người đúng một chỉ vàng như đã quy định trong hợp đồng từ lúc khởi đầu.

Bùi Ngọc Tấn đã kết thúc câu chuyện với những chi tiết cười ra nước mắt. Chắc chắn ông không bịa chuyện, vì đây là hồi ký với những “người thật, việc thật”. Sau khi ba nhà văn viết thuê hớn hở nhận thù lao mỗi người một chiếc nhẫn đúng một chỉ vàng, họ cẩn thận xỏ vào ngón tay và từ giã viên giám đốc lâm trường ra về. Nguyễn Quang Thân về Cần Thơ. Đình Kính, Chu Lai lên xe đò về Sàigòn.

Rời bến xe, Đình Kính, Chu Lai dùng xe đạp đi qua Vườn Bách Thảo. Tại đây họ bị một bầy “chị em ta” vây kín, chèo kéo. Đến khi thoát ra được, đạp xe một đỗi, giơ tay lên với ý định ngắm lại chiến lợi phẩm, Đình Kính tái mặt phát hiện: chiếc nhẫn đã biến mất tự lúc nào! Tất cả tài sản do công khó hai tháng trời chung sức viết thuê kiếm được đã bị mấy “chị em ta” nhanh tay lột mất! Chi tiết của đoạn kết không chỉ nói lên cảnh “chó cắn áo rách” mà nhà văn Đình Kính là nạn nhân. Nó còn là những nét chấm phá về một thực trạng xã hội không mấy đẹp của một thành phố “mang tên bác” ngày nay.

Điều đáng nói là tuy tác giả viết về những bè bạn thân thiết, nhưng qua đó, thấp thoáng xuyên suốt tác phẩm, người đọc vẫn thường xuyên bắt gặp chính con người ông. Trong đoản văn Thời Gian gấp Ruổi viết về Mạc Lân, tức Lê Văn Lân, con trai nhà văn Lê Văn Trương, khi đề cập những trường hợp viết thuê khác -cũng được gọi là viết “theo đơn đặt hàng”, Bùi Ngọc Tấn ghi lại như sau:

Cái khoản ấy Lân rành. Chẳng cứ Lân rành. (Và cả tôi nữa, cũng rành). Lê Bầu và Lân làm thành một tổ viết văn chui. Nghĩa là viết văn không cho người khác biết, trừ người đặt hàng mình… Đủ các đề tài. Chuyện chiến đấu trong Nam. Chuyện nhà máy, cải tiến kỹ thuật, mỗi người làm việc bằng hai… Chuyện phong trào hai tốt (dạy tốt, học tốt) ở các trường học...” (VVBB trang 69).

Cũng vì chuyện áo cơm, những người bạn văn của tác giả hồi ký “Viết Về Bè Bạn” đã phải chấp nhận làm bất cứ công việc gì, kể cả việc mang tấm thân còm cõi đi…bán máu! Đó là những tên tuổi trong giới văn gia không ít người biết đến trong nền văn chương xã hội chủ nghĩa như Dương Tường, Lê Mạc Lân, Chính Yên, Phan Kế Bảo, Phương Nam… và có nhiều phần chắc là cả tác giả “Chuyện Kể Năm 2000″.

Mời độc giả theo dõi mẩu đối thoại sau đây giả tác giả hồi ký và Dương Tường, người từng được Phạm Xuân Nguyên liệt kê đủ thứ “nhà”, gồm “nhà báo, dịch giả, nhà phê bình văn học, nhà phê bình mỹ thuật, nhà phê bình âm nhạc, nhà phê bình sân khấu”, người mà rất nhiều nhà văn danh tiếng, trong số có Bùi Ngọc Tấn, kể cả những tác giả Âu Mỹ luôn tỏ ra rất vinh dự được làm bạn thân:

Sực nhớ đến Mạc Lân, tôi hỏi:
- Ông Lân ông ấy bảo tôi là chính ông…
Tường hiểu ngay điều tôi định nói.
- Chuyện bán máu ấy à? Tôi là thằng bán máu đầu tiên trong số anh em mình. Không ai giới thiệu cả…… Tình thế mỗi ngày một căng. Khó khăn quá. Tôi có nghe người ta nói chuyện bán máu. Nghĩ hay là cứ thử xem sao. Tôi vào bệnh viện Việt Đức tìm hiểu. Đúng vào cái hồi tôi xuống ông, gặp ông Vũ Thư Hiên cũng đưa cả gia đình xuống…, sau đợt ấy về là bắt đầu đấy. Tôi đội cái mũ sùm sụp để không ai nhận ra mình. Vào bệnh viện quan sát… Thế là hôm trước thăm dò, hôm sau vào đăng ký bán máu luôn. Hôm bán máu phải nhịn ăn, chỉ uống cà phê sửa thôi. Máu của tôi thuộc nhóm máu O, nhóm máu xã hội chủ nghĩa được chuộng lắm. Số cân của tôi chỉ được bán 150 cc thế mà đề nghị bán 200cc cũng gật đầu ngay tắp lự……Có lần bí quá mà còn hai tuần lễ nữa mới đến kỳ bán máu, tôi than thở với Lê Phát. Ông có nhớ Lê Phát không nhỉ. Lê Phát đài Tiếng Nói Việt Nam cùng dịch Sê khôp với tôi. Lê Phát bảo: “Thằng trưởng phòng huyết học là bạn tôi. Để tôi viết thư cho nó
.”
Tường cười. Anh vừa cười vừa thuật lại câu chuyện “đáng buồn cười”…Tối hôm ấy anh cầm thư giới thiệu của Lê Phát tới nhà ông trưởng phòng huyết học. Đọc thư tiến cử của Phát, ông trưởng phòng gật đầu xởi lởi:
- Được. Sáng mai anh đến. Tôi sẽ bảo chúng nó ưu tiên lấy nhiều cho anh.
Đó là lần Tường bán được nhiều nhất: 280cc! Đại thắng trở về đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam. Lê Phát đã đứng chờ ở cổng, hồi hộp:
- Được không?
Tường ăn mừng thắng lợi với Phát bằng một b”a bia hơi Cổ Tân. Phát hai vại. Tường một vại. Uống xong, bốc, Phát nói một câu xanh rờn làm các bàn bia khác cùng quay cả lại:
- Hôm nay tao uống máu thằng Tường!
Bán máu thành công, Tường nghĩ ngay đến Mạc Lân. Mạc Lân bán được. Bán đều. Thừa thắng xông lên, Tường kéo Châu Diên đi…”
(VVBB trang 46,47,48)

