2 người rừng của bộ tộc Tà- ru

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Ảnh copy từ facebook Phạm Tường Vân https://www.facebook.com/van.phamtuong

Sung sướng thay là những kẻ có niềm tin

TP – Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa có cuộc giao lưu với bạn đọc chủ đề Tìm lại thời gian đã mất trong không gian phố cổ Hà Nội.Trước đó, ông gặp lại đồng nghiệp thân thiết đủ các thế hệ ở báo Tiền Phong nhân 26/3. Phóng viên hỏi chuyện ông, nhân chuyến đi ý nghĩa từ Hải Phòng về Hà Nội.

Độc giả đến với buổi giao lưu “Tìm lại thời gian đã mất”. ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN
Độc giả đến với buổi giao lưu “Tìm lại thời gian đã mất”. Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN.

So với cái thời “Mọi người nhìn tôi không ra quen không ra lạ, không ra chào không ra không/Mọi người nhìn tôi như thể mọi thứ đã kết thúc rồi”, có thể nói hiện Bùi Ngọc Tấn đang ở đỉnh cao hạnh phúc? Và ông có thấy bất ngờ trước những câu hỏi mà những người trẻ đặt ra cho ông tối 15/3 trong cuộc giao lưu ở quán cà phê Manzi, về lẽ sống, niềm tin, về những sai lầm trong quá khứ, về việc họ rút ra bài học cho mình từ bài học của Dương Tường, Bùi Ngọc Tấn, Châu Diên rằng “sống phải có lý tưởng và phải sáng suốt trong việc định ra những giá trị”?

Trước đây do ít tiếp xúc với lớp trẻ nên khi về già tôi có một mối lo, một nỗi sợ thì đúng hơn: Sợ lớp trẻ không biết được những gì lớp U 30 (sinh ra những năm 1930) chúng tôi đã sống, đã trải qua. Và như vậy thì thật đau đớn cho họ, những người “sắp đi qua hành tinh này mà không để lại một vết xước nào”.

Cho đến năm 1997, khi làm bộ phim về nhà thơ Lê Đại Thanh, tiếp xúc với các bạn trẻ cùng làm phim, nỗi sợ ấy đã hoàn toàn biến mất. Một niềm vui lớn của tôi!

Lớp trẻ sau chúng tôi một thế hệ ấy (lớp cha-con) hoàn toàn hiểu được chúng tôi, chia sẻ với chúng tôi. Tôi đã bảo Giang Lương Hà, Nguyễn Năng, những đồng tác giả của phim: “Thu hoạch lớn nhất của chú, cái được lớn nhất của chú trong khi làm phim là hiểu được các cháu, là biết rằng thế hệ các cháu hoàn toàn hiểu bọn chú”.

 Ngày xưa chúng tôi tràn đầy lạc quan, tin tưởng, đến nỗi lỗi của mình là đã tin tưởng quá. Còn bây giờ, tôi thấy thương các con vì dường như chúng chẳng biết tin vào cái gì. Người Pháp có câu “sung sướng thay là những kẻ có niềm tinNhà văn bùi Ngọc Tấn

Và sau này là những bạn đọc trẻ tới nhà. Mới Tết năm ngoái (2012) thôi, một cháu gái (thế hệ thứ 2 sau chúng tôi, thế hệ ông-cháu) từ Hà Nội về (cùng các anh Nguyên Ngọc, Dương Tường, Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Vũ Quần Phương…) bảo tôi: “Mấy quyển Anna chú phải giữ cẩn thận đấy chú nhé”. Ý cháu muốn nói tới mấy tập sách đã theo tôi vào tù. Không cần bình luận gì thêm về lời dặn ấy. Nó găm vào trí nhớ tôi.

Rồi đến buổi gặp ở Manzi tối 15/3 vừa qua. Một bạn đọc còn rất trẻ mang gần như tất cả các đầu sách của tôi đến để tôi ký.

Tôi không bất ngờ trước các câu hỏi của lớp trẻ đặt ra cho chúng tôi về lẽ sống niềm tin, những sai lầm trong quá khứ, về những điều cần phải có trong cuộc sống. Tôi hiểu họ, yêu quý họ và tin chắc một điều: Sự chia sẻ giữa các thế hệ là tuyệt đối. Điều ấy làm chúng tôi yên tâm sống và thanh thản đi… về thế giới bên kia.

IMG_3930
“Nếu có bị cuộc đời cho đo ván thì cũng đừng để mất hết” (Bùi Ngọc Tấn khuyên bạn trẻ, tại café Manzi 15/3).

Và so với cái thời mà một loạt nước XHCN kiểm điểm nước nào xem nhiều nhất phim “Số phận con người” (theo truyện của Solokhov); những phim “Đàn sếu bay”, “Bài ca người lính” bị cấm chiếu ngay ở quê hương do cái án quy chụp “gây tâm lý sợ hãi chiến tranh” (như ông vừa mới hồi ức), thì không khí hiện nay khác hẳn? Ông nghĩ ông còn muốn nó khác đến bậc nào nữa?

Cuộc sống hôm nay có những bước tiến bộ đáng kể so với cái thời thi chiếu, thi xem phim Số phận con người, rồi lại lên án nó. Nhưng đã nửa thế kỷ rồi. Gọi là cuộc sống có nhích lên. Nhích lên chút ít. Đáng buồn là như vậy. Hai ông nhà báo đi làm phận sự bị đánh mà không dám nhận là mình bị đánh, không dám “ẳng lên một tiếng” như người ta đã viết. Về chủ đề này có đến cả chục ngàn dẫn chứng, trăm ngàn ví dụ.

Cuộc sống đã có nhiều tiến bộ. Nhưng sự không dám nói thật, sự dối trá vẫn còn khá phổ biến. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống, đến tiến bộ xã hội.

Cho tôi nói rõ một điều: Tôi căm thù sự giả dối, đặc biệt thói đạo đức giả.

Ông hẹn với bạn bè “phải sống dai, sống dai là thắng” và nay ở tuổi 79 ông kết luận“sống đến bây giờ là lãi rồi”. Gặt hái lớn nhất của cuộc đời Bùi Ngọc Tấn?

Tôi rất sợ chết mà chưa làm được những công việc cần làm, chưa hoàn thành dự định (như Nguyên Hồng chẳng hạn) thì quá buồn. Thật may mắn, những việc cần làm tôi đã làm hoặc đang hoàn thành.

Đúng là tôi sống đến bây giờ là lãi rồi. Tôi không ngờ về cuối đời lại được hưởng sự chia sẻ, đùm bọc như tôi đang hưởng.

Gặt hái lớn nhất của đời tôi ư?

Một là: Có được một đóng góp ít ỏi, nhỏ bé cho văn học.

Hai là: Tránh được cho người quen những lúng túng khi gặp tôi, chấm dứt tình trạng đã kéo dài nửa thế kỷ, như tôi nói ở trên: Không ra không nhìn thấy, không ra nhìn thấy, không ra chào, không ra không chào, chẳng là quen mà cũng không là lạ, nhìn tôi như nhìn một cái gì đã kết thúc rồi.

Ông vẫn chủ yếu đi về Hà Nội- Hải Phòng. Cảm nhận của ông về hai thành phố này, thời điểm hiện nay?

Tôi yêu Hà Nội, Hải Phòng của nửa thế kỷ trước với tình yêu của một chàng trai tuổi 20.

Một Hà Nội thanh bình, êm đềm, thanh lịch văn hiến, và trong veo không khí, tán lá những phố sấu dài như ôm ấp chở che.Hà Nội một thời để yêu, một thời để sống của tôi.

Và Hải Phòng tỉnh lẻ, tỉnh lẻ cô em nằm xem kiếm hiệp, tỉnh lẻ về bầu trời, về sự dèm pha tâng bốc. Tôi đã viết về Hải Phòng như vậy nhưng tôi yêu nó biết bao. Hoa phượng chẳng dính dáng gì đến tình yêu ấy dù nó đã được chọn là biểu tượng của thành phố Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ.

Hải Phòng xù xì lam lũ, lao động đổ mồ hôi, hồn nhiên, chân thật, phóng khoáng và cởi mở với những tên đất chỉ nghe cũng đã yêu: Ngõ sau Nhà Lốp, Nhà thờ Tây đen, bến tầu Tây Điếc, Ngõ ông Lý Phình… Hải Phòng với những ngôi nhà mới cửa sổ xanh mở đều một lượt / như một ban đồng ca cùng ngân giọng hát/ như những người bên nhau cùng mở rộng tâm hồn.

Hải Phòng, Hà Nội hôm nay, những cơ thể đang phát triển. Mờ đi những nét riêng. Hơn thế, rất giống nhau: Xô bồ, vội vã, giành giật…, ô nhiễm cả thành phố, cả mặt người.

Phát triển nhưng đầy lo âu.

Tôi trở thành xa lạ với Hà Nội và với cả Hải Phòng dù vẫn sống ở đó.

Có thể vì tôi đã 80 tuổi rồi chăng?

DƯƠNG PHƯƠNG VINH

Không e sợ khi xuân về

TP – Năm qua, tiểu thuyết Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn đoạt Giải thưởng Lớn trong Festival Sách và biển tại Pháp. Chiến thắng 6 đối thủ có sách vào chung khảo – là các nhà văn chuyên nghiệp Pháp, Canada, Bỉ – có người là giám đốc nhật báo Le Monde vốn là thủy sư đô đốc, nghĩa là rất hiểu biển. Đã gần tám mươi ông vẫn nguyên một tinh thần sảng khoái, điềm tĩnh.

 

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và cháu nội. Ảnh Nguyễn Đình Toán
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và cháu nội. Ảnh Nguyễn Đình Toán.

 

Mỗi lần gặp ở Đại hội Nhà văn thấy ông rất phấn chấn. Sao lần gần đây nhất ông lại vắng mặt?

Một câu hỏi rất hay. Nhưng để trả lời câu này, cho phép tôi ngược thời gian một chút. Xuân nhật do đa mà. Dông dài tí ti, chị đồng ý nhé.

Năm 1973, khi tôi từ rừng núi trở về, các cơ quan chức năng nhiều lần nói với vợ tôi: “Chị đừng nghĩ là anh Tấn nhà chị lại còn được viết văn nữa. Không ai cho anh ấy viết văn nữa đâu! Chị hãy nhớ lấy điều ấy!”.

“Tôi đã quên tên tôi dưới mặt trời”. Đã bao lần tôi nhẩm đi nhẩm lại câu thơ ấy. Tưởng rồi sẽ quên được hẳn tên-dưới-mặt-trời của mình nhưng mới khó làm sao.

Đầu năm 1990, tôi viết trở lại. Viết vì sau nghị quyết đổi mới của Đại hội Đảng năm 1986, có thể viết khác đi. Viết vì những điều tích tụ trong lòng không thể không viết ra. Viết như một sự không khuất phục, chống lại mệnh trời…

 

 Xuân năm nay tươi và còn tươi mãi mãi mà ta đang chết dần dần. Thời còn đang học phổ thông, đọc câu ấy trong Giọt sương hoa của Phạm Văn Hạnh mà cứ rợn hết cả người. Tôi hiểu rằng tôi đang sống nghĩa là tôi đang chết. Tôi hiểu lẽ sinh, tử trong câu ấy. Tôi hiểu cuộc đời thật đẹp, hãy sống hết mình như một người cần phải sống, được sống trên cuộc đời này. Và sống có ích. Cũng như sau này tôi đọc Léonard de Vinci: Tôi những tưởng rằng mình học sống hoá ra là học chết.

Bùi Ngọc Tấn

Sau khi công bố hai tập sách (hồi ký Một thời để mất cuối năm 1995 và truyện ngắn Những người rách việc đầu năm 1996) tôi nộp đơn xin vào Hội Nhà văn, nhưng không được kết nạp. Tôi đã định rút đơn. Hai người ký bảo lãnh cho tôi là Vũ Bão và Lê Bầu can ngăn: Tôi lạy ông. Ông cứ để đơn đấy cho chúng tôi nhờ.

 

Thực ra nếu không vì hoàn cảnh éo le, tôi không nộp đơn. Tôi luôn hiểu viết văn là nỗ lực một mình cô đơn trước trang giấy trắng. Chẳng qua chỉ vì muốn chính thức được công nhận đã đứng dưới mặt trời thôi. Cái danh hiệu “nhà văn quốc gia” như anh em văn nghệ Hải Phòng thường nói, có thể giúp tôi điều ấy. Năm sau, 1998 tôi được kết nạp. Đại hội Đại biểu Nhà văn lần thứ 6 (năm 2000) là đại hội đầu tiên tôi được tham dự. Tuy nhiên đã có ý kiến truất quyền đại biểu của tôi. Cuối cùng tôi vẫn được đi họp. Tôi có nói với nhà thơ Hữu Thỉnh, phó Tổng thư ký Hội Nhà văn lúc ấy về mục đích đi đại hội của tôi: Mình có dự cũng chỉ để gặp lại bạn bè cũ. Nếu không, có khi đến chết cũng không gặp được nhau. Một đại hội vui của tôi. Bạn cũ, bạn mới tay bắt mặt mừng. Tôi không chú ý tới các bản tham luận. Chỉ bắt tay, ôm lấy nhau. Và chụp ảnh…

Năm 2005, Đại hội Đại biểu lần thứ 7, được bầu là đại biểu, việc dự của tôi suôn sẻ. Đã biết đại hội sẽ diễn ra như thế nào rồi, nghĩa là người đọc tham luận cứ đọc, người ngồi dưới cứ nói chuyện, người ra hành lang uống cà phê cứ uống, người đi dạo ngoài sân cứ đi…, niềm vui của tôi là gặp lại Hà Nội của tôi, Hà Nội một thời tươi đẹp nhất của tôi. Cùng Đoàn Lê đi thăm Nguyên Bình ốm nặng. Uống bia, ăn chân gà nướng ban đêm ở một vỉa hè Hà Nội với Dương Tường, Dạ Thảo Phương, “đầu nậu” sách Dương Thắng rồi Phạm Hải Anh vừa từ Hà Lan về. Một mình lang thang Bờ Hồ, ngồi ở gốc cây nơi 32 năm trước đã ngồi khi từ những lòng chảo giữa rừng trở về ăn kem, gặp lại Tháp Rùa…

Đại hội (toàn thể) lần thứ 8 tháng 8 năm 2010 tôi không dự. Bởi những lý do thiết yếu của riêng tôi không còn nữa. Bạn cũ, bạn mới (đã thành bạn cũ) gặp rồi, và suốt 10 năm giữa các đại hội, thường xuyên gặp gỡ, điện thoại, meo đi meo lại cho nhau đủ các thứ chuyện rồi. Còn nhu cầu gặp lại Hà Nội xưa thì thật khó mà thực hiện: Kẹt đường, kẹt xe. Cực kỳ gian khổ. Kể cả nguy hiểm nữa. Người, ô tô, xe máy ở đâu ra mà lắm thế.

