Để đừng quên

Để đừng quên

Jean-Pierre Han

Dịch giả: Dương Tường

 

Đôi lời của Phạm Toàn

“Để đừng quên”. Quên làm sao được? Quên làm sao cho được!

Những gì ta đã trải, ta đã làm, ta đã yêu thương và thất vọng, làm sao ta quên cho được? Tôi còn đồ chừng rằng, ngay bọn ăn cắp của công (bây giờ gọi bằng bọn quan tham hoặc bọn tham nhũng) thì chúng cũng không bao giờ quên tội ác của chúng. Nhưng cái không quên trong sợ hãi nơm nớp của chúng hoàn toàn khác với cái không thể nào quên thanh thản của nhà văn. Bùi Ngọc Tấn không quên những nỗi đau mà anh trải qua, nhưng anh không hằn thù. Lấy gì làm bằng? Lấy cái giọng văn còn biết cười còn biết đùa cợt còn biết nheo mắt làm cái mốc đo sự cao cả của con người – của nhà văn – của Bùi Ngọc Tấn.

Bọn ăn cắp, bọn phá biểu tình chống Tàu, bọn bắt nạt Phương Uyên và Nguyên Kha, bọn vu cáo Hải Điếu Cày và Lê Quốc Quân, bọn thu gom dân khiếu kiện giữa đêm lạnh, bọn ép cung, bọn xử án theo những bản án bỏ túi, bọn ôm chân thằng Lý Cường (con hoang của thằng Bá Kiến dân gọi bằng Bá Cường Bắc Kiến) hè nhau đi hạ cờ tang ngay khi đám tang tướng Giáp còn đang tiến hành… bọn đó mới sợ ký ức.  

Còn đây, chúng ta, những người phanh ngực đi trong gió, chúng ta đi cùng ký ức Bùi Ngọc Tấn trong Chuyện kể năm 2000  được bạn Tuấn dịch cực kỳ hào hoa thành Chuyện kể cho những thế kỷ mai sau và chúng ta không quên – dĩ nhiên, không quên không cùng nghĩa với hằn thù và báo thù. Cũng như Bùi Ngọc Tấn, chúng ta chỉ cần khai sáng thôi. Dân tộc này vẫn còn cần được khai sáng.

Phạm Toàn

 

Những nhà văn Việt Nam của thế hệ mới, những Nguyễn Việt Hà, Thuận hay Phong Điệp (để chỉ kể ngần nấy người) dù đã muốn coi nhẹ quá khứ của đất nước mình – cái đất nước mang trên mình vết sắt nung đỏ của những tàn khốc chiến tranh và những hậu quả của chúng – để có thể kể về thời hiện tại, cũng chẳng thay đổi gì được, quá khứ vẫn trở về và không ngừng trỗi dậy trở lại theo đà các xuất bản phẩm. Tình hình ấy càng mập mờ đối với độc giả Pháp vì các nhà xuất bản, như chúng ta biết, không nhất thiết ấn hành các bản dịch theo đúng thứ tự chúng ra mắt trong ngôn ngữ gốc. Vậy nên một trật tự niên đại văn học khác được thiết lập, có thể sinh chuyện.

Thành thử giờ đây, ra đời một cuốn sách – và dĩ nhiên, ta chỉ có thể lấy đó làm mừng – Chuyện kể cho những thế kỷ mai sau[1], một cú bất ngờ hoành tráng của nhà văn tám mươi tuổi Bùi Ngọc Tấn, nổi tiếng và được công nhận ở Việt Nam hiện nay và cả ở bên ngoài – ông đã được tặng nhiều giải thưởng chính thức, nhưng không phải vì thế mà ông không bị rắc rối với các nhà cầm quyền nước ông trong một thời gian dài, rắc rối đây chỉ là một uyển ngữ. Chuyện kể năm 2000 được viết vào cuối thế kỉ vừa qua, từ những năm 1990. Bản thảo chạy vòng các nhà xuất bản cho đến khi một trong số đó, NXB Thanh Niên, đánh liều ấn hành vào năm 2000, sau khi đã xin được giấy phép. Kết quả đến nhanh chóng: cuốn sách bị tiêu huỷ theo nghĩa đen, nhưng Giám đốc nhà xuất bản không bị làm khốn đốn.