Vì quá nhẹ cân, để bán được số lượng máu cao hơn tiêu chuẩn, có lần Mạc Lân, Dương Tường đã phải lén đeo thêm chì vào người.

Là người cương trực, lại là con nhà văn Lê Văn Trương (mà sau hiệp định Genève 54 đã theo đoàn người tị nạn di cư vào miền Nam), thêm nữa lại quen thân với Phùng Quán, Trần Dần, tán thành quan điểm của Nhân Văn, trong đoản văn Thời Gian Gấp Ruổi, trang 62, Bùi Ngọc Tấn cho biết về số phận Mạc Lân như sau: “Tất nhiên anh không được tin tưởng nữa. Đang là trưởng ban văn nghệ, anh sang làm trưởng ban bạn đọc, rồi xuống làm phóng viên. Lương từ bậc 11 hạ xuống còn bậc 7“. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo, quá túng thiếu, nghe lời chèo kéo của Lê Bầu, Mạc Lân về đầu quân với Hội Văn Nghệ Hànội. Nhưng ông vẫn không thoát khỏi cặp mắt của những cai thầu văn nghệ của đảng. Bùi Ngọc Tấn viết:

Nhưng cái đất dụng võ ấy đâu có phải là của Mạc Lân và cũng chẳng phải của Lê Bầu. Có một ý kiến (hay chỉ thị) không thành văn nhưng mạnh hơn văn bản mà tất cả các báo, các nhà xuất bản đều thực hiện rất triệt để và nghiêm chỉnh là không in bài của Mạc Lân, Lê Bầu…” (VVBB trang 65).

Trước khi một nhà văn bị hạ tầng công tác, bị cắt lương bổng, phải sống đói rách, có thể còn lâm cảnh tù tội, và sau khi ra tù còn bị treo bút vài thập niên như trường hợp Bùi Ngọc Tấn, tư tưởng của họ, những bài viết của họ đã phải lọc qua cặp mắt soi bói và khối óc bệnh hoạn của các nhà phê bình văn học trong đảng. Về chuyện này, tác giả hồi ký viết:
Không hiểu các nhà văn viết như thế nào, tôi – một kẻ mới tập tọng vào nghề –, khi viết luôn có ở trước mặt một nhà phê bình, một nhà tuyên huấn và sau này có cả một nhà… công an nữa. Họ nghiêm khắc nhìn tôi.
Tôi đem điều ấy trao đổi với Nguyên Hồng. Anh không nhận xét gì ý kiến của tôi. Nhưng anh nói:
- Mình lăn lộn, mình nghiền ngẫm, mình đọc, có khi 5 năm, chục năm mới xong một quyển sách, mấy ông phê bình đọc vài đêm xong sáng tác của mình, thế là các ông ấy phán. Nào là chưa sâu, nào là thiếu tính giai cấp…..
Tôi góp thêm:
- Cái kinh nhất là các nhà phê bình cứ đánh, cứ nói, còn các nhà văn không có chỗ nào để nói lại, để thanh minh.
Hôm ấy Dương Tường cũng có mặt ở nhà tôi. Đôi mắt cười sau cặp kính cận dầy cộp. Tường bảo:
- Tôi đọc cái này cho anh Hồng và Tấn nghe nhé.
Tường giở cái túi vải tùy thân, rút ra tờ L”Humanité (Nhân Đạo -cơ quan trung ương của đảng Cộng Sản Pháp). Tôi đọc đoạn Ep-tu-sen-cô sang Pháp cho các anh nghe. Thú lắm.
Và Tường đọc thẳng ra tiếng Việt:
- Đây là Lời Ep-tu-sen-cô -Tường nói- “Thế là tôi đến Pa-ri, trong túi không một đồng frăng, trong mồm không một tiếng Pháp. Ở Pa-ri, một đêm tôi dạo chơi trên bờ sông Xen. Một đám người đang đi lại phía tôi, ca hát rất vui nhộn. Tay họ cầm những con dao bầu, dao nhọn, những cái kéo, những cái dùi, tất cả sáng loáng, đánh vào nhau xủng xoảng. Nhìn họ, tôi đinh ninh đấy là những nhà phê bình văn học. Mãi tới khi nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ng” quốc tế, nghĩa là làm điệu bộ, tôi mới biết họ làm ở lò sát sinh”.
Tất cả chúng tôi cùng cười phá. Cả ba cùng giàn nước mắt. Tôi nhận xét:
- Thì ra không riêng ta. Bên Liên Xô những người sáng tác cũng chẳng ưa gì các nhà phê bình
” (VVBB trang 282-283).