Với lại cũng thừa biết các đại hội đều giống nhau. Ăn sáng như thế nào, lên hội trường như thế nào.

Sau đại hội, nhiều người bảo tôi: Anh không đi là đúng.

Ông có e sợ khi mùa xuân về?

Tôi hiểu ý câu chị hỏi. 79 tuổi rồi. Mỗi mùa xuân tới đồng nghĩa với cái khúc còn lại của tôi ngắn đi một ít. Cái kết thúc đang tới gần kề. Thực ra tôi nghĩ tới sự kết thúc từ lâu lắm rồi. Ngay khi còn rất trẻ.

Xuân năm nay tươi và còn tươi mãi mãi mà ta đang chết dần dần. Thời còn đang học phổ thông, đọc câu ấy trong Giọt sương hoa của Phạm Văn Hạnh mà cứ rợn hết cả người. Tôi hiểu rằng tôi đang sống nghĩa là tôi đang chết. Tôi hiểu lẽ sinh, tử trong câu ấy. Tôi hiểu cuộc đời thật đẹp, hãy sống hết mình như một người cần phải sống, được sống trên cuộc đời này. Và sống có ích. Cũng như sau này tôi đọc Léonard de Vinci: Tôi những tưởng rằng mình học sống hoá ra là học chết. Xin chị đừng ngắt lời tôi. Mùa Xuân không nói tới chuyện chết. Dông. Đúng không? Tôi lại thấy ý nghĩa tích cực của những câu nói ấy. Hãy sống như thế nào để đến khi chết đi không còn áy náy gì.

Chẳng phải Paven Korsagin cũng đã nói thế hay sao. Học sống hóa ra là học chết đấy. Cũng có thể nói ngược lại với người khổng lồ Léonard de Vinci: Học chết lại chính là học sống. Tôi không e sợ gì khi mùa xuân về. Bạn bè nhiều người không còn nữa: Vũ Bão, Lê Bầu, Hứa Văn Định, Nguyên Bình, Mạc Lân. Tôi biết họng súng bắn tỉa của Thần Chết đang chĩa vào tôi, chờ đợi cú siết cò và thanh thản ra đi. Bởi những việc cần làm tôi đã làm với hết sức mình. Bởi tuy còn những cái xấu, nhưng tôi không làm hại ai, tôi luôn là người lương thiện.

Bởi sống đến bây giờ là lãi rồi.

Dương Phương Vinh

Tôi mắc nợ biển

Festival Sách và Biển được tổ chức hàng năm tại Pháp. Giải thưởng mang tên Henri Queffélec, nhà văn được coi là người viết về biển bằng tiếng Pháp hay nhất thế kỷ 20 và là người sáng lập giải.Giải thưởng năm nay thuộc về nhà văn Việt Nam Bùi Ngọc Tấn với tác phẩm “Biển Và Chim Bói cá” (Tây Hà dịch). Sau 29 năm, lần đầu tiên giải thưởng ra khỏi Châu Âu.

Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhà văn Bùi Ngọc Tấn về sự kiện này.

 

PV: Xin chúc mừng tiểu thuyết Biển và Chim bói cá (BVCBC) vừa đoạt giải thưởng quốc tế tại Pháp trong cuộc thi viết về biển. Tác phẩm BVCBC đã đến với cuộc thi này ra sao?

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: BVCBC là quyển tiểu thuyết thứ 5 của tôi, quyển tiểu thuyết duy nhất được in và phát hành suôn sẻ. Ba quyển đầu bị tịch thu khi còn là bản thảo từ những năm 60 thế kỷ trước, khi tôi bị mắc vào vòng lao lý. Còn quyển thứ tư, Chuyện kể năm 2000 (CKN2000) in xong, chưa phát hành đã có lệnh thu hồi tiêu hủy. Chỉ riêng BVCBC là được in, được tái bản, được các báo đưa tin. Lại còn được đọc trên Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam từ đầu đến cuối, và được trả 800.000 đồng tiền “nhuận đọc”. Tưởng thế đã là may mắn tột cùng rồi, nhưng nó lại được dịch ra tiếng Pháp và xuất bản tại Pháp tháng 10 năm 2011, được giải thưởng tại Festival Sách và Biển (Livre et Mer) tại Pháp năm 2012. Có lẽ 4 anh chị sinh trước nó bị vất vả nên số phận đã cho nó một sự đền bù chăng?

La Mer et le Martin-pêcheur (tên tiếng Pháp của BVCBC) đã lọt vào mắt xanh của bạn đọc Pháp, là 1 trong 6 tập sách vào chung khảo, 1 của Canada, 1 của Bỉ, và 3 của Pháp. Tất cả đều là các nhà văn chuyên nghiệp, có người còn là thủy sư đô đốc, là giám đốc nhật báo Le Monde, một tờ báo lớn ở Pháp và Châu Âu. Và cuối cùng BVCBC đã chiến thắng.

Ban tổ chức cuộc thi đã đánh giá ra sao về tác phẩm này?

 

Trang web của Festival có ghi mấy dòng in trên bìa 4 BVCB bản tiếng Pháp: Với lời văn đẹp đẽ đầy chất thơ, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đưa ta đến nơi mà chúng ta chưa bao giờ đến. Sau khi gấp lại tập sách, chúng ta đã thay đổi. Và cũng trở nên tốt hơn.

Và đây là lời tuyên dương BVCBC của ông Francois Bourgeon, chủ tịch danh dự Festival: Chan chứa yêu thương và ngộ nghĩnh… Đầy chất thơ… Bùi Ngọc Tấn tặng chúng ta một quyển tiểu thuyết nhân văn… Cấu trúc rất đặc sắc. Không chút áp đặt, ông dẫn chúng ta đến một vĩ thanh để chúng ta tự do suy ngẫm… Bùi Ngọc Tấn biết cái giá của tự do. Tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn là cuốn sách không thể nào quên. Thậm chí có lẽ là… một quyển tiểu thuyết làm người ta tốt hơn.

Ông đã viết BVCBC trong bối cảnh và tâm trạng nào?

 

Tôi đã làm một nhân viên ở một xí nghiệp đánh cá quốc doanh 20 năm. Là một thành viên, một tế bào của cái cơ thể phập phồng hơi thở có một đối tượng lao động là biển cả này, tôi vui niềm vui của những ngày biển lặng gió êm, những chuyến biển tầu về đầy ắp cá; tôi lo lắng cho những người bạn của tôi đang chịu gió mùa, tránh bão, tôi chia sẻ nỗi buồn với những thủy thủ khi những chuyến biển bị gẫy…

Và tôi hiểu những khó khăn của thời ấy về phụ tùng thay thế, về dầu đốt, về thiếu am mô ni ác chạy máy lạnh, về mỗi khi Sở “điên nặng” cúp điện…

Tôi cũng đã nhiều lần đi biển. Reo hò khi đụt cá căng phồng ào ào trút nước xuống boong, lo lắng nhìn đụt lép kẹp vừa lôi lên sàn dốc. Chọn tôm, nhặt cá, luộc tôm tít ăn khuya cùng các thuyền viên. Tôi yêu họ, tôi yêu biển.

Tôi mắc nợ với biển và mắc nợ với họ. Năm 1977 (hay 1978?) nghĩa là chỉ hơn 2 năm sau, tôi đã viết và in truyện vừa Thuyền Trưởng dài hơn 100 trang, tất nhiên là viết chui (ký tên khác) do nhà Lao Đông xuất bản.

Là nhân viên thi đua làm trên bờ, tôi vẫn tận dụng mọi cơ hội đi biển và chăm chỉ ghi chép.  Viết BVCBC, tôi cố diễn đạt được cuộc chuyển mình trong tư tưởng, trong quan hệ giữa người với người, giữa người với biển, một cuộc vật lộn gian khổ và đau đớn…

Tôi đã dành ra 3 năm, viết đi viết lại nhiều lần và cuối cùng nó có hình dạng như các bạn thấy.

 Theo ông, bạn đọc người nước ngoài có thể tìm thấy điều gì thú vị ở BVCBC?

 

Lời tuyên dương BVCBC của ông chủ tịch danh dự của Festival có câu: Quyển sách của Bùi Ngọc Tấn hoàn toàn làm chúng tôi thỏa mãn. Và sau đó ông nhắc đến những điều cụ thể hơn: BNT kể về đất nước mình và về thế giới đánh cá mà ông từng biết. Một quyển tiểu thuyết hấp dẫn về lịch sử một hải cảng, về một xí nghiệp đánh cá quốc doanh, về một cộng đồng người đánh cá can đảm và ranh mãnh vật lộn để nuôi sống gia đình, vét biển đến cạn kiệt. Trước khi bị cuốn vào những quanh co khúc khuỷu của toàn cầu hóa…

Về mặt nghệ thuật, BVCBC cũng được đánh giá cao: Các báo ở Pháp đã dẫn nhiều nhận xét của những thành viên ban giám khảo, ban tổ chức Festival như cấu trúc của tiểu thuyết, một giọng văn phảng phất Dostoievski, một quyển tiểu thuyết magnifique (tráng lệ, tuyệt vời)… qua đó thấy được hồn thơ pha lẫn với sự hóm hỉnh của một Vaclav Haven, hay một Milan Kundera…

Tôi rất hạnh phúc khi đọc thư của bà giám đốc Festival gửi dịch giả Tây Hà: “Chắc chắn ở ViệtNamcòn nhiều áng văn hay cần được tiếp tục giới thiệu ra thế giới.”

 Còn ở trong nước, BVCBC được đón nhận ra sao?

 

Ngay khi mới xuất bản lần đầu, công ty NhãNamđã tổ chức giới thiệu sách. Nhiều báo lớn đã đưa tin và có bài nhận xét. Trong một số báo Tết, một tờ báo coi việc xuất bản BVCBC là một trong những sự kiện văn hóa trong năm.

Và như trên đã nói: Nó được đọc trên đài phát thanh TNVN trong nhiều tháng.

Xin tò mò một chút, giải thưởng về vật chất có lớn không?

 

Tôi chỉ được báo tin và cũng chưa được biết chính xác số tiền thưởng kèm theo giải. Dịch giả Tây Hà có chuyển cho tôi thư của giám đốc Festival nói rằng sẽ chuyển phần của dịch giả cho dịch giả, phần của tác giả cho tác giả.

Sức khỏe ông dạo này thế nào, ông vẫn đang tiếp tục viết?

 

Năm nay tôi đã 79 tuổi. Sự chuyển biến theo hướng… đi xuống  diễn ra rất nhanh.

Nhưng vẫn phải làm việc. Viết báo kiếm tiền để sống. Và viết văn.

 

 Nghe nói ông từng có đơn đề nghị cơ quan có thẩm quyền tổ chức thẩm định lại quyển tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” của ông. Thực hư thế nào?

 

Vâng. Tôi đã làm nhiều đơn. Lên Ban Văn Hóa- Tư tưởng Trung Ương. Lên Bộ Văn Hóa. Và Hội Nhà Văn. Đề nghị tổ chức hội thảo. Và kêu oan cho sách. Nhưng không được giải quyết.

Trong khi đó, mới hôm qua, nhiều người từ Hà Nội về, từ HCM ra gặp tôi chúc mừng tôi được giải thưởng vẫn mua CKN2000 (bản phô tô nhưng được đóng bìa rất đẹp) để tôi ký tặng.

Vậy là sau 12 năm, người ta vẫn tìm đọc CKN2000. Và tôi vẫn tạo nên công ăn việc làm cho một số người( cười). Chỉ có tác giả là không được đồng nhuận bút nào. Còn nhà nước thất thu tiền thuế.

Xin cám ơn ông về cuộc trò chuyện này.

 

Phong Hằng ( thực hiện)

Bùi Ngọc Tấn – Người chăn kiến

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Tôi muốn gọi ông như vậy, dù đó là tên một nhân vật do chính ông tạo ra trong một truyện ngắn cùng tên.

Truyện kể về một ông giám đốc bị đi tù oan, rồi nhờ dáng vẻ trí thức, ông được một “đại bàng” giàu óc tưởng tượng và chán trò đấm đá tha cho trận đòn “nhập môn” mà đựơc trần truồng đứng làm tượng Nữ Thần Tự Do.

Đóng vai này, ông thèm được là một người trong cả chục người vây chung quanh phục dịch “đại bàng”, thèm đựơc như ông già chủ nhiệm hợp tác rụng hết răng móm mém ôm bọc “nội vụ” đi quanh buồng giam hát ru em bài ‘Bé bé bằng bông’ (một bài hát cho trẻ em ở miền Bắc thời kỳ chiến tranh).