Niềm vui của nhà phê bình văn học Đặng Tiến (Pháp) khi Conte pour les siecles à venir phát hành ở Pháp

Niềm vui của nhà phê bình văn học Đặng Tiến (Pháp) khi Conte pour les siecles à venir phát hành ở Pháp

Đọc cuốn tiểu thuyết này – tác giả nói rõ rành đây là một cuốn tiểu thuyết – người ta dễ dàng hiểu tại sao cái câu “chuyện kể năm 2000” này (đầu đề tiếng Việt của cuốn sách) là chuyện kể rất tỉ mỉ của một anh chàng Nguyễn Văn Tuấn nào đó, trong sách được gọi là “hắn”, có thể coi là bản sao của tác giả, nhà báo và nhà văn trẻ, cũng như ông hồi đó, “cây bút (đã) nổi tiếng trong số các nhà văn trẻ cả nước”, một sự nghiệp sáng sủa mở ra trước mặt hắn cho đến khi hắn bị bắt, đưa đi trại cải tạo vì cớ một trong số bản thảo của hắn đã phê phán chế độ. Điều mà hắn không ngừng phủ nhận – hắn không chịu nhận một lỗi mà hắn không bao giờ phạm – dù phải chịu án tù kéo dài thêm; hắn bị chuyển từ trại này sang trại khác trong 5 năm, từ 1968 đến 1973. Chuyện kể năm 2000 (bản tiếng Pháp) giờ đây ra mắt hai năm sau Biển và chim bói cá, một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời khác của Bùi Ngọc Tấn, mà chúng tôi đã hết sức ca ngợi cũng ở đây (LF, 90, tháng 2 năm 2012). Vậy là có sự đảo ngược các sự việc được kể và cũng có một sự triển hoá trong kỹ thuật tiểu thuyết của tác giả, do đó có thể bị che khuất. Nhưng, như cái công thức được thừa nhận nói, độc giả sẽ khôi phục trật tự niên đại của các sự kiện.

Điều đó không mảy may làm mất đi sức mạnh của Chuyện kể năm 2000 (bản tiếng Pháp), vả chăng, cách dịch mới của nhan đề (Chuyện kể cho những thế kỷ mai sau) đã là một khởi đầu bình luận về tác động của cuốn sách và về tầm quan trọng mà người ta muốn tiên đoán cho nó, hay chí ít, người ta muốn nó đạt được. Đó là đặt cuốn sách lên một bình diện tinh thần, hay thậm chí, mẫu mực tinh thần. Điều mà tác giả (qua trung gian bản sao của mình, người kể truyện) cố sức phủ nhận suốt những trang sách. Thậm chí sự phủ nhận quyết liệt ấy làm nên toàn bộ giá trị của cuốn sách, toàn bộ tính nhân văn của tác phẩm. Nó cũng mang lại cho tác phẩm tính tổng thể của nó. Bởi vì câu chuyện về những năm “cải tạo” khủng khiếp ấy được kể, dĩ nhiên là với rất nhiều chi tiết, nhưng bằng một giọng đều đều, hoàn toàn không gây chút hiệu quả kịch tính nào và tránh cả đến vi lương nhỏ nhất của hận thù. Vả chăng, người kể truyện nói rõ rằng hắn không nhằm lên án hệ tư tưởng cộng sản. Bản thân hắn, hồi trẻ măng, đã gia nhập quân đội giải phóng, chiến đấu chống Pháp và đến giờ, vẫn trung thành với lý tưởng của mình. Hắn xuất thân từ một gia đình những người hoạt động danh gia, “một gia đình chiến sĩ cách mạng từ trước khi cách mạng nổ ra và đã được tặng bằng ‘có công với Tổ quốc’ ”, điều khiến cho việc hắn bị kết tội, do hiệu quả tương phản, càng kinh khủng. Dĩ nhiên, nhân cuốn sách-lời-chứng này, người ta không khỏi gợi đến  Quần đảo Goulag của Soljénitsyne. Nhưng ngoài việc câu chuyện này là một tiểu thuyết, chứ không phải là một “khảo luận điều tra văn học”, vì cuốn sách của tác giả người Nga “không có nhân vật, cũng không có những sự kiện hư cấu”, nên Bùi Ngọc Tấn ưng đặt mình dưới lá cờ của Dostoïevski hơn, lá cờ Nhật ký ngôi nhà những người chết, như ông đã nhắc lại nhiều lần.  Vả lại, câu chuyện về những năm tù thật sự chỉ chiếm có một nửa tác phẩm (tức là không đầy 400 trang), toàn bộ phần hai kể lại sự cố gắng trở lại một cuộc sống bình thường mà không thể được. “Hắn sống trong hiện tại mà luôn luôn nghĩ về quá khứ, về những ngày trước khi bị bắt, về những ngày ở tù, đầu óc hắn lang thang từ hình ảnh này sang hình ảnh khác”. Từ hiện tại cũ của cái “lò luyện những tâm hồn” là những năm tù, người ta chuyển qua những cố gắng