Ra khỏi nhà tù, được về xum họp với vợ con, nhưng Bùi Ngọc Tấn phải đối diện với hai thực tại đáng buồn: nghèo túng và sự cô đơn. Vì sợ vạ lây, phần lớn bạn bè lúc trước, kẻ thân người sơ đều tìm cách lảng xa ông. Tác giả hồi ký viết:
Khi ở tù ra, hầu như tôi chỉ còn một nhúm bạn bè, trong đó có Nguyên Bình, người không bao giờ bỏ tôi trong những lúc gian lao, nguy hiểm, đói nghèo nhất…Tôi chẳng dám trách ai. Bởi cái ống ngắm hiển nhiên là đang nhắm vào tôi. Chẳng ai lại muốn mình hiện hình trong vòng nhắm. Đừng có đem sinh mạng mình, đời sống gia đình vợ con mình ra đùa cợt. Thế mà trong những ngày ấy tôi lại có thêm một người bạn mới: Nguyễn Thị Hoài Thanh. Chị thường xuyên đến nhà. Nói chuyện với tôi. Bàn chuyện làm ăn sinh sống với vợ tôi. Dạy hai con gái tôi cách thêu bô-đê để kiếm sống… Chị như một chỗ dựa tinh thần, một sự động viên vợ tôi trong những ngày tháng gian lao ấy“. (VVBB trang 96-97)

Trong số những bạn văn của Bùi Ngọc Tấn có cuộc sống lầm than nhếch nhác, lận đận nhất phải kể tới Nguyễn Thị Hoài Thanh. Đấy là một người con gái có khiếu thơ văn rất sớm. Ngay từ năm 13 tuổi cô đã làm thơ, viết văn. Năm 16, bài thơ đầu được đăng trên báo Thế Kỷ. Khi trưởng thành, cô không chỉ làm thơ mà đời còn dạy cho cô biết làm đủ nghề, kể cả những nghề lam lũ, nặng nhọc thường dành cho nam giới như chở than, bốc hàng, mua cá ướp chượp làm mắm. Sở dĩ đời cô bị quật lên quật xuống chỉ vì tính cương trực, không chịu khuất phục những loại thủ trưởng bất tài nhưng háo sắc luôn tìm cơ hội lợi dụng cô.

Bùi Ngọc Tấn viết về Nguyễn Thị Hoài Thanh như sau:
Thời còn con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần li dị. Vẻ đẹp ba mươi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa.
- Người ta cứ coi tôi là con mụ Hến anh ạ.
Chị nói vậy và cười hồn nhiên:
- Ngày ấy mình còn màu mỡ.
Sau này, khi đã lục tuần, ngồi ôn lại cuộc đời, chị nói với tôi như vậy. Và cũng như cô Hến, cái đám Nghêu, Sò cũng toàn là các hàng chức sắc nên rất nguy hiểm. Thời gian chị còn làm thợ điện ở công ty X, chỉ vì không chịu bắt tay ông trưởng phòng của chị mà chị không được chấm công, không có lương…” Mở dấu ngoặc đơn, tác giả hồi ký ghi thêm: (Bắt tay là chuyện bình thường, nhưng đây lại là một kiểu ra đụng vào chạm, một kiểu lợi dụng của ông trưởng phòng mà chị biết rõ)”
(VVBB trang 101).

Trước ngày bị đẩy vào vòng tù tội, Bùi Ngọc Tấn từng gặp gỡ Nguyễn Thị Hoài Thanh trong những cuộc họp, nhưng chưa một lần trò truyện. Ấy vậy mà sau khi ra tù, bị hầu hết bạn bè xa lánh, cô gái đã bước vào tuổi xế chiều, đang sống lao đao lận đận ấy lại tự nguyện tìm tới giúp đỡ, an ủi vợ chồng ông. Có rất nhiều lời đồn đoán về thân thế Hoài Thanh, trong đó có người còn gán cho cô là em gái của tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ (?) (VVBB trang 99). Thực ra thì Nguyễn Thị Hoài Thanh là em gái của cựu đại tá Nguyễn Xuân Vinh.

Trong đoản văn có tiêu đề Một Ông Già Sống Cho Đến Chết, tác giả hồi ký “Viết Về Bè Bạnđã trân trọng giới thiệu diện mạo và nhân cách một người bạn văn vong niên của ông: Lê Đại Thanh thi sĩ, nhà văn, nhà giáo, kịch tác gia, nhà cách mạng, sinh năm 1907 “đã cõng trên lưng gần trọn thế kỷ 20“.