Và đặc biệt thèm được chăn những con kiến trong cái vòng tròn bé tí vẽ bằng gạch non trên nền buồng giam, một trò chơi do tay “đại bàng” nghĩ ra.

Cho đến ngày ông được minh oan, trở về công việc cũ. Tất cả đều ổn. Nhưng cứ vào giờ ngủ trưa, phòng giám đốc luôn khóa trái: ông nhìn trước nhìn sau, rồi mở ngăn kéo, lôi ra hai con kiến, vẽ một cái vòng tròn nhốt chúng, bẻ bánh bích quy cho chúng ăn, lấy namecard chặn chúng…

Rồi như sực nhớ, ông hốt hoảng cởi bỏ áo quần, leo lên bàn, mắt nhìn về phía xa, tay giơ cao kiêu hãnh, trong tư thế của Nữ thần Tự do.

Cái vòng tròn nhỏ xíu ấy không giữ nổi hai con kiến nhưng chính là cái vòng kim cô nhốt trọn thân phận của một con người!

Bùi Ngọc Tấn không bao giờ ra khỏi câu chuyện đó, vòng tròn đó, vì nó là thân phận của chính ông. Cả những con chữ của ông cũng thế, như những con cá mới đánh lên từ biển, chúng căng mọng tình yêu và ròng ròng máu đỏ, dù vừa phải đi một chặng xa, từ thập kỷ 60 thế kỷ trước đến trước thềm năm 2000.

“Không có tự do làm sao có tiểu thuyết hay được. Làm sao hội thảo về tiểu thuyết lại có A.25? Có sự giám sát của công an? Mới chỉ bàn về tiểu thuyết thôi đã không có tự do rồi.”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Cuộc trao đổi này diễn ra từ năm 2001, khi cuốn “Truyện kể năm 2000″ của ông vừa in xong chưa lâu đã buộc phải đi vào “lưu hành bí mật”, và được tiếp tục bổ sung năm 2002. Toàn văn bài viết cũng chưa từng công bố.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (NV BNT): Cảm ơn chị đã nhớ tới truyện ngắn đó. Tôi viết để dự thi cuộc thi truyện cực ngắn của Tạp chí Thế Giới Mới. Viết chỉ trong một ngày xong. Đinh ninh nó sẽ đựơc giải. Thế nhưng ngay cả in trên tạp chí cũng không. Sau vụ đó, tôi càng hiểu giải thưởng có ý nghĩa gì.

Phạm Tường Vân (PTV): Nghĩa là từ chỗ tin tưởng vào giải thưởng, ông trở nên hoài nghi và mất hết hy vọng. Thật ra, giải thưởng có đáng cho chúng ta kỳ vọng hay thất vọng tuyệt đối vào nó hay không?

NV BNT: Giải thưởng của các báo, các nhà xuất bản, của Hội Nhà văn đều nhằm định hướng cho sáng tác. Các định hướng mà chúng ta đều thấy cần phải thay đổi. Thế nhưng giải thưởng nói rằng: Hãy cứ viết như vậy. Và từ đó tôi không quan tâm đến giải thưởng cũng như các sáng tác được giải.

PTV: Nhưng giải thưởng Hội Nhà văn cũng đã vài lần trao đúng địa chỉ, chẳng lẽ đó là ngoại lệ?

NV BNT: Những ngoại lệ hiếm hoi, đó là những năm trao giải cho các tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh, Mảnh đất lắm người nhiều ma và Bến không chồng, mà xuất sắc nhất là Nỗi buồn chiến tranh.

Đó là cuốn tiểu thuyết làm vẻ vang cho nền tiểu thuyết Việt Nam. Nhưng thật đáng buồn, sau đó đã có cuộc vận động những người bỏ phiếu cho nó đựơc giải thưởng viết bài phản tỉnh, nghĩa là đã có định hướng lại công cuộc sáng tác. Đáng buồn hơn, đã có nhiều nhà văn trong hội đồng xét thưởng viết bài tự phê phán.

Nhưng một tác phẩm văn chương đích thực không bao giờ vì thế mà chết hay mất đi vài nấc thang giá trị.

Văn chương là thế. Dìm không xuống, kéo không lên.

Đó cũng là một trong nhiều lý do tôi thích công việc này. Nó tồn tại bằng giá trị tự thân. Sống bằng cái gì mình có.

Tiểu thuyết Việt Nam

PTV: Một nhà phê bình văn học nhận xét: “Tiểu thuyết Việt Nam, nỗi buồn triền miên, có thể kéo dài từ năm nay sang năm khác, hết hội thảo này đến hội thảo khác”. Là tác giả của một cuốn tiểu thuyết gây chấn động năm 2000, ông nhìn nhận thế nào về thực trạng và tương lai của tiểu thuyết Việt Nam?

NV BNT: Tiểu thuyết nước ta quá ít thành tựu. Đã có quyển được tung hô, đựơc phát động đọc, được giảng dạy, đựơc bao cấp để rồi in đi in lại, nghĩa là quyết tâm hà hơi tiếp sức nhưng nó cứ chết thôi. Như tôi vừa nói, năm nào cũng có giải thưởng văn chương, giải thưởng tiểu thuyết nhưng chẳng lưu lại điều gì trong lòng bạn đọc.

Thời chiến tranh, làm văn học minh họa, văn học “phải đạo”, điều đó hiểu được. Bây giờ không thể thế. Bạn đọc đã bội thực, chúng ta đã chán chúng ta.

Cuối năm tổng kết thành tựu này thành tựu khác. Rồi ít lâu sau lại nói chúng ta còn hời hợt, chưa phản ánh được cuộc sống, thời đại này là thời đại của tiểu thuyết mà không có tiểu thuyết, kêu gọi hãy viết các tác phẩm lớn ngang tầm thời đại.

Và năm sau tổng kết lại có nhiều thành tựu. Để sau đó lại nói là không đọc tiểu thuyết mười năm sau cũng chẳng có vấn đề gì. Rồi khẳng định tiểu huyết là xương sống của một nền văn học. Và kêu gọi…

Cái vòng luẩn quẩn cứ như vậy tiếp diễn, không biết bao giờ mới thoát được ra.

PTV: Và các hội thảo vẫn cứ tiếp tục diễn ra như thể người ta thực lòng mong có một nền tiểu thuyết tầm cỡ. Nhưng thật ra…

NV BNT: Vâng, hội thảo, chi tiền, mời nhà văn, nhà lý luận. Học thuật. Kinh nghiệm. Trong và ngoài nước. Tổng kết và rút ra rất nhiều điều. Cứ như là thực lòng mong có tiểu thuyết hay!

Cuối năm 2002, Hội Nhà văn tổ chức hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết có mời tôi. Nhưng tôi không đi. Tôi cảm thấy hết tính chất hình thức của những cuộc hội thảo kiểu này. Tôi sợ mình vốn trung thực, lên đấy muốn đóng góp cho thành công của hội thảo cứ nói toạc ra ra những điều mình nghĩ thì lại thành scandal, bất tiện.

Ví dụ tôi sẽ hỏi: Có thật chúng ta muốn có tiểu thuyết hay, tiểu thuyết lớn hay không? Hay chỉ nói để mà nói? “Nói dzậy mà không phải dzậy”?

Những đề dẫn, những tham luận trong các buổi hội thảo đều rất hay, rất công phu nhưng có một điều ngày thường khi trao đổi cùng nhau ai cũng coi như điều kiện tối thiểu bắt buộc để có tiểu thuyết hay lại không hề được nhắc đến hay phân tích. Đó là Tự Do!

Không có tự do làm sao có tiểu thuyết hay được. Làm sao hội thảo về tiểu thuyết lại có A.25? Có sự giám sát của công an? Mới chỉ bàn về tiểu thuyết thôi đã không có tự do rồi.

Tiểu thuyết Biển và Chim Bói cá xuất bản bằng tiếng Pháp
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn  vừa được trao giải Henri Queffenlec của Pháp

Tôi không trách hay ghét gì các anh công an văn hóa. Hãy nhìn các anh công an văn hóa đến dự những buổi hội họp văn chương nghệ thuật, họ mới ngượng nghịu làm sao!

Tôi nói đây là nói về cơ chế. Một cơ thế tồn tại quá lâu, quá phi lý nhưng đã trở thành tự nhiên như cuộc sống. Không ai dám đứng ra tháo gỡ. Cần lưu ý rằng nhà văn là những người yêu nước, rất yêu nước. Hãy tin ở họ. Họ yêu nước không kém bất kỳ một người Việt Nam nào.

PTV: Chừng nào xã hội còn được sắp xếp theo kiểu đó, nền văn học của một quốc gia còn được Hội Nhà văn “điều hành” theo kiểu đó thì sẽ không có tiểu thuyết?

NV BNT: Có thể nói thế này: Tôi hoài nghi về tương lai của tiểu thuyết Việt Nam.

PTV: Quan hệ giữa nhà văn và nhà cầm quyền thường ít khi suôn sẻ, ở bất kỳ quốc gia nào. Nhưng xin nói thật, có thể tin rằng có một cái gọi là lòng yêu nước của các nhà văn, nhưng ít ai trông cậy vào bản lĩnh và ý chí của họ, bởi anh ta quá yếu ớt và yếm thế. Và như vậy, việc các nhà chức trách để mắt đến nhà văn và các hội thảo vô thưởng vô phạt của họ là một việc làm vô ích và lãng phí.

NV BNT: Những nhà văn đúng nghĩa thường lặng lẽ ngồi bên bàn viết, cặm cụi tháng năm hao tâm tổn trí trên từng dòng chữ kể lại những gì đã làm họ xúc động và mong đựơc chia sẻ. Họ chẳng thể áp đặt đựơc gì đối với ai. Làm sao một người viết tiểu thuyết chân chính dù tài năng như L. Tolstoi, G. Marquez hay E. Hemingway bằng những trang viết của mình lại có thể lật đổ được chế độ?

Tôi muốn dẫn ra đây ý kiến của M. Kundera, nhà tiểu thuyết người Pháp gốc Tiệp: “Tôi đã nhìn thấy và sống qua cái chết của tiểu thuyết, cái chết bất đắc kỳ tử của nó (bằng những cấm đoán, kiểm duyệt, bằng áp lực của ý thức hệ), trong cái thế giới mà tôi đã trải qua phần lớn cuộc đời tôi và và ngày nay người ta gọi là thế giới toàn trị (…)

“Tiểu thuyết không thể tương hợp được với thế giới toàn trị. Sự xung khắc này còn sâu sắc hơn cả xung khắc giữa một người ly khai và một kẻ thuộc bộ máy cầm quyền, giữa một con người đấu tranh cho nhân quyền và một kẻ chuyên tra tấn người, bởi vì nó không chỉ có tính cách chính trị hay đạo đức, mà có tính cách bản thể. “

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Tiểu thuyết không thể tương hợp được với thế giới toàn trị. Sự xung khắc này còn sâu sắc hơn cả xung khắc giữa một người ly khai và một kẻ thuộc bộ máy cầm quyền, giữa một con người đấu tranh cho nhân quyền và một kẻ chuyên tra tấn người, bởi vì nó không chỉ có tính cách chính trị hay đạo đức, mà có tính cách bản thể. Điều đó có nghĩa là cái thế giới cơ sở trên chân lý duy nhất và thế giới nứơc đôi và tương đối của tiểu thuyết đựơc nhào nặn theo những cách thức hoàn toàn khác nhau…”

PTV: Điều gì đáng báo động nhất trong tiểu thuyết hiện nay?

NV BNT: Thiếu vắng tính chân thực. Chị đã bao giờ đóng cửa một mình trong buồng, đọc một cuốn tiểu thuyết nào đó mà vẫn cứ xấu hổ đỏ rừ mặt chưa?

PTV: Chưa. Vì tôi sẽ sớm bỏ sách xuống. Có lẽ bởi tôi không có cái mặc cảm của người trong cuộc chăng?

NV BNT: Tôi đã bị như vậy. Xấu hổ về sự bịa đặt khiên cưỡng, uốn éo né tránh mà làm ra vẻ ta đây rất dũng cảm, rất chân thực. Hàng giả trăm phần trăm mà dám tự tin nói là hàng thật, hàng xịn. Làm sao lừa đựơc độc giả. Xấu hổ về cái ông tác giả vẫn cứ tưởng mình lừa được thiên hạ. Nhưng có lẽ không phải lỗi ở họ, hoặc lỗi ở họ rất ít.

Cũng cần nói thêm là chân thực không phải là chụp ảnh cuộc sống. Mà là tìm tới cội nguồn, cái gốc gác, cái động mạch chủ của cuộc sống.

PTV: Cuốn sách của ông được đánh giá cao vì tính chân thực. Tại sao ông lại chọn lối viết này trong khi nó vừa nguy hiểm vừa kém mô-đéc?

NV BNT: Tôi cố gắng giảm bớt tí ti sự thiếu hụt đó. Ngay từ những năm 60, tôi và bạn bè đã nói với nhau những khao khát được viết thật. Một mơ ước chính đáng và nhỏ nhoi, nhưng rất hão huyền. Càng vô vọng khi tôi ở tù ra. Thế nhưng chị thấy đấy. Cuộc sống dù sao vẫn cứ đi lên, dù rất chậm. Dù thế nào trái đất vẫn cứ quay. Tôi không ngơi tin ở cuộc sống.

PTV: Tại sao “Thân phận tình yêu” lại nhìn chiến tranh khác với tất cả các tiểu thuyết Việt Nam trước đó về chiến tranh? Bậc thầy của nghệ thuật “tô hồng”, Roman Carmen, tác giả của những thước phim tài liệu hùng tráng nhất trong lịch sử cách mạng Xô Viết, cũng có một câu nói lúc cuối đời: “Không có sự thật, chỉ có sự thật mà nhà quay phim muốn thấy”. Văn học cũng không nằm ngoài “định luật” này?