Theo Bùi Ngọc Tấn thì trong những năm dạy học, thầy giáo họ Lê đã “thổi vào tâm hồn học sinh của mình lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc...”. Và ông đã từng bị thuyên chuyển, bị mật thám Pháp canh chừng, bị tống ngục. Sau chính biến 45, được phóng thích, ông gia nhập bộ đội, tham gia các sinh hoạt văn nghệ. Nhưng bản chất yêu thơ, yêu tự do của ông đã biến ông trở thành một nạn nhân “có vấn đề”. Và: “Mọi người đã xa lánh ông. Năm năm như vậy là quá đủ, quá dài. Năm 1963, ông làm đơn xin nghỉ hưu non. Năm ấy ông mới 56 tuổi…Đã có những đêm ông ngồi một mình rất lâu trước bức tranh “Trên sự yên tĩnh đời đời” của Lê-vi-tan. Ông ghi vào nhật ký: “Tôi nghĩ đến cái chết như một chuyến đi xa”……Ba tiếng Lê Đại Thanh còn làm chính những người trong gia đình ông lo âu, sợ hãi. Ngày ấy các con ông đều bỏ đi chữ Đại ở giữa: Lê Đại Châu đổi thành Lê Minh Châu, Lê Đại Chức thì bỏ hẳn chữ Đại, chỉ còn Lê Chức, Lê Đại Chúc cũng chỉ còn là Lê Chúc...”

Đọc chi tiết này trong hồi ký của Bùi Ngọc Tấn người ta không khỏi liên tưởng tới mối âu lo của tiền nhân về những bản án chu di tam tộc trong thời phong kiến xa xưa.

Ngoài những khuôn mặt được coi như cùng một lứa bên trời lận đận như Bùi Minh Quốc, Vũ Thư Hiên, Phù Thăng, Châu Diên, Vũ Bão, Nguyễn Tri Tình, Tất Vinh, Dương Tường, Lê Mạc Lân, Lê Bầu, Vũ Tín, Hứa Văn Định, Nguyễn Thị Hoài Thanh v.v…, tác giả hồi ký “Viết Về Bè Bạn” đã dành gần phân nửa tác phẩm để viết về nhà văn Nguyên Hồng, tác giả Bỉ Vỏ một tác phẩm nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam ngay từ thời tiền chiến qua những đoản văn Một Thời Để Mất, Vĩ Thanh, Lại Chuyện Nguyên Hồng.. Xen kẽ những trang hồi ký dài về một nhà văn tiền bối mà Bùi Ngọc Tấn hằng yêu mến, quý trọng là những mẩu chuyện vụn vặt ánh lên nụ cười hiền hoà đượm một chút mỉa mai của ông.

Thuật lại buổi nói chuyện về xã hội thối nát Pháp, Mỹ của Xuân Diệu, một trong những cai thầu văn nghệ của chế độ, tác giả hồi ký ghi lại ngôn từ sau đây của đương sự: “Các đồng chí có biết bên ấy chúng nó mặc quần áo bằng gì không? Bằng ni lông! Quần áo ni lông!…Còn tổng thống ở bên Mỹ, khi hết nhiệm kỳ không làm tổng thống nữa, các đồng chí có biết nó đi làm gì không? Đi làm quảng cáo cho các hãng buôn kiếm tiền!” (VVBB trang 224).

Và đây là bài thơ của anh hùng lao động Trịnh Xuân Bái, người vừa từ Liên Xô về:

“Liên bang Xô Viết
Thú tự do ao ước bấy lâu nay
Kìa hồng quân thuyền thợ với dân cày
Đệ nhất sướng hỏi rằng đây có phải
Rồi:
Này trường Lô-mô-nô-xốp
Này điện Cẩm Linh
Ngước trông lên ai khéo họa hình
Cờ liềm búa long lanh như gấm dệt
Các Mác tinh thần bất diệt
Lê-nin sự nghiệp rất cao siêu
Càng nhìn chủ nghĩa càng yêu” (VVBB trang 229).

Đọc những câu nhái được gọi là thơ trên đây, thầm nghĩ: không biết nhà thơ tiền bối Chu Mạnh Trinh nếu đội mồ sống dậy sẽ phản ứng ra sao?

Chưa hết, nụ cười nửa miệng của Bùi Ngọc Tấn còn đọng lại ở những câu ca ngợi sự phát triển của ngành đường sắt Hànội – Nam Quan, Hànội – Lao Cai như sau:

“Phe ta càng mạnh càng to,
Xít ta, Mao Trạch, Bác Hồ vinh quang.
Miền Bắc kiến thiết vững vàng,
Nam Quan tàu chạy lại càng Lao Cai” (VVBB trang 230)

Đọc những trang hồi ký về nhà văn Nguyên Hồng qua phần này, người đọc nhận ra mối cảm tình đặc biệt của Bùi Ngọc Tấn đối với tác giả “Bỉ Vỏ”, “Những Ngày Thơ Ấu”. Đấy là mối cảm tình sâu sắc được làm nên bằng thái độ cảm thông, trân trọng, hâm mộ một tài năng bậc thày, một tâm hồn nhạy cảm, một nhân cách đặc biệt chứa đựng trong một con người chơn chất bình dị, dễ dàng rơi lệ trước những bất công, những cảnh ngộ đau đớn, nghịch lòng, không phải chỉ của chính mình mà của tha nhân, bà con, bằng hữu.

Trước ngày bị tống vào nhà tù, vì không muốn di lụy cho người thân, Bùi Ngọc Tấn đã đốt tất cả những thư từ bút tích dính dáng tới những bằng hữu thân sơ của ông, trong đó có những tài liệu quý giá liên hệ tới Nguyên Hồng. Đây là điều khiến tác giả hồi ký vô cùng hối tiếc sau này khi lục tìm những kỷ niệm xưa để viết về người bạn văn vong niên, người từng có với ông những kỷ niệm thật đẹp về thành phố Hải Phòng.

Nguyên Hồng là nhà văn được chế độ đón chào rất sớm, nhưng cũng lại là người bị coi là “có vấn đề” không lâu, sau khi được tín nhiệm giao phó vai trò chủ bút tuần báo Văn. Bùi Ngọc Tấn viết: “Sau Nhân Văn, có hai người được tin tưởng sang trấn giữ hai cửa ải quan trọng nếu không nói là quan trọng nhất: Hà Minh Tuân làm giám đốc nhà xuất bản Văn Học, Nguyên Hồng làm chủ bút báo Văn, cơ quan của Hội Nhà Văn” (VVBB trang 241).

Nhưng rồi tác giả Bỉ Vỏ, Những Ngày Thơ Ấu đã bị quy kết là đi ngược chủ trương đường lối của đảng khi đăng Nhật Ký Người Mẹ của Lê Minh, Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán, Xiếc Khỉ của Quang Dũng, Ông Năm Chuột của Phan Khôi.

Nơi trang 242, sau khi nhắc tới những căn nguyên khiến Nguyên Hồng bị loại khỏi tuần báo Văn – tờ báo đã được những người nắm giữ guồng máy đảng trao cho ông vai trò chủ bút sau khi xảy ra vụ Nhân văn Giái Phẩm – tác giả hồi ký “Viết Về Bè Bạn” ghi lại như sau:
Một tờ báo lớn đã nói rất hình ảnh: “trước chữ Văn ta thấy chữ Nhân ló ra”. Rất tình cờ, trong khi lục những tài liệu liên quan đến Nguyên Hồng, tôi tìm được một tập sách xuất bản từ năm 1957 -”Một Số Vấn Đề Đấu tranh Trong Văn Nghệ. Nhà XB Văn Hóa 1957- nói rất kỹ những sai lầm của báo Văn và của Nguyên Hồng“.

Bùi Ngọc Tấn đã trích đăng một đoạn dài của tập sách hài tội Nguyên Hồng trên đây. Sau đó, tác giả hồi ký viết tiếp: “Báo Văn đóng cửa, Nguyên Hồng mất chức. Nguyên Hồng đã đi đến một quyết định ghê gớm: chuyển tất cả gia đình từ Hà Nội về Nhã Nam (Yên Thế, quê hương Đề Thám. TPV chú thích). Nguyên Hồng nói với Tô Hoài: “Ông đéo chơi với chúng mày nữa. Ông về Nhã Nam”. Ở Hà Nội Nguyên Hồng đã có nhà. Vợ anh đi làm cho nhà nước, ở hiệu sách Nhân Dân. Các con anh đang học tại các trường Hà Nội. Gia đình anh đang được hưởng toàn bộ tem phiếu cung cấp.
Rời Hà Nội là mất tất cả.
Sau này khi quen Nguyên Hồng, biết được sự túng thiếu ám ảnh anh, mang máng đoán được cuộc sống khó khăm của vợ anh, một phụ nữ gầy yếu, đàn con tuổi học trò xoai xoai trứng gà trứng vịt của anh, hơn một lần nghe anh thổ lộ niềm ao ước có sổ gạo cho cả gia đình, tôi vừa thương, lại cũng vừa trách anh. Nhưng tôi kính phục hành động ấy
…”

Quan sát thái độ của Nguyên Hồng qua quyết định gọi là “ghê gớm” kể trên ở mộc góc độ cao hơn, Bùi Ngọc Tấn nhận định: “…..Nguyên Hồng, bằng hành động của mình, một cách không tự giác, là nhà văn chống bao cấp đầu tiên ở nước ta“. (VVBB trang 247-148).

Sau Nguyên Hồng, đến lượt Hà Minh Tuân cũng bị loại khỏi cửa ải xuất bản chính thức của đảng và nhà nước. Chúng ta hãy đọc những dòng sau đây trong hồi ký “Viết Về Bè Bạn“:

“…khi Hà Minh Tuân bị đòn hội chợ, bị dính nhiều “chưởng” vì viết và in tiểu thuyết Vào Đời, Nguyên Hồng nói với tôi, vừa nói vừa cười.
- Thế là lại đến lượt thằng Tuân.
Anh cười đấy, nhưng tôi thấy đôi mắt anh đượm buồn.
Hà Minh Tuân, chính ủy trung đoàn, được tin tưởng giao trấn giữ cửa ải xuất bản, như Nguyên Hồng, nhà văn vô sản được trấn giữ báo Văn, cơ quan ngôn luận của Hội. Sau Nhân Văn, đó là những thành trì đặc biệt quan trọng, cần phải giao cho những người hết sức tin cậy, những tướng tâm phúc. Nhưng chỉ sau một thời gian, cả hai đã lộ rõ là những kẻ giao động bấp bênh, nối giáo cho giặc, đều bị cách chức và phê phán.
Sau trận ấy, Hà Minh Tuân gục hẳn
“. (VVBB trang 256)