NV BNT: Đúng vậy. Khủng khiếp nhất là suốt bao nhiêu năm tất cả “các nhà quay phim” đều chỉ được phép có một kiểu thấy duy nhất thay vì để nhiều cách nhìn cùng tồn tại. Nhà văn Nguyên Ngọc có kể cho tôi nghe câu chuyện sau: Một vị chỉ huy mặt trận có anh lính Bảo Ninh tham gia chiến đấu sau khi đọc Nỗi buồn chiến tranh, hỏi nhà văn Bảo Ninh: “Dạo ấy mình cũng ở đấy, tình hình có như cậu viết đâu? ”.

Và nhà văn Bảo Ninh trả lời: “Đấy là cuộc chiến tranh của anh. Còn tôi viết về cuộc chiến tranh của tôi”. Bảo Ninh đã nhìn chiến tranh bằng cặp mắt của anh. Bảo Ninh đã dám là mình, điều kiện trước tiên để có sáng tác hay.

PTV: Ông có lần nhắc đến cụm từ “chất độc màu da cam” hay là từ “quán tính”? Nó chỉ trạng thái này chăng? Ông đã trở lại với sáng tác như thế nào?

NV BNT: Bây giờ tôi còn một chồng sổ tay ghi chép trong thời gian đi làm đánh cá, toàn bộ tư liệu đó phải vứt đi hết. Ngồi tù rồi mà vẫn “bắt” những chi tiết đó, vẫn nhìn cuộc sống bằng cái nhìn hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nó ngấm vào máu mình rồi, thế mới lạ.

Những con người thời tôi sống thật sự đáng yêu nhưng không đáng yêu theo kiểu tôi nghĩ, họ đáng yêu theo kiểu khác. Tôi đã bỏ qua hết những mảng khác, những mảng tối của con người.

Khi sực nhận ra điều ấy, tôi đau lắm. Quả thật tôi không ngờ mình sẽ viết trở lại.

Viết với tư cách công dân, tư cách nhà văn hẳn hoi chứ không phải viết lăng nhăng hoặc viết chui. Năm 1986, đọc được những sáng tác như mình muốn viết, tôi hiểu: thời thế văn chương đã khác. Đầu 1990, khi làn gió dân chủ, đổi mới thổi suốt từ bức tường Berlin sụp đổ đến nước chúng ta, tôi đã viết lại. Đầu tiên là Nguyên Hồng- Thời đã mất. Sau đó là Người ở cực bên kia, Cún. Sau Cún là Mộng du (tên đầu tiên của tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000).

Tại sao tôi chọn cách viết này ư? Tôi nghĩ mình thuộc thế hệ già rồi. Đổi mới tư duy tiểu thuyết đối với tôi hơi vất vả. Tôi cũng nghĩ rằng điều cần thiết nhất đối với mình lúc này là cuốn sách phải đầy sức thuyết phục, không ai nói được là nó bịa đặt. Và một nhu cầu nhỏ bé nhưng chính đáng: viết thế nào để tự bảo vệ mình, tránh những đòn hội chợ vẫn hay xảy ra với những sáng tác có vấn đề, không loại trừ cả vòng lao lý…

“Khi tôi viết tôi chỉ nghĩ phải viết đúng như mình thấy, đúng như mình nghĩ. Giản dị, chân thực như cuộc sống. Ai đọc cũng hiểu. “

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

PTV: Ông có nghĩ là ở vào thời điểm này, chúng ta mới đặt ra một khái niệm vỡ lòng là viết thực, không dối trá, là hơi tụt hậu không?

NV BNT: Thế hệ chúng tôi đã sống qua những năm tháng thật sung sướng và cũng thật đau khổ, thật hạnh phúc nhưng cũng thật bất hạnh như tôi đã tổng kết trong Một thời để mất, tập sách đầu tiên của tôi in sau 27 năm im lặng. Không thể để những năm tháng ấy rơi vào quên lãng.

Thế hệ chúng tôi sắp đi qua trái đất này, tôi muốn những thế hệ sau biết đã có một lớp người sống như thế đấy. Tôi muốn nhà văn là thư ký, là người chép sử của thời đại.

Phẩm chất đầu tiên của những người này phải có là sự trung thực. Cho dù có bị chê là cổ.

PTV: Chương, đoạn nào trong cuốn tiểu thuyết làm ông ưng ý nhất?

NV BNT: Thật khó cho tôi. Có lẽ đó là chương viết về Già Đô, chương ở sân kho hợp tác. Và nhất là chương tiếng chim “còn khổ”. Những tiếng chim ấy đã đóng dấu tuyệt vọng nung đỏ vào não tôi. Mảnh sân kho hợp tác là tuổi trẻ của tôi. Và chương viết về Già Đô là kết quả sức tưởng tượng của tôi.

PTV: Nghĩa là Già Đô là nhân vật duy nhất được hư cấu?

NV BNT: Già là kết quả tổng hợp của nhiều già khác kể cả tình yêu của tôi đối với một nhà thơ làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam đã chết: Tuân Nguyễn.

PTV: Có ai chê cuốn sách hơi dài?

NV BNT: Có thể. Nhưng Lâu đài của Kafka, Những kẻ tủi nhục của Dostoievski, Con đường xứ Flandes của Claude Simon triền miên hồi tưởng hẳn cũng dài. Tôi tìm sự hấp dẫn ở chi tiết chứ không phải ở cốt truyện ly kì.

Đó là một điều khó. Viết gần một nghìn trang không có cốt truyện, không kể lại được là điều không đơn giản. Chị đã đọc Henri Charriere hẳn thấy Papillon có cốt truyện cực kỳ hấp dẫn vì bản thân đời tù của Charrier là như vậy. Còn chuyện tù Việt Nam rất đơn điệu. Anh tù 100 ngày cũng như anh tù 1.000 ngày, 10.000 ngày.

Và điều kinh khủng nhất là không ai thổ lộ tâm sự cùng nhau. Không ai tin ai, mỗi người là một vòng tròn khép kín. Khó viết lắm.

PTV: Mạch truyện hiện lên qua hồi ức, có khi chồng lên, khi hoán đổi thứ tự. Phương pháp đồng hiện từ thời tiểu thuyết mới có phải là chủ ý của ông?

NV BNT: Tôi không tin một nhà văn nào lại có thể thành công nếu ngay trong khi viết anh ta tâm niệm định sẵn cho tác phẩm của mình khuôn theo một trường phái nhất định nào. Khi viết, tôi chỉ nghĩ viết sao cho hay, cho chân thực và viết bằng trái tim mình.

Với tôi văn chương có hai loại: hay và không hay. Thế thôi, tôi không chạy theo các mốt.

Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cũng cách đây nửa thế kỷ rồi. Có còn gì mới nữa đâu. Tôi đồ rằng khi viết Ông già và biển cả, Hemingway không cũng không nghĩ mình mình sẽ viết theo dòng hậu hiện đại hay hiện đại, hiện sinh hay phản cấu trúc.

“Ai đã bươc vào nhà tù, vĩnh viễn không thoát khỏi nó. Hãy thận trọng, những ai được quyền xử lý con người!”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Ông viết vì ông quá hiểu, quá yêu biển Cuba cùng những người đánh cá Cuba và thấy klhông thể không vợi bớt lòng mình, không thể không viết về họ. Tôi đoán vậy bằng kinh nghiệm của tôi và các bạn của tôi.

Khi tôi viết tôi chỉ nghĩ phải viết đúng như mình thấy, đúng như mình nghĩ. Giản dị, chân thực như cuộc sống. Ai đọc cũng hiểu.

Quyển sách của tôi không phải của riêng một tầng lớp nào. Nó là của mọi người. Tôi không làm khó hiểu những điều dễ hiểu. Tôi không làm rắc rối những điều đơn giản.

Phương pháp đồng hiện chỉ nhằm chuyển tải được một trong những nội dung và thông điệp của tôi: Ai đã bước vào nhà tù, vĩnh viễn không thoát khỏi nó. Hãy thận trọng, những ai được quyền xử lý con người!

PTV: Tôi nhớ truyện ngắn “Người chăn kiến” của ông. Ở đó, sự bám đuổi này đựơc chuyển tải một cách đặc sắc và súc tích hơn nhiều.

NV BNT: Nói thêm với chị rằng trước khi in Chuyện kể năm 2000 (CKN 2000), tôi tung ra một số truyện ngắn về đề tài này để người ta làm quen dần với món ăn mới của tôi.

Như các truyện Người ở cực bên kia, Khói, Người chăn kiến, Một tối vui, Một ngày dài đằng đẵng. Người chăn kiến là một truỵên ngắn thành công nhưng không thể so sánh, Người chăn kiến gần một nghìn từ với CKN 2000 gần 1.000 trang.

Người chăn kiến là một đường cày, còn CKN 2000 là cả một cánh đồng.

Người chăn kiến là một hiện tượng, một lát cắt trong khi CKN 2000 là một lịch sử, một quá trình.

Tôi bằng lòng với CKN 2000. Tôi đã chạm tới cái trần của mình. Tôi đã làm tròn bổn phận.

PTV: Bổn phận với bạn tù, với gia đình, bè bạn, hay trách nhiệm công dân của người cầm bút?

NV BNT: Tất cả. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh đến trách nhiệm công dân.

PTV: Nếu làm một cuộc thăm dò trong các phạm nhân về độ chân thực của cuốn sách, tỉ lệ sẽ là bao nhiêu?

NV BNT: 99%. Tôi tin là như vậy. Có thể còn cao hơn nữa.

Tác phẩm nơi tù đày

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

PTV: Khi vào tù và khi cầm bút nghiền ngẫm về nó, ông có nhớ tới những tác phẩm nhà tù kinh điển của văn học cách mạng Việt Nam, mà mỗi chúng tôi đều thuộc lòng từ khi ngồi trên ghế nhà trường?

NV BNT: Trong CKN 2000, tôi đã để Tuấn nói với người bạn tù: Phương ơi, từ nay, không ai trong số các nhà văn cách mạng có thể độc quyền đề tài này. Chúng ta bình đẳng với tất cả. Từ nay, không ai có thể loè chúng ta được nữa. Nhà tù là một vật trang sức mà không phải nhà chính trị nào cũng muốn mang.

PTV: Nhiều người ưa so sánh “Chuyện kể năm 2000” với cuốn hồi ký “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên. Và thiện cảm dành cho ông nhiều hơn vì cuốn sách của ông có vẻ “hiền” và có cái “tôi” nhỏ bé hơn?

NV BNT: Ngoài sự khác biệt đặc thù của thể loại, mỗi người có một nhiệm vụ.

Nhiêm vụ của anh Vũ Thư Hiên là vạch rõ, chỉ ra những hạng người nào đã đẩy cha con anh ấy vào một việc như thế. Còn nhiệm vụ của tôi là chỉ ra toàn bộ cơ chế, trật tự nào đã đẻ ra việc này. Một cuộc đời bình thường, khởi đầu đầy lý tưởng, rồi bị làm cho biến dạng đi.

PTV: Trong cái trật tự đáng sợ ấy, ông và các bạn ông đứng ở đâu?

NV BNT: Vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân. Chính tôi, gia đình và bè bạn đã hăng say góp phần xây dựng và tô điểm thêm cho cái trật tự ấy.

PTV: Tôi đọc trong những gì ông viết có một thông điệp khác: lời thanh minh cho một thế hệ. Những bào chữa muộn màng và đòi hỏi cảm thông cho sự đóng góp ít ỏi của các ông, lớp nhà văn lứa đầu của chủ nghĩa xã hội với những sản phẩm có “họ hàng” với nhau, từ tư tưởng đến hình thức?

NV BNT: Đúng vậy. Đáng buồn là các sản phẩm của chúng tôi làm ra ngày ấy đều hao hao giống nhau như chị nói. Chúng tôi còn trẻ nhưng đã là những Con ngựa già của chúa Trịnh.

PTV: Thành quả có thể tổng kết được của các ông đối với nền văn học nước nhà?

NV BNT: Ít lắm. Không đáng kể.

PTV: Mẫu số chung nào cho thế hệ của ông? Những Mạc Lân, Nguyễn Xuân Khánh, Dương Tường…?

NV BNT: Thế hệ có một tuổi trẻ tuyệt vời, giàu có và cuối đời tay trắng! Thế hệ lớn lên gặp cách mạng, theo cách mạng, có kiến thức, có khát vọng, đam mê. Một thế hệ có thể làm mọi việc nhưng bị làm hỏng, và cũng góp phần làm hỏng thêm một thế hệ khác.

PTV: 5 năm đi tù- 5 năm đi thâm nhập thực tế, đã biến ông, từ một nhà văn loại hai của những công dân hạng nhất (những điển hình tiên tiến XHCN), sang nhà văn loại một của những công dân hạng ba (tù tội, đĩ điếm, ăn mày). Ông thấy cái giá đó đắt hay rẻ?

NV BNT: Không có gì đáng buồn hơn là làm một nhà văn hạng hai. Tôi tiêu phí đời mình chỉ mong đổi lấy một trang sách chống chọi với thời gian. Nhưng chị thấy đấy, mong manh lắm.

“Có lẽ lại phải viết thôi. Viết về tuổi trẻ bị đánh mất. Viết về tuổi già xót xa tuổi trẻ. Về nỗi xót thương nhau trong những trái tim mệt mỏi, những mái đầu tóc bạc đang tính đếm những ngày còn lại…”

Nhiều nhà văn bảo tôi “lãi quá”. Tôi hiểu đấy là những lời động viên khen ngợi tôi đã không gục ngã. Chứ muốn “lãi” như tôi có khó gì đâu. Đó là một chuyến “đi thực tế” bất đắc dĩ. Tất cả đều nằm ngoài ý muốn của tôi. Đó là số phận.