Thời gian bị phê phán, bị theo dõi và cuối cùng bị tống ngục trong 5 năm dài, dù bị bạn bè xa lánh, nhưng Bùi Ngọc Tấn hiểu được hoàn cảnh của mình, hiểu được thái độ chẳng đặng đừng của bạn. Vì an ninh bản thân và vì sự sống còn của vợ con, mọi người có lý do chính đáng để tránh hình ảnh của mình hiện ra trong vòng ngắm của cơ quan an ninh nhà nước đang hướng vào ông. Chính Nguyên Hồng cũng không ra khỏi cái quy luật lạnh lùng ấy. Nhưng cũng đã hơn một lần Bùi Ngọc Tấn không khỏi se buồn với ý nghĩ tác giả Những Ngày Thơ Ấu bắt đầu giữ một khoảng cách đối với ông. Tuy vậy, Lời thuật lại cách hồn nhiên dưới đây của người bạn đời sau ngày được phóng thích không những không làm giảm đi những tình cảm của nhà văn họ Bùi đối với Nguyên Hồng mà càng khiến ông thông cảm với người bạn văn vong niên này hơn nữa:

“- Anh đi rồi, ở nhà em đi làm dọc đường Hồng Bàng. Dạo ấy Hội Văn Nghệ còn ở đường Hồng Bàng. Một ngày đi đi về về bốn lần qua trụ sở Hội, lại càng nhớ thương anh. Có lần đi qua cửa Hội, thấy bác Nguyên Hồng ngồi trong nhìn ra. Lại có lần gặp bác đi ngược chiều. Không biết bác có nhìn thấy em không? Giá như trước đây, em đã gọi…” (VVBV trang 337)

Tình cảm tràn đầy của tác giả hồi ký dành cho Nguyên Hồng đã được đền bù xứng đáng. Bởi vì: “Tôi như nhìn thấy một thời đã mất. Tôi như nhìn thấy Nguyên Hồng còn sống….đứng trước cửa nhà tôi, chòm râu thưa, nụ cười gặp gỡ thân thiết và tươi tắn…
Ngày ấy phải sau năm năm tôi mới gặp lại anh….Với tôi, năm năm ấy là vô tận, năm năm ấy là một kiếp. Khi tôi ở tù ra, Nguyên Hồng lại đến thăm tôi. Cơn bão đã đến và cơn bao đã đi qua rồi. Anh với tất cả dáng vẻ quen thuộc lại ở trong căn buồng sóng gió của tôi.
Nhìn anh, tôi cười.
Nhìn tôi, anh khóc.
Chưa bao giờ tôi thấy Nguyên Hồng khóc nhiều như lần ấy. Anh không muốn thế nhưng không giữ được. Tôi nhìn anh bối rối vì những giọt nước mắt lớn lao của anh… Cho đến khi anh ngồi xuống ghế, tôi đã pha trà mời anh, anh vẫn chưa nói được tiếng nào. Anh ngồi im lặng, mắt rỗng không. Rồi anh rút mùi soa, cái khăn mùi soa bẩn thỉu, nhàu trong túi áo ra thấm nước mắt, hỏi tôi với giọng trầm khẽ như hỏi một người vừa qua cơn hấp hối:
Tấn có khoẻ không?
Khoẻ anh ạ, nhớ anh quá.
Nguyên Hồng uống chén trà và dần dần bình tĩnh trở lại. Nhưng câu chuyện giữa chúng tôi không còn như xưa nữa. Chúng tôi đều hiểu ngay rằng đã có một cái gì đó ngăn cách chúng tôi. Điều chính yếu, không nói được cùng nhau. Với anh là chuyện sáng tác. Với tôi là chuyện tù đày….
.” (VVBB trang 337-338)

Trước khi chấm dứt bài viết ngắn về hồi ký “Viết Về Bè Bạn” của Bùi Ngọc Tấn, người viết muốn ghi lại đây những suy tư sau buổi điện đàm với tác giả trong những ngày ông thăm nước Pháp mới đây. Ông nói, sau bao truân chuyên, lận đận, cuối đời không ngờ ông lại còn có cơ may gặp lại những bạn bè thân thiết, trong đó có Vũ Thư Hiên, trong khung cảnh tự do, thoáng mát này.

Hỏi về những ước vọng gần nhất của ông, sau giây phút ngập ngừng, nhà văn họ Bùi xúc động nói: Nếu được, tôi mong mỏi một ngày nào đó, tôi có phương tiện để nhà tôi – người bạn đời chung thủy đã chia sẻ với tôi những ngọt bùi cay đắng trong mấy chục năm qua – có cơ may hưởng những gì tôi đang hưởng trong chuyến đi hãn hữu này.Nam California)

Với niềm xúc cảm không cùng, người viết ước mong tâm nguyện trên đây của tác giả “Chuyện Kể Năm 2000″ và hồi ký “Viết Về Bè Bạn” sớm trở thành hiện thực.

TRẦN PHONG VŨ (Nam California)

Một kiếp bên trời

Phạm Xuân Nguyên

Bùi Ngọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu. Hình như đây là kết quả của sự kết hợp bản tính người và trải nghiệm đời nơi ông. Sau những gì đã xảy đến với ông, nếu văn ông có giọng cay độc, chua chát, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng không! Ngay cả sự trầm tĩnh và đôn hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng mình, tỏ vẻ. Ông đưa lại cho người đọc những dòng văn tự nhiên, dung dị, khi những oan trái, khổ đau lặn vào sau câu chữ làm nên sức nặng và chiều sâu của những điều được viết ra.

  

( Cùng một kiếp bên trời lận đận, Bạch Cư Dị – Tỳ bà hành )

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa cho ra mắt tác phẩm Rừng Xưa Xanh Lá (Mười chân dung văn nghệ sĩ) tại Nhà xuất bản Hải Phòng (1/2003).