Cuối đời mới ngộ ra được một điều: Hãy chấp nhận tất cả những gì đến với mình. Và hãy làm việc trong bất kỳ hoàn cảnh nào để không mất hết.

PTV: Khi viết, ông chú tâm đến điều gì?

NV BNT: Lúc ngồi vào bàn viết là lúc tôi dọn mình đối thoại với vô cùng, không nhằm trả lời cụ thể đối với một cá nhân, một tập thể nào, không giải quyết một nỗi bực dọc riêng tư nào. Điều tôi sợ nhất là viết ra thứ văn chương vớ vẩn làm mất thời gian của bạn đọc. Một điều tôi sợ nhất là viết nhạt.

Ông Nguyên Hồng nói một câu chí lý: “Cái tội lớn nhất của các nhà văn Việt Nam là viết nhạt”. Tôi cố gắng để không mắc tội ấy.

PTV: Trong cuộc sống, ở tuổi bảy mươi, ông sợ nhất điều gì?

NV BNT: Sợ nhiều thứ lắm. Nhưng sợ nhất là những người gặp may mắn, được số phận nuông chiều, chưa một lần nếm mùi thất bại. Họ đầy mình chân lý và sẵn sàng ban phát chân lý đó cho bất kỳ ai.

PTV: Các cấp chính quyền đối với ông thế nào?

NV BNT: Sau khi in CKN 2000, tôi được công an mời lên nhiều lần. Nhà tôi, điện thoại của tôi bị giám sát chặt chẽ. Nhiều cuộc họp đảng cơ sở , người ta phổ biến rằng tôi là một không kẻ phản động đi tù về viết một tập sách chửi Đảng, chửi lãnh tụ.

Ngay Tết Quý Mùi gần đây thôi, ông bí thư phường tôi họp cán bộ các ngành trong phường tổng kết về Tết an toàn, nói trong phường có một điểm nóng là tôi nên phải phân công trực ca ba, 24 trên 24. Qua Tết không xảy ra chuyện gì mới thở phào.

Cũng phải nói thêm: tất cả những vị đứng ra truyền đạt những nhận xét về tôi đều chưa đọc tập tiểu thuyết của tôi. Một người bạn có chân trong Đảng dự họp nói ông ta có bản photo CKN 2000, ai muốn đọc, ông ta cho mượn, nhưng chờ mãi mà không ai mượn, nghe cấp trên truyền đạt lại là dủ, làm gì phải đọc, phải suy nghĩ, phải động não cho mệt người. Rất may là tôi và vợ tôi đầu đã quen với những cung cách đối xử như vậy.

PTV: Đọc những trang ông viết về Ngọc, vợ Tuấn, người ta muốn khóc. Hình như những tình yêu đẹp như thế trong cuộc sống đã hoàn toàn biến mất. Ông là nhà văn hiếm hoi (may mắn?) có một tình yêu đẹp với… vợ mình, yêu vợ được rất lâu và chưa hề ngoại tình?

NV BNT: Có hiếm hoi thật không? Cứ hình dung thế này, một cô gái Hà Nội bé như cái kẹo, xinh xắn, hiền dịu, mộng mơ, có cả một tương lai phơi phới và nhiều người ngấp nghé nữa chứ, chọn tôi, gắn bó chung thủy với tôi rồi mất cả đời.

Ngoài tình yêu, tôi còn rất biết ơn vợ. Nhiều người đi tù, vợ lăng nhăng hay lấy chồng khác, thế là tan cửa nát nhà. Thế là con cái thành trẻ bụi đời, lại theo chân bố vào tù.

Tất cả những gì tôi và các con tôi có được hôm nay đều gắn liền với sự đóng góp của vợ tôi, một người sinh ra để sống cho người khác, vì người khác. Giờ đây mỗi sáng quét nhà, nhặt những sợi tóc bạc của bà ấy, thấy đau.

Sắp hết đời rồi, sắp đến cõi rồi. Có lẽ lại phải viết thôi. Viết về tuổi trẻ bị đánh mất. Viết về tuổi già xót xa tuổi trẻ. Về nỗi xót thương nhau trong những trái tim mệt mỏi, những mái đầu tóc bạc đang tính đếm những ngày còn lại…

Phạm Tường Vân (Theo BBCVietnamese)

Viết để sống nhẹ hơn

Bên ngoài tác phẩm

NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN

VIẾT ĐỂ SỐNG NHẸ HƠN

 

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại Hợp Thành, Thủy Nguyên, Tp. Hải Phòng. Ông làm báo viết văn khi vừa tròn 20 tuổi. Từng là phóng viên báo Tiền Phong ở Hà Nội sau đó chuyển về sinh sống, thâm nhập thực tế để sáng tác tại Hải Phòng, nhà văn đã trải qua nhiều nghề: làm báo, làm rừng, kéo xe bò, thợ sắt, bốc vác, đi buôn, nhân viên văn phòng…Hiện nghỉ hưu. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên danh dự Hội Văn bút Quốc tế và hội viên danh dự Hội Văn bút Canada.

* Xin chào nhà văn Bùi Ngọc Tấn! Được biết từ nhỏ nhà văn đã ham mê văn chương báo chí. Thế những ngày còn là HSSV nhà văn thường đọc những gì của ai?

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: – Tôi là một cậu bé nhà quê. Làng tôi, Câu Tử Ngoại cách Hải Phòng gần 20km. Những năm 30, 40 của thế kỷ trước, đây là một khoảng cách kinh khủng. Được tiếp xúc với sách là một điều cực kỳ khó khăn. Rất may, bố tôi là một người yêu sách. Những lần bố tôi sang phố đều mang về một vài quyển sách mỏng. Loại sách Hồng như Lên cung trăng, Hạt Ngọc, Bướm Trắng… Rồi Ngụ ngôn La phông ten, Nàng Bạch Tuyết và bảy chú Lùn….

Lớn lên chút nữa, tôi đọc cả truyện người lớn như Cờ bạc bịp của Nguyễn Công Hoan, Gánh hàng hoa, Hồn bướm mơ tiên (Tự Lực văn đoàn)…

Tôi thuộc Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân như thuộc những sách kiếm hiệp: Long Hình Quái Khách, Nữ Bá Vương vậy. Tóm lại là vớ được quyển gì, đọc quyển ấy. Mãi tới năm học trung học mới được đọc Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo, mê đến nỗi… quên ăn, đói cũng không rời được sách!

* Không còn làm báo đã lâu nhưng ngày nào cũng đọc báo Tiền Phong (tờ báo ông từng làm phóng viên), nếu trở lại tuổi 20 nhà văn sẽ chọn cho mình nghề làm báo hay là viết văn?

- Chắc lại “Ngựa quen đường cũ” thôi. Làm báo. Và cả viết văn. Dùng ngòi bút chiến đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Và dùng ngòi bút để lưu giữ ký ức của dân tộc.

* Nhà văn quan niệm thế nào về văn chương? Nhà văn có so sánh gì về người viết văn trẻ bây giờ với người viết trẻ thời của nhà văn không?

- Với tôi, văn chương thuộc về những kẻ yếu, những người bất hạnh, những người đau khổ, những người ở tầng đáy, những người chịu đựng lịch sử. Tôi viết về họ, phụng sự họ.

Những người viết văn trẻ hôm nay thật khác xa với lớp viết văn chúng tôi ngày trước. Họ được tự do hơn (tất nhiên là tương đối) trong việc lựa chọn đề tài, trong cách viết và công bố tác phẩm. Những điều chúng tôi ngày trước có nằm mơ cũng không thấy.

* Nhà văn đã kinh qua nhiều nghề do cuộc sống bắt buộc hay nhà văn muốn đi tìm thực tế sáng tác?

- Hoàn toàn do cuộc sống xô đẩy thôi. Năm 1968, khi tôi đang làm phóng viên báo Hải Phòng thì bị bắt tập trung cải tạo gần 5 năm, không có lí do, không xét xử. Năm 1973 được tha. Thất nghiệp hơn 2 năm. Phải kiếm sống bằng nhiều nghề. Bốc vác. Kéo xe bò. Thợ sắt… Cũng không phải dễ mà có việc đâu. Tìm được việc làm là mừng lắm rồi, dù phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, dù công việc rất bấp bênh, nay có mai không. Tôi nghĩ chẳng ai lại làm một cuộc khám phá đời sống như tôi đã bị đẩy vào, bởi như thế thì đắt quá!

* Trong tuyển tập truyện ngắn “Người chăn kiến”, những câu chuyện thật như ngoài đời không thể thật hơn… Ấy là chủ ý của nhà văn?

     –  Khi lâm vào hoàn cảnh của những người dưới đáy, những phó người, tôi bỗng thấy như mình mới được sinh ra, lần đầu tiên biết có một thế giới khác vẫn tồn tại, vẫn hiện diện mà trước đây mình không hề biết. Tôi đánh giá lại những giá trị văn chương đã có trước đó và… không thể đọc được nữa. Dù là sáng tác của các bạn tôi. Nó nhạt, giả và công thức nhiều khi đến mức đáng xấu hổ.

    Cái ăng ten của tôi với một sự nhậy cảm nghệ sĩ ghi nhận và lưu giữ tất cả cuộc sống tôi mới nhìn thấy đó một cách bản năng, không tự giác. Vì ngày ấy tôi không hề nghĩ rằng rồi một lúc nào đó sẽ viết lại những gì mình có trong bộ nhớ.

    Cho đến khi bức tường Berlin sụp đổ…

    Những sáng tác của tôi “thật như ngoài đời, không thể thật hơn” như bạn nhận xét là tiêu chí của tôi mỗi khi tôi ngồi trước máy. Tất nhiên sự thật trong sáng tác cao hơn sự thật ngoài đời. Một sự thật được chắt lọc, nghiền ngẫm, tìm đến nguồn cội (tôi luôn tìm đến nguồn cội của sự việc). Một câu nói của A. Tchekhov mà tôi đọc được từ những năm 50 thế kỷ trước luôn là châm ngôn của tôi: “Trước hết các bạn ơi chớ có ăn gian nói dối. Chúng ta và cả đích thân Thượng Đế nữa. Đã có những việc như vậy đó…”. Đến Thượng Đế cũng còn nói dối cơ mà. Với tôi một tác phẩm gian dối là một tác phẩm vô đạo đức.

* Cầm bút lại sau 27 năm tạm ngưng, bút lực của nhà văn lại càng mạnh mẽ hơn. Xin nhà văn chia sẻ bí kíp để có sức viết khỏe đến thế!

    –  Cuộc đời viết văn của tôi chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1954 cho đến năm 1868, khi tôi bị bắt. Một giai đoạn không có gì đáng kể, viết không biết sợ là gì cả.

Giai đoan thứ hai: Từ năm 1990 tới nay: Tôi đã in 2 tập tiểu thuyết, 2 tập truyện ngắn và 2 tập hồi ký, tổng cộng khoảng 2500 trang. Nhưng đúng ra, những sáng tác này phải được tính từ năm 1968, thời gian tôi lăn lộn giữa đời, tích luỹ cuộc sống. Cầm bút viết chỉ là công đoạn cuối cùng.

1968 đến 2010. 42 năm. 42 năm trong một đời văn. Số lượng thế là vừa phải, cũng trung bình, nếu không nói là ít.

Tôi bằng lòng với kết quả ấy. Bởi tôi chỉ viết những gì tôi thấy cần phải viết ra để mình sống nhẹ hơn.

*Xin cảm ơn nhà văn. Chúc nhà văn sức khỏe dồi dào!

(Tập San áo Trắng)

Trương Anh Quốc thực hiện.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đón Xuân bằng hoa xương rồng

Hẹn hò mãi mới có dịp cùng rảnh rang để một chiều mùa Đông chuẩn bị sang Xuân, tôi cùng nhà thơ Vũ Thị Huyền đến góc riêng của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ngõ 10 Điện Biên Phủ với lối đi quanh co nhỏ hẹp dẫn chúng tôi lên căn hộ tầng hai biệt thự kiểu Pháp để gặp ông. Mái tóc bạc chưa hết 100%, dáng người cà rầm cà rì đúng phong cách người của những năm 60. Chậm chạp mở cửa, chậm chạp pha trà, chậm chạp trò chuyện… Những cái chậm chạp trong chiều cuối năm cứ tí tách đưa kim đồng hồ quay để chúng tôi cảm nhận mùa Xuân đang về bên cửa.

Thời gian đọng lại, câu chuyện đọng lại cho đến khi nhà văn Bùi Ngọc Tấn chỉ ra chậu xương rồng ngoài ban công, nói: “Năm nay, tôi sẽ đón Xuân bằng xương rồng. Xương rồng cũng như con người, vẫn vươn lên rạng ngời và nở hoa từ gian khổ nhọc nhằn, thiếu thốn.” Nhà văn kể, cây xương rồng vốn là của một người bạn thân với ông. Chăm sóc quá nên cây vươn cao, thẳng và bề thế. Nhưng chỉ xanh lá mà không ra hoa, bạn ông bắt đầu nản thì Bùi Ngọc Tấn xin về. Ông để hoa ở ngoài ban công, không tưới, không chăm. Kệ cho nắng, gió dội xuống chậu cây đầy gai tua tủa. Thời tiết khắc nghiệt và sự bỏ mặc khiến cây rụng gần hết lá. Nhưng thật kỳ lạ, khi những chiếc lá rụng xuống cũng là lúc những bông hoa xinh đẹp bừng nở. Và càng nắng gay gắt thì hoa càng đỏ sẫm màu. Nghe chuyện về hoa mới ngẫm lại câu nói của nhà văn, thấy có lý. Sự khắc nghiệt của cuộc đời và xã hội giúp nhà văn có nhiều tác phẩm hay. Cũng như xương rồng, phải khắc nghiệt nắng gió mới nở hoa, khoe sắc.

Ảnh:  Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Nhìn dăm ba bông hoa trong chậu bát tiên ông chỉ, có bông màu vàng cam, có bông phớt hồng, lại có bông hòa thêm chút sắc đỏ, nhà thơ Vũ Thị Huyền ngâm nga: “Hoa chưa được đỏ anh nhỉ. Hay hoa thiếu ánh mặt trời?” Nhà văn cười: “Hoa sẽ đỏ vào dịp Xuân nay. Hoa xương rồng càng già càng đỏ. Và tôi sẽ mang chậu xương rồng vào đây, ngay canh bàn uống nước này để chơi như hoa đào ngày Tết. Tết này, các bạn nhớ đến chơi để cảm nhận sắc hoa xương rồng trong phòng khách của Bùi Ngọc Tấn.”

Lời mời vào ngày cuối năm. Không vồn vã. Không hồ hởi. Cũng không nặng khách khí. Nếu có tình thì đến, thì lưu lại để cảm nhận. Cũng không níu giữ người quá bận rộn hoặc không có thời gian thảnh thơi. Cả tôi và Vũ Thị Huyền cùng cười và bất giác câu chuyện tự nhiên trở nên vui hơn, cởi mở hơn sau lời khoe sẽ dùng xương rồng để chơi Tết thay hoa đào của ông.

Cuộc gặp mặt cuối năm bên bàn uống nước trong căn phòng của nhà văn diễn ra khi ông vừa đi Nga về ít ngày. Một bạn đọc người Việt định cư tại Nga mời ông sang chơi vì yêu mến văn ông. Bùi Ngọc Tấn đến Nga và được cảm nhận sức sống mãnh liệt của văn hóa Nga trong từng mạch máu, hơi thở của người dân Nga. Trong câu chuyện ông kể về chuyến đi Nga của mình, ánh lên sự ngưỡng mộ và tình yêu với nền văn học Nga vĩ đại. Những nhà văn, nhà thơ bây giờ được dựng tượng đài sừng sững trong khu nghĩa trang dành cho những người nổi tiếng, nhưng quan trọng và ý nghĩa hơn, tượng đài của họ nằm trong trái tim mỗi người dân Nga. Để khi nói về họ, bất cứ người Nga nào cũng có thể tự hào. Bùi Ngọc Tấn trầm tư khi nói về những lá thư của bạn đọc Nga vẫn được gửi tới mộ Sê-khốp, chiếc bật lửa vẫn để ngay ngắn trên bệ mộ nhà thơ Maiakovski, những bông hoa vẫn được đặt trên mộ Lê-vi-tan…. Tình yêu của người dân Nga với văn nghệ sĩ đốt lửa cho nền văn học Nga cháy mãi. Tôi nhìn thấy trong đôi mắt xa xăm của Bùi Ngọc Tấn  niềm khao khát cách xử sự đầy văn hóa ấy ở Việt Nam.

 Miên man những câu chuyện về nước Nga, nhà văn lại quay sang những chuyến đi của ông tới Đức, tới Mỹ… Câu chuyện cứ dài mãi, dài mãi tưởng như không thể dứt. Trà cứ rót thêm, thêm nữa, thêm nữa nhưng chẳng ai còn cầm tách lên để nhâm nhi. Bởi sự lôi cuốn trong câu chuyện tâm tình về những chuyến đi của nhà văn, về lòng yêu mến của bạn đọc dành cho ông ở khắp những nơi ông đặt chân đến.

Ông giở file ảnh lưu giữ những tấm hình chụp những nơi ông từng đến trên máy tính cho chúng tôi xem. Nụ cười phảng phất đứng dưới những tán lá vàng của mùa thu Nga, đôi mắt xa xăm bên quảng trường Đỏ hay dốc Lombard (San Francisco) một cái dốc đẹp nhất nước Mỹ… Những tấm ảnh mơ hồ đọng nỗi man mác nào đó trong tâm tư nhà văn. Vướng vào nghiệp văn chương là mắc nợ với đời. Một món nợ không bao giờ trả hết. Các nhà văn thường cô đơn với cái tôi của chính mình. Thoát sao được nỗi cô đơn, dù có với được cái tôi ấy bằng tác phẩm thì bi kịch vẫn cứ quẩn quanh trong tâm trí “Tôi mắc nợ những khoảng trời Bat-đat/ Nợ rặng đèn khu phố Brot-way…” Maiakovski đã viết như vậy.

“Trà nguội hết rồi, để tôi thay chén mới…” – nhà văn nhận ra những tách trà không còn bốc khói tự bao giờ khi câu chuyện tạm ngưng một chốc. Tranh thủ, tôi và Huyền dạo qua một vòng căn phòng khách có cửa sổ nhìn ra những nếp nhà lô xô, có ban công nhìn xuống ngõ quanh co lối lên thẳng tới căn buồng của nhà văn. Dưới ấy, một chị hàng bánh đa buổi tối đang lúi húi chuẩn bị nước dùng, nhân thịt, nhân tôm… Không có mấy tiếng ồn ở trong góc nhỏ này. Hèn gì, nhà văn có thể ngồi thưởng thức không gian yên tĩnh dù sống ở một khu phố sầm uất và đông đúc vào bậc nhất của thành phố Cảng. Nhưng cái tài của những ngôi nhà kiến trúc kiểu Pháp này là, cứ đóng cửa sổ, cửa chính lại thì chẳng còn âm thanh nào lọt vào nữa. Mà ngay chính cái lối đi quanh co cũng đã cản bớt âm thanh ồn ào náo nhiệt trên đường Điện Biên Phủ vào nhà ông rồi. Bình yên. Thanh lặng vả tĩnh tâm đến lạ giữa ban ngày. Tôi có một chút gì đó cảm giác cô đơn và tưởng như ông cũng hằng ngày nhâm nhi sự yên tĩnh ấy với cái tôi của một nhà văn say viết. Ở cái góc nhỏ yên tĩnh và lặng im này, Bùi Ngọc Tấn nghiền ngẫm và thu lượm thêm nhiều chi tiết của cuộc sống để biến thành những trang viết, những truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết đến với chúng ta. Những trang viết thật như chúng ta thấy, như chúng ta sống. Như những bếp than tổ ong ngày đêm im lặng phả khói chung quanh nhà ông, như mùi của cuộc sống ẩn trong từng xiên thịt ướp húng lìu nướng và chảo chả lá lốt… của những người làm hàng tầng trệt đang bốc hơi ngào ngạt. Như những điều chưa bằng lòng và mong ước của chúng ta về một ngày mai tốt đẹp hơn. Và cũng từ cái thật ấy mà bạn đọc yêu mến ông, yêu cái giản dị bình thường của sự từng trải ẩn sâu trong con người Bùi Ngọc Tấn.  

Có khá nhiều tranh vẽ chân dung ông được treo trên bức tường của phòng khách, trên lò sưởi. Bức của Đỗ Phấn khổ nhỏ, khung vuông, bức của Đặng Xuân Hòa to hơn, treo ngang cửa ra vào với phòng ngủ đồng thời là phòng làm việc, rồi bức của Nguyễn Thanh Bình… Nhưng đập vào mắt tôi và Vũ Thị Huyền là một bức chân dung lạ, không phải của ông mà là của nhà thơ, dịch giả Dương Tường.  “Đây là một món quà đặc biệt, Dương Tường tặng tôi. Người mẫu: Dương Tường. Người vẽ: Lưu Công Nhân. Bức này giờ mang đấu giá chắc được giá lắm….” Nghe câu đùa, cả tôi và Huyền cùng bật cười. Bởi chúng tôi hiểu đây là một kỷ niệm vô giá của ông.

Ông mở tủ sách, lấy ra một cuốn sách dày đưa cho tôi xem rồi bảo: “Tôi mới lôi cuốn này ra đọc lại – “Chuông nguyện hồn ai” của Ernest Hemingway. “Hemingway là một trong những nhà văn tôi thích nhất. Tôi đọc ông từ những năm 60. Bây giờ đọc lại để gặp lại những năm tháng xa xưa si mê ông. Đọc để thấy lại tuổi trẻ của mình. Và đọc để xem sự cảm nhận và thẩm thấu của mình với Hemingway có khác đi không, qua đó biết được tuổi tác và sự nhạy cảm của mình, mình đã già đi bao nhiêu….”

Ông đang làm thử test tuổi già trong ông. Tuổi già đã đến với ông. Và ông chống lại nó. Bằng sự làm việc. Bằng niềm vui trong việc viết những gì đã trải để “góp phần lưu giữ ký ức của dân tộc” như ông tâm niệm….

 Xuân này, cùng với chậu xương rồng, Bùi Ngọc Tấn còn đón Xuân bằng một niềm vui văn chương: Tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” của ông vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản 1000 cuốn. Nhuận bút gửi về không bao nhiêu, vì ông đã mua quá nhiều sách tặng bạn bè. Bìa tiểu thuyết do người bạn có duyên với ông, người đầu tiên vẽ chân dung ông, người minh họa truyện ngắn đầu tiên khi ông viết trở lại sau 22 năm im lặng – họa sĩ Đặng Xuân Hòa thiết kế, khác hẳn với bìa cuốn sách xuất bản lần đầu. Nâng niu tập sách trên tay, nhà văn Bùi Ngọc Tấn cười thật tươi và nhìn ra chậu cây xương rồng đang nở hoa ngoài ban công.

Vẻ như mùa xuân dã về  trong căn phòng nhỏ của ông.

Phạm Thùy Linh

Ảnh: Vũ Dũng

Văn hoá Nga sẽ ngày càng toả sáng

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa về Việt Nam sau gần một tháng “du hành” Nga  theo lời mời của bạn đọc hâm mộ, ông đã chia sẻ về đất nước, con người Nga, về hoạt động văn chương của người Việt trên đất nước rộng lớn có bề dầy văn hoá này.

 

1- Cảm giác của ông khi lần đầu tiên đặt chân tới Nước Nga?

Tôi yêu nước Nga và văn học Nga từ thời kháng chiến chống Pháp, nghĩa là thời gian còn đang học cấp 3. (Trước đó gần như chỉ biết đến văn học Pháp.) Tình yêu văn học Nga, tình yêu đất nước Nga ngấm vào tôi đến nỗi nó toát ra trong sáng tác của tôi một cách không tự giác. Dù tôi viết về Việt Nam, về cuộc đời tôi, về tình yêu của tôi, về những năm tháng gian nan của tôi. Nhiều bạn đọc nhận ra điều ấy. Một trong số những người đọc tôi ở nước ngoài còn nhận ra tình yêu ấy là một trong những nguyên nhân tạo nên bước ngoặt trong cuộc đời tôi, những hệ luỵ mà tôi gánh chịu suốt đời. Người bạn đọc trẻ ấy thương tôi, chia sẻ sự mất mát của tôi và nghĩ: Với một tình yêu văn học Nga, một tình yêu nước Nga và một hệ luỵ như thế mà tôi chưa đến được nước Nga là điều không thể chấp nhận được. Chị nghĩ phải tạo điều kiện để tôi tới được Nước Nga, tận mắt nhìn thấy nước Nga. Chị không quen tôi, không biết địa chỉ của tôi, cả số nhà cũng như email hay điện thoại. Nhưng rồi mọi sự được sắp đặt như là số phận.

Thế là tôi đã được mời sang Nga. Người nữ bạn đọc ấy không chỉ lo toàn bộ chi phí cho chuyến đi của tôi mà còn dành thời gian làm guide cho tôi trong chuyến du lịch tuyệt vời này, mặc dù nhà chị có ba con nhỏ chưa kể công việc kinh doanh của chị rất căng thẳng (chị là giám đốc điều hành của một công ty xuyên quốc gia).

Đó là chị Bùi Lan Hương.

Tôi cảm ơn chị và đánh giá chị rất cao bởi hai điều:

a-Chị luôn thông cảm với những thiệt thòi của người khác trong khi biết bao người không còn khả năng nghĩ đến người khác.

b-Với chị, giá trị cuộc sống còn có những thước đo khác, không chỉ một đồng tiền.

Tôi ao ước xã hội nước ta có nhiều người như vậy.

Với tình yêu nước Nga như trên, dễ hiểu được cảm xúc đầu tiên của tôi khi đặt chân lên đất nước Nga. Đó là mơ ước đã được thực hiện. Là một đất nước lòng mình đã đến nhiều lần và bây giờ mình đang sống giữa nó, đặt chân lên nó, thở không khí của nó, ngắm nhìn nó.

Cũng phải nói thêm là tôi nghe nói rất nhiều đến vẻ đẹp mùa thu vàng nước Nga, chị Lan Hương đã thu xếp cho tôi quãng thời gian có thu vàng mà không bị quá lạnh (tôi rất yếu chịu rét) để thoả mãn mong ước của tôi. Tối hôm trước đến Nga, sáng hôm sau việc đầu tiên là đứng trong nhà nhìn qua cửa kính, rất vui vì biết mình sẽ được thấy thu vàng: Những chiếc lá đầu tiên của rặng phong non bên kia đường đã có sắc vàng báo hiệu một thu vàng đang tới.

2- Ông đã đi thăm những nơi nào? Cảm xúc của ông về thiên nhiên Nga?  kiến trúc Nga?