Đây là cuốn sách thứ năm của Bùi Ngọc Tấn, kể từ ngày ông cầm bút viết văn lại, cách đây gần mười năm. Năm 1995, sau 27 năm bị ngắt tiếng, “bị văng ra ngoài quỹ đạo”, ông trở lại văn đàn với tập hồi ức văn học về Nguyên Hồng với các bạn văn Hải Phòng nhan đề “Một thời để mất”. Tự cái tên sách tái xuất đã nói lên tất cả. Trong bài viết về một bạn văn ở tập sách mới này ông ghi lại cảm giác lúc đó, khi lại được thấy cuốn sách mình ra đời: “Một cái rùng mình gai gai khe khẽ chạy suốt dọc người tôi. Không. Tên tôi đã được in trên nhiều bìa sách. Nhưng đây là tập sách sau 27 năm. 27 năm chết. 27 năm sau tôi lại được đứng dưới mặt trời. Từ thế giới bên kia, 27 năm sau tôi trở lại thế giới này. Tôi sống lại. Ngay khi mới bước vào nghề, nhìn tập sách đầu tiên của mình được in cũng không xúc động như vậy. Lúc đó chỉ đơn giản là sống. Là vui sống. Còn bây giờ là sống lại. Là chết đi sống lại”.

Trong khoảng mười năm sống lại nghề văn đó, giữa hai tập hồi ký, Bùi Ngọc Tấn có hai tập truyện ngắn: “Một ngày dài đằng đẵng” và “Những người rách việc”, và một bộ tiểu thuyết hai tập. Ông đã từ một hiện thực khác trở về. Và văn ông bây giờ là nói về một hiện thực khác và từ một hiện thực khác mà nhìn lại. Viết hồi ức, chân dung, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhân vật chính trên các trang văn của Bùi Ngọc Tấn là chính ông và những người bạn cùng thế hệ được soi chiếu từ hai phía của một khoảng thời gian đã thành vạch phân cách đời người đời văn: 5 năm (1968 – 1973). Con dấu đóng giáp lai văn nghiệp Bùi Ngọc Tấn mang số hiệu CR 880.

 *

Số hiệu CR 880 đã khép lại một thời đối với Bùi Ngọc Tấn và bạn bè. “Một thời tin tưởng. Một thời bay bổng. Một thời hạnh phúc. Và cả một thời nhảm nhí của chúng tôi nữa”. Một thời để mất! Sau thời đó là đến thời hoạn nạn và khốn khó. Rừng xưa xanh lá đến hồi bị tơi bời trong cơn bão lốc.

Trong mười chân dung nghệ sĩ của tập sách mới này, có đến một nửa Bùi Ngọc Tấn dành cho những người bạn cùng “một kiếp bên trời” của mình mà bóng dáng đôi người đã từng có trong tiểu thuyết của ông: Dương Tường, Lê Mạc Lân, Lê Bầu, Nguyên Bình, và Hứa Văn Định. Cuộc đời họ thời chìm lặng ấy có thể tóm gọn bằng một chữ: Bán. Bán máu và bán văn để trước hết là phải tồn tại. Chế Lan Viên sau khi trải một đời lắm vinh nhục trong nghề văn, những ngày cuối đời đã nguyền rủa thế kỷ hai mươi ông sống là thế kỷ “muốn nuôi sống xác thân phải làm thịt linh hồn”. Những người bạn văn của Bùi Ngọc Tấn không thế, họ muốn duy trì cơ thể nên phải giết cơ thể, họ muốn giữ linh hồn nên phải làm thịt linh hồn. Dương Tường bán máu, rồi mách cho Mạc Lân cùng bán. Bữa bún chả mấy người bạn đón Bùi Ngọc Tấn ra tù tại Hà Nội là bằng vào tiền Mạc Lân “bán máu đột xuất”.

 

Bán chữ là viết văn chui. Định nghĩa viết văn chui: “là viết văn không cho người khác biết, trừ người đặt hàng mình”. Lịch sử kinh tế Việt Nam khi viết về thời bao cấp chắc phải dành chỗ cho khái niệm “khoán chui”, một sự xé rào làm ăn phải đã trả giá bằng đời một Bí thư Tỉnh uỷ trước khi nó mở đầu cho một cơ chế quản lý mới. Lịch sử văn học Việt Nam mai ngày có chỗ nào cho khái niệm “viết văn chui”? Việc này Mạc Lân rành, Lê Bầu rành, Bùi Ngọc Tấn cũng rành, ông kể. Nguyên nhân hiện tượng này là “không được viết, hoặc được viết nhưng không được in hay được in nhưng không được ký tên cũng không được nhận nhuận bút”. Hậu quả ở đây là văn mình tên người (thêm một thành ngữ mới), đưa đến lắm chuyện bi hài. Trường hợp Mạc Lân là tiêu biểu.

“Như có một năm ba truyện ngắn Lân viết cho ba người được giải thưởng (của Hà Nội và của Tổng công đoàn)… Có một điều Lân lấy làm lạ là cái người chỉ đứng tên cho văn bản mà không hề viết lấy một dòng khi sách đã được in, gặp Lân là người đã viết ra nó lại cứ trò chuyện với Lân theo cái kiểu như chính anh ta là ngươì đã sáng tác ra nó, chính anh ta là tác giả. Hoặc nói một cách bề trên: “Đoạn ấy viết được. Mình đi đến đâu người ta cũng khen. Dư luận tốt lắm”. Anh lắc đầu: Cũng nhiều lúc muốn tống một quả đấm vào mặt họ nhưng lại cố nén. Rồi cười: Làm ăn phải giữ lấy cái mối.”