Chương trình đã được thống nhất từ trước. Tôi chỉ tới Moscow và St  Peterburg. Hai nơi tiêu biểu nhất của nước Nga. Tất nhiên tôi muốn thăm Siberie, muốn đến Odessa, tới Tula thăm trang trại của Lev Tolstoy… Lòng tham vô đáy mà, nhưng thời gian và sức khoẻ của tôi không cho phép. Chỉ đi thăm hai nơi này thôi, chân tôi đã bị đau, đã có ngày phải nằm nhà và chị Lan Hương phải thuê taxi ngày cho tôi đi. Tôi đang tiến đến tuổi 80, hơn nữa thời trai trẻ gồng gánh quá nhiều trong các trại.

Còn thiên nhiên Nga, không gian Nga ư?

Tôi vừa từ Mỹ trở về hơn 3 tháng thì đi Nga. Cả hai đều mênh mông vĩ đại. Cái không gian sinh tồn ở hai siêu cường này thật hào phóng, không phải mưu mô 50 năm để lấn chiếm được 1 mét vuông làm cái chái bếp bên nhà. Nhưng nếu Mỹ luôn chứng tỏ một nền kỹ thuật tiên tiến, một trình độ tổ chức xã hội hoàn chỉnh, giầu có thì Nga lại tỏ rõ một chiều sâu văn hoá, một sức mạnh tiềm tàng đang được giải phóng. Vâng, nước Nga đã mất quá nhiều thời gian và sức lực trong việc tìm đường nhưng vẫn là một người khổng lồ khiến những nước khác phải kính trọng mình.

Về kiến trúc Nga:  Đó là kiến trúc làm người ta choáng ngợp. Một nền kiến trúc của những nghệ sĩ bậc thầy cộng với kiến trúc của những người khổng lồ và kiến trúc của những người thợ kim hoàn. Những công trình đẹp như trong mơ, hoành tráng vượt sức tưởng tượng và tinh tế khiến ta phải lùi ra xa để ngắm nhìn tổng thể lại phải tới sát gần để khám phá từng cm. Các giáo đường, các cung điện, phòng hổ phách, Hồng trường. Những chiếc cầu trên sông Nê va. Tôi đã đi tầu điện ngầm ở Pháp, Đức, Mỹ. Tôi cả quyết rằng không đâu có những nhà ga làm ta mê mẩn như ở Moscow. Đó là những lâu đài, những cung điện.

3- “Nước Nga không thể hiểu được, nước Nga chỉ có thể yêu…” Có một triết gia đã nói như vậy. Theo ông con người Nga như thế nào? Có thể yêu được không?

Con người Nga thật đôn hậu đáng yêu. Từ những người tham gia hội chợ mật ong cho tới bà nông dân tại khu bảo tàng Tsarysino mà tôi được gặp và chụp ảnh kỷ niệm ở Moscow tôi có tới thăm một gia đình người Nga: Bà Inna Malkhanova, một người đã sang Việt Nam nhiều năm. Hỏi bà nhớ gì ở Việt Nam nhất. Bà trả lời tôi bằng tiếng Việt: Nhớ tất cả. Nhớ người, nhớ cảnh Việt Nam, nhớ chùa Hương, nhớ vịnh Hạ Long. Và nói thêm: Ngày ấy người Việt Nam rất tốt. Cảnh Việt Nam còn đẹp. Bà mời tôi món borsh ( xúp củ cải đỏ, một món ăn dân tộc) ăn với bánh mì đen xát tỏi và rất thật thà: Ăn bánh mì đen cho đúng kiểu thôi. Không ngon thì anh ăn bánh mì trắng nhé. Tôi thích bánh mì trắng.

Có rất nhiều điều để nói về văn hoá Nga. Từ những người chăm chú đọc sách trên tầu điện ngầm. Những người tới Hồng trường chụp ảnh trước đại giáo đường Thánh Va xi li Tàng Tàng… Tôi chỉ kể một dẫn chứng: Trong khu mộ những người nổi tiếng ở Moscow không ngôi mộ nào thiếu vắng hoa tươi. Riêng mộ Maiakôpxki còn có cả một chiếc bật lửa (Maia sinh thời nghiện thuốc, ông đã viết: Đốt tư tưởng xì xèo trên điếu thuốc). Mộ Tsêkhov ngoài hoa tươi còn có những bức thư của độc giả gửi tới. Tsekhov qua đời đã hơn thế kỷ nhưng bạn đọc vẫn viết thư  đến ông, tâm sự cùng ông, cảm ơn ông. Tôi gai người khi chị Kim Hiền, uỷ viên chấp hành Hội Văn Nghệ Việt Nam tại Nga kể tôi nghe những chuyện ấy.

Thật hạnh phúc là một nhà văn ở một đất nước như vậy, với những bạn đọc như vậy.

4- Ông có cuộc gặp gỡ nhà văn nhà thơ hiện đại nào của Nga không?Ông có quen với tác giả tác phẩm nào của Nga sau thời đại xô viết không?

Không. Thời gian ở Nga của tôi rất eo hẹp và được bố trí rất sít sao. Đài Tiếng Nói Nước Nga có dự định phỏng vấn tôi, nhưng tôi không nhận trả lời.

Phải tận dụng tối đa thời gian để đi, nhìn, và quan sát. Nước Nga quá rộng, có quá nhiều điều phải biết mà tôi tuổi đã cao.

ở Việt Nam tôi có đọc một số truyện Nga được dịch in trong tạp chí Văn Học nước ngoài của Hội Nhà Văn VN. Thú thật với chị, ấn tượng những tác phẩm đó để lại trong tôi không lớn.

5- Từ cách nhìn của một nhà văn ông có thấy nước Nga thực sự là một cường quốc văn hoá, và cái đó không bao giờ bị mất đi.

 

Điều quyết định sự tồn vong của một dân tộc chính là văn hoá. Nước Việt Nam chúng ta bị Tầu đô hộ cả nghìn năm nhưng không bị đồng hoá chính là như vậy.

Nước Nga với tất cả những điều chúng ta đã nói ở trên là một siêu cường văn hoá. Văn hoá Nga đã góp phần không nhỏ vào nền văn hoá chung của nhân loại. Văn hoá Nga sẽ ngày càng toả sáng không chỉ ở Nga.

6- Ông đã có những cuộc gặp với các thành viên Hội VHNTVN ở Nga. Họ làm gì ở Nga? Họ viết gì về nước Nga?

 

Các anh chị trong ban chấp hành Hội VHNTVN ở Nga đã dành cho tôi những tình cảm thật cảm động. Không chỉ là cuộc gặp gỡ của những người xa đất nước với người trong nước mà còn là cuộc gặp giữa những người làm nghệ thuật, trân trọng từng bước đi, từng thành công của nhau dù to hay nhỏ. Các anh Châu Hồng Thuỷ, Nguyễn Huy Hoàng, Hồng Hà, chị Kim Hiền đã dành nhiều thời gian  làm guide cho tôi và nói cho tôi biết cuộc sống của cộng đồng người Việt tại Nga, từ  Đôm 5 cho tới chợ Vòm. Cuộc mưu sinh rất vất vả nên chỉ những người thật sự yêu nghệ thuật mới có thể gắn bó với nó. Cứ 2 vạn người làm ăn buôn bán mới có một người làm thơ. Thơ, văn, nhạc… được chắt từ mồ hôi, tình cảm và trí tuệ của mỗi người. Nghệ thuật còn là phương tiện động viên sống, động viên làm việc.

Hội thành lập 15 năm nay có 30 hội viên, không một rúp tiền quỹ, nhưng hàng năm vẫn tổ chức đều đặn những cuộc gặp mặt, những cuộc hội thơ. Hàng chục đầu sách và đĩa CD đã được phát hành, đến với bạn đọc và công chúng. Anh Nguyễn Huy Hoàng, phó chủ tịch Hội, tác giả của 8 tập thơ và văn xuôi vừa nhận được tin trúng giải trong cuộc thi thơ về Hà Nội. Chị Kim Hiền đã dịch 6 tác phẩm, và đang dịch Gogol, một cây đại thụ “rất khó nhằn” Anh Châu Hồng Thuỷ ngoài sáng tác, đêm đêm con đánh vật với tạp chí  Người Bạn Đường cơ quan của Hội, một tạp chí trên mạng khá đông người truy cập.

Có thể nói Hội VHNTVN ở Nga thực sự là hình mẫu của một Hội nghề nghiệp quần chúng hoạt động hiệu quả.

7- Văn học hiện đại Nga thời hậu xô viết hầu như không được bạn đọc VN biết tới vì lý do đơn giản: Hầu như không có tác phẩm nào được dịch. Ông có nghĩ đây là một lỗ hổng lớn cần phải lấp? Dù sao VN cũng cần học hỏi ở một nền văn minh vĩ đại như vậy? Khó mà hiêủ biết về con người và một quốc gia nếu không biết gì về văn học nghệ thuật của họ, ông có đồng ý với ý kiến này không?

 

Công việc dịch thuật ở VN gần như tự phát, mạnh ai người nấy dịch. Nước ta nhiều người giỏi tiếng Trung Quốc nên văn học Trung Quốc hưởng lợi. Mạc Ngôn, Giả Bình Ao gần như được dịch hết. Rất nhiều tác phẩm tầm tầm của hai ông này và những tác phẩm tầm tầm khác. Văn học Nga thời hậu xô viết cũng có được giới thiệu trên tạp chí Văn Học Nước Ngoài của Hội Nhà Văn VN. Đúng là quá ít ỏi và chưa đủ.

Nhưng không nên trách họ khi mà chính họ cũng không chú ý, hoàn toàn quên việc giới thiệu văn học VN ra tiếng nước ngoài.

Hoàng Hoa thực hiện

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: “Đi Mỹ, có nhiều chuyện để viết!

(TT&VH) – Sau tiểu thuyết thứ năm Biển & chim bói cá (NXB Hội Nhà văn, 540 trang, 12/2008, khổ 14 x 20,5cm) xuất hiện hanh thông, nhà văn Bùi Ngọc Tấn – người đã trải qua nhiều khổ hạnh trong cuộc đời, đã sang Mỹ, theo lời mời của Trung tâm William Joiner thuộc Đại học Tổng hợp Massachutsets. Ông có cuộc trò chuyện thú vị với TT&VH, ngay khi trở về Hải Phòng, sau 1 tháng chu du yên lành.

* Sự bình yên ngày càng xa xỉ, hiếm hoi đối với chúng ta. Chắc hẳn với ông, nó càng quý giá?

– Vâng, Biển & chim bói cá là tiểu thuyết đầu tiên phát hành tốt đẹp của tôi, và đến giờ này, mọi chuyện ổn cả.

* “Ổn nhất” là được mời đi Mỹ, như phần thưởng có hậu?

– Lời mời từ hai năm trước, nhưng vì ốm đau, bận rộn, tôi chưa đi được. Lần này, bên họ cố ý sắp xếp tôi bay cùng họa sĩ, nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng, anh ấy có tiếng Anh, lại đã từng đi Mỹ.

864ThuongTanNhà văn Bùi Ngọc Tấn (phải) và họa sĩ Phan Cẩm Thượng tại Mỹ. Ảnh V.D.M

* Đây là lần thứ ba ông xuất ngoại?

– Tôi xuất ngoại muộn. Lần đầu năm 2001, bay đúng 11/9 (đúng ngày bọn khủng bố đâm tòa tháp đôi New York), theo đoàn Hội Nhà văn VN, cùng dịch giả văn học TQ Phạm Tú Châu, tới Bắc Kinh, Quảng Châu, Tứ Xuyên, Tây An. Lần hai, năm 2004, sang châu Âu 2 tháng, đến Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Áo. Lần này, gần như Evgheni Evtusenko (SN 1933): “Tôi đến Paris trong túi không một đồng Franc/Trong miệng không một câu tiếng Pháp”. Tôi không biết tiếng Anh mà vượt Thái Bình Dương đến Mỹ. Chúng tôi bay đêm 22/4 từ Nội Bài, bằng Korea Ailines quá cảnh ở sân bay Seoul 7 giờ. Tôi không biết buồn chán, vì suốt hành trình từ VN sang hay trên bus, tàu hỏa, máy bay nơi đất khách, đều được vui, quên nhọc mệt vì bạn đồng hành thú vị Phan Cẩm Thượng cứ rủ rỉ kể chuyện, hóm hỉnh hấp dẫn vô cùng. Không chỉ kinh nghiệm đi Tây, mà còn chuyện đời, chuyện nghề, chuyện ma… quả là đi nhiều biết lắm, lại có duyên. Thượng là một “kho chuyện” mới lộ được một phần. Chúng tôi không có thói quen “nghiện” mua sắm của đàn bà, cũng chẳng ngắm nghía nhưng quầy miễn thuế dài cả km nhiều đồ bắt mắt. Kéo nhau đi ăn rồi lại nghe chuyện Thượng kể, thế là thời gian qua nhanh.

* Các ca sĩ bán băng đĩa, nhà văn thì bán sách. Ông đem có 10 cuốn, ít ỏi quá, tặng người cần tặng còn không đủ!

– Nguyễn Bá Chung, thành viên ban lãnh đạo của William Joiner đón chúng tôi từ sân bay Boston, đưa đến tiệm phở Hòa, rồi về nhà. Tôi tặng ông ta một cuốn, còn bà vợ ông là thủ thư ĐH Havard, mua cho thư viện 2 cuốn, trả 50 USD, cũng được đấy (cười)… Tại Mỹ đang bị suy giảm người đọc, không phải theo trào lưu chung, mà tôi đang nói tới văn học tiếng Việt. Những người đọc được tiếng Việt già hoặc chết, thế hệ F2, F3 nói còn kém huống hồ đọc. Biển & chim bói cá không đến được tay bà con Việt kiều, nhiều người cũng tiếc khi có tác giả mà không có sách để mua, xin chữ ký, họ đành hẹn khi về VN.