Lê Mạc Lân là con trai nhà văn Lê Văn Trương (chữ Mạc thế chữ Văn ở tên lót để kỷ niệm một người bạn).

Cảm hứng của Bùi Ngọc Tấn ở những trang viết chân dung là “đi tìm thời gian đã mất”. Cho mình. Và cho bạn. Năm 20 (1954) tuổi ông trong đoàn quân chiến thắng từ núi rừng về tiếp quản Hà Nội. Năm 34 (1968) tuổi ông bị lâm vòng lao lý. Khi từ các trại trở lại đời thường ông đã ở vào độ tuổi mà Khổng Tử cho là “bất hoặc”. Cầm lại cây bút viết văn gần mười năm nay, ông đã bước vào tuổi 70. Ngẫm lại con đường đời đường văn mình và bạn bè đã trải qua với rất nhiều lận đận, Bùi Ngọc Tấn thấy “thời gian gấp ruổi” như tên ông đặt cho bài viết về Mạc Lân. Cũng có thể thấy ông, qua chân dung Lê Bầu, người “hiểu giá trị của thời gian”. Và ông đã không thể nhắc lại bây giờ một câu đùa vui như ngày nào với cái chân giả của Vũ Tín, phóng viên ảnh Thông tấn xã Việt Nam, bởi vì biết rằng “thời trai trẻ đã qua”. Thời gian gấp lắm rồi, ông hối thúc bạn, và mình. Cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào, lạnh lùng và dửng dưng. Nó cắt ngang lời đề tặng trên cuốn sách đầu tiên thời hậu goulag của ông dành cho vợ chồng nhà văn, nhà biên kịch Hứa Văn Định: “Để hai bạn biết rằng mình lại viết. Rằng mình vẫn còn thoi thóp chứ chưa chết hẳn”. Ông đã đốt cuốn sách này trước mồ bạn. Hứa Văn Định là một trong những người bạn tích cực thúc giục, động viên Bùi Ngọc Tấn viết văn trở lại, vì không thể không viết, sau những gì đã trải. Lời người bạn nói: “Ông phải viết tiểu thuyết. Tôi tin ông sẽ có những thành công rất đặc biệt. Trách nhiệm của ông nặng lắm” là sự giao phó và gửi gắm của bạn bè. Bùi Ngọc Tấn tìm thấy ở đó điểm tựa tinh thần để đứng dậy và đi tiếp. Như ông đã tìm thấy điểm tựa tinh thần ở Nguyên Hồng, Lê Đại Thanh, Nguyễn Thị Hoài Thanh. Và cuộc đời đã đền bù cho ông. Câu nói của Hứa Văn Định đã chứng nghiệm. Bùi Ngọc Tấn đã có những người đọc mới tri âm, như với họa sĩ Nguyễn Thanh Bình, sinh sau ông hai mươi năm. Hai người chỉ mới gặp nhau một lần, họa sĩ đọc văn, nhà văn xem tranh, “mà như đã biết nhau từ bao giờ rồi”. Điều đó Bùi Ngọc Tấn nhận là chỉ nghệ thuật mới làm được. Có lẽ cần thêm: chỉ những người có tình thương khi đã trải qua đau thương. Nguyễn Thanh Bình đã đổ máu ở chiến trường để bây giờ vẽ tranh, một mình làm nên một dòng toàn trắng, bán được tranh, giàu có, không phải bán máu.

 *

Bùi Ngọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu. Hình như đây là kết quả của sự kết hợp bản tính người và trải nghiệm đời nơi ông. Sau những gì đã xảy đến với ông, nếu văn ông có giọng cay độc, chua chát, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng không! Ngay cả sự trầm tĩnh và đôn hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng mình, tỏ vẻ. Ông đưa lại cho người đọc những dòng văn tự nhiên, dung dị, khi những oan trái, khổ đau lặn vào sau câu chữ làm nên sức nặng và chiều sâu của những điều được viết ra. “Hãy kể những chuyện đau bằng cái giọng hài”, Bùi Ngọc Tấn đã làm được như lời khuyên của Dương Tường, Hứa Văn Định. Giá trị nhà văn của Bùi Ngọc Tấn trước hết là ở giọng điệu ấy. Một giọng điệu văn chương làm người đọc hiểu ông, tin ông, đồng cảm với ông và cùng ông đồng cảm với những phận người, những kiếp bụi nhân sinh. Cao hơn chuyện văn chương là chuyện cuộc đời. Bùi Ngọc Tấn là nhân vật của văn ông và đồng thời ông cũng là tác giả của những điều ông viết ra. Đó là văn chương của sự thật.

“Tôi là bạn của ông Dương Tường”. Bùi Ngọc Tấn viết về những người bạn văn đã đau khổ và thuỷ chung cùng mình, như mình. Các ông là bạn của nhau. Dương Tường có câu thơ tuyên ngôn: Tôi đứng về phe nước mắt. Các ông mỗi người đã gánh cây thập ác đi trọn con đường trần ai của mình.

Không vứt xuống.

Không chạy trốn.

Không gục ngã.

Không dừng bước.

Và dẫu không là Chúa, các ông đã được phục sinh.

 

Tokyo 30/4/2003

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.