* Đến Las Vegas, ông có thử… “đánh bạc”?

- Có chứ, tới Las Vegas mà không đánh bạc, coi như chưa tới. Việt kiều bảo, khách du lịch đánh bạc nên thua, cần thua để đóng góp cho thành phố. Tôi ngủ đêm ở Las Vegas, kinh tế sa sút, nên giá KS giảm, 25 USD được KS khá tốt. Tôi đã đánh bạc, thua… 20 USD (!).

b25buingoctanMất 20 USD, Bùi Ngọc Tấn được “ghi danh” tại Hollywood nhờ… photoshop!

* Được biết, Giám đốc Trung tâm, cựu chiến binh từng tham chiến ở VN 1968 – 1969, còn là một nhà thơ. Ông có ấn tượng gì về Kevin Bower?

– Kevin nghiên cứu về văn hóa, giáo dục và nhân đạo từ 1987. Chúng tôi đã trò chuyện và ông có tặng tôi tập thơ mới Great Peace (NXB Wafer 2009) có dịch luôn tiếng Việt ở trang đầu: Thái Bình, cho thấy ông yêu mến VN. Quả đúng vậy, những bài thơ cho thấy ông gặp nhiều nhà văn, nhà thơ trên đất nước VN. Ông có thơ tặng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh (bài Fame), Nguyễn Duy, Trần Bạch Đằng, Lâm Thị Mỹ Dạ… Cả tập thơ là những chuyến đi trên xứ sở hình chữ S: từ Hà Nội (hồ Thiền Quang, phố Mai Hắc Đế, phố Huế, Cổ Loa) tới chùa Tây Phương, lên Đền Hùng, về Thái Bình, qua Sơn Tây (Road to Sơn Tây, Nun at Sơn Tây), vào Củ Chi, Tây Ninh, viết về quan họ và cũng “hát” nỗi đau về thảm họa Dioxin (Dioxin song). Phần cuối sách, dành hẳn 2 trang chú giải về các địa danh, các loại hát… cho thấy ông hiểu sâu sắc về VN và muốn bộc lộ tình cảm thân thương, mãnh liệt.

* Tác phẩm sắp tới của ông?

- NXB Hội Nhà văn sắp tái bản Biển & chim bói cá. Người ta không đặt hàng hay giao hẹn tôi phải viết về chuyến đi Mỹ như nhiệm vụ phải làm, song tôi sẽ viết. Tôi có ý thức ghi chép nhật ký từng ngày trên đất Mỹ và đều có ảnh. Nhưng trước mắt, có thể sẽ là cuốn Những chuyện kể của Phan Cẩm Thượng (cười ngặt nghẽo).

* Xin phép tò mò hỏi nhỏ, ông có được nhận nhiều quà không, lúc về chắc hành lý quá cân?

- Nhiều người tặng quà mà tôi phải để lại, vì quá cân không lo nổi. Có bà độc giả tặng tôi thùng quà, mở ra là 4 chiếc vali Ricardo lồng vào nhau. Bà ấy nói: “Để ông dùng hết đời”, nó cực đẹp và bền. Tôi ước có sức khỏe để đi tiếp và mong tâm trí được minh mẫn, thảnh thơi để tìm ra những “chiếc valise” – các ngăn rỗng trong đầu cực khó kiếm ở tuổi già, khi đã hằn nhiều nếp nhăn. Hy vọng vẫn còn chỗ “rỗng” mà khám phá, đón nhận những cái mới và đưa lên trang viết.

* Cảm ơn ông.

Vi Thùy Linh (thực hiện)

Viết với một sự giản dị chân thành nhất

Dưới đây là phần trả lời phỏng vấn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong chuyến thăm và làm việc tại trung tâm William Joiner, UMass Boston, thực hiện bởi Nguyễn Bá Chung:

1. Xin ông cho biết qua về thời niên thiếu, đã theo học những môn gì, đã đặc biệt ngưỡng mộ những tác giả hoặc trường phái nào?

Thời niên thiếu tôi học hết cấp 3 trung học phổ thông (lớp 9 thời đó). Giỏi văn và giỏi cả toán, luôn đứng đầu lớp. Thời trẻ thì ngưỡng mộ nhiều người lắm, yêu nhiều tác giả lắm. Thế giới  có Huy gô, Sô lô khôp, Pautôpxk…, trong nước là những tác giả Tự Lực văn đoàn. Tôi yêu những tác giả rất khác nhau: từ Huy Cận đến Vũ Hoàng Chương, yêu cả Nguyễn Tuân cả Vũ Trọng Phụng..

2. Xin ông cho biết lý do tại sao sau khi ra tù, ông đã ngừng viết hơn hai mươi năm? Trong thời gian đó ông nghĩ gì về nền văn học đương thời?

Sau khi ra tù, không những tôi không viết mà còn không đọc được sách, nhất là đọc những sách văn học Việt Nam, những sách của các bạn tôi viết. Những trung nông không vào hợp tác xã, cuối cùng nghèo đói, những cuộc đấu tranh giữa các đôi thanh niên nam nữ yêu nhau, một người vì tập thể một người cá nhân chủ nghĩa, cuói cùng tình yêu tan vỡ. Sau khi sống và chứng kiến những chuyện trong tù, đọc những sáng tác kiểu trên đây tôi thấy như mình bị xúc phạm. Cứ tiếp tục  víêt như thế thì viết làm gì?

 3. Những biến động ngoại cảnh hoặc nội tâm nào đã làm ông bất thình lình viết trở lại? Ông đã quyết định viết “CKN2000″ vào thời điểm nào? Viết trong bao lâu? Cảm tưởng của ông khi cầm bút trở lại? Khi viết lại những điều mình đã một thời trải qua?

Tháng 3-1990 tôi bắt đầu viết trở lại. Tình hình chính trị, kinh tế trong nước và quốc tế đã có những đổi khác. Phe XHCN tan vỡ. Hệ thống chính trị tưởng rất vững chắc đã sụp đổ. Một luồng gió tự do dân chủ thổi từ Liên Xô qua Đông Âu tới VN. Tại VN, Đại Hội 6 của Đảng quyết đinh đường lối đổi mới. Có nhiều biến chuyển về  sinh hoạt vật chất và tinh thần trong xã hội. Người dân bước đầu được giải phóng. Văn học nghệ thuật có những tín hiệu đáng mừng. Riêng văn chương đã có những sáng tác của Dương Thu Hương, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Nền văn chương già nua, nhợt nhạt công thức đã trở nên tươi trẻ, có sức sống.

Trong không khí như vậy tôi đã cầm bút trở lại. Thú thật, tôi đã tưởng mình không bao giờ còn viết văn trở lại.

4. Xin ông cho biết quá trình tìm kiếm nơi xuất bản CKN2000? Ông có nghĩ là tác phẩm có thể được chính thức ra mắt không?

Tôi hoàn thành CKN2000 vào khoảng cuối năm 1991. Chỉ trong hơn 1 năm. Khi đó sức khoẻ tôi còn tốt, có thể làm viêc thâu đêm. Năm 1993, tôi gửi CKN2000 dự thi 40 năm giải phóng Thủ Đô Hà Nội (1953-1954). Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã định in. Ban chấm thi đã dự kiến giải thưởng (thấp thôi, bởi nếu cho giải cao, lại lôi thôi như Bảo Ninh thì phiền). Thế rồi có  một sự cố, NXB Hội Nhà Văn bị đe doạ khởi tố, không dám in nữa.

Tôi biết tác phẩm của tôi khó được in vì nó đụng đến điều cấm kỵ: Nói về nhà tù, về tệ mất dân chủ nghiêm trọng trong chế độ XHCN, điều chưa ai nói đến và dám nói đến.

Thế rồi điều kỳ diệu đã đến. Nó đã được xuất bản.

5. Cảm tưởng của ông khi CKN2000 được nxb Thanh niên đồng ý in?

Tôi gửi lên nhà XB Thanh Niên cầu may thôi. Gửi mà chẳng mấy hy vọng. Bởi chính biên tập viên cầm bản thảo lên  sau khi đọc được hơn 100 trang, gọi điện về cho tôi: Khó đấy anh ạ.

Nhưng rồi giám đốc Bùi Văn Ngợi quyết định in. Phó giám đốc Phạm Đức, biên tập viên Cao Giang đều rất ủng hộ. Có một điều cần phải nói là: Nhiều đoạn tôi nghĩ sẽ bị cắt nhưng vẫn được các anh giữ nguyên.

6. Cảm tưởng của ông khi CKN2000 bị thu hồi?

Lúc đầu là một cảm giác bị lăng nhục. Là buồn. Sau đó là một sự lo lắng. Lo lắng cho mình thì ít, lo lắng cho các anh ở NXB thì nhiều. Tôi gọi điện lên cho anh Bùi Văn Ngợi:

“Tôi rất áy náy. Vì tôi mà các anh bị liên luỵ.” Anh Ngợi gắt lên với tôi: “Sao anh lại nói như vậy. Chúng ta làm những việc mà chúng ta nghĩ rằng có lợi cho dân cho nước. Nếu cấp trên của chúng ta có cái nhìn khác chúng ta, quyết định khác chúng ta thì chúng ta chấp hành thôi.” Bùi Văn Ngợi đúng là một người tuyệt vời.

7. Theo ông biết, mặc dầu bị thu hồi, CKN2000 vẫn được bán chui như thế nào?

Tôi lúc nào cũng nghĩ rằng Tập tiểu thuyết CKN2000 của tôi  sẽ được đọc dài dài. Trong đời, tôi đã chứng kiến nhiều quyển tiểu thuyết bị cấm nhưng mấy chục năm sau lại được in lại. CKN2000 được in lại ngay tức thì sau khi có lệnh thu hồi tiêu huỷ. In ở hải ngoại. Và in chui ngay trong nước. Người ta dễ dàng mua được CKN2000 tại các hàng sách vỉa hè Hà Nội và các chú bé bán sách rong, những chú bé Gavroche của Hà Nội. Một chú bé bán sách rong khoe với tôi: Con bán được tám chục bộ, bạn con bán được gần trăm. Bà M, một bà bán sách vỉa hè nói: Tôi bán được gần nghìn bộ. Chắc anh được nhiều nhuận bút lắm nhỉ. Tôi cười: “Tôi có được đồng nào đâu.”

 8. Một nhà văn hải ngoại, ông Lâm Chương, sau khi đọc CKN2000, đã nói với bạn bè là từ nay ông ấy sẽ không viết về trại cải tạo nữa, vì có viết cũng không thể nào hay hơn CKN2000? Theo ông, tại sao CKN2000 lại được độc giả cũng như các nhà văn đặc biệt trân trọng như vậy?

Tôi rất cảm động khi được biết ông Lâm Chương nói như vậy về tập sách của tôi. Việc phân tích những cái hay cái chưa hay của CKN2000 thuộc bạn đọc và các nhà phê bình.

Là tác giả, tôi chỉ có thể nói rằng tôi viết CKN2000 với tất cả sự cố gắng nhằm đạt tới cái trần của mình. Tôi tự nhủ: Hãy trung thực. Viết tất cả những gì mình biết, mình trải, với tấm long bao dung, không thêm, không bớt, không thù hận. Hãy dọn mình đối thoại với vô cùng. Viết với long nhân ái, với sự tự do mình dành cho mình, để tìm ra gốc gác, căn nguyên, không hớt váng. Viết với một sự giản dị chân thành nhất. Và viết với sự luyến tiếc đến đau đớn một thời tuổi trẻ đã qua. 

9. Một điểm đặc biệt của CKN2000 là tuy viết về đời sống mất tự do, những khốn khó khổ đau của bao mảnh đời bất hạnh đằng sau nhửng cánh cửa xà lim, nhưng nó không phải là tiếng ca uất nghẹn đầy hận thù và bi phẩn. Ngược lại, nó nói lên những liện hệ rất người, rất nhân bản, của những cuộc đời bị đẩy xuống những hố thẳm không cùng nhưng vẫn vượt được lên trên nó, vẫn giữ được những bản sắc nhân hậu mà những kẻ có tự do lại đánh mất. Theo ông, nhờ những kinh nghiệm bản thân đặc thù hoặc một triết lý sống nào mà ông có thể thể hiện được tính nhân bản sâu sắc đó trong tác phẩm của mình?

Đời người thật ngắn ngủi  vất vả khó khăn và đau khổ  nữa. Cả những người gây đau khổ cho tôi cũng không tránh khỏi điều này. Tôi yêu cuộc đời. Tôi yêu mọi  người. Tôi ao ước người với người sống với nhau tốt hơn. Không chỉ mình tôi ao ước như vậy. Tôi nghĩ ngay cả những kẻ tàn ác cũng có lúc muốn sống tốt, sống lương thiện.

10. Với phản ứng đặc biệt trân trọng của độc giả đối với CKN2000, ông có kỳ vọng gì về các tác phẩm tương lai của văn học Việt Nam?

Là một người viết văn tôi thật hạnh phúc với sự cảm thông chia sẻ của độc giả. Đó là sức mạnh giúp tôi sống và làm việc trong những năm còn lại. Có thể nói tôi rất nghèo nhưng cũng giầu có vô cùng. Một lần nữa cho tôi được cảm ơn những bạn đọc trong nước, ngoài nước đã chia sẻ cùng tôi.

Tôi luôn hy vọng vào những thành tựu sắp tới của văn học Việt Nam, bởi kinh nghiệm sống của tôi là : Không bao giờ ngừng hy vọng.

Boston, 9 tháng 5, 2009

(Nguồn: blog Guihuongchogio)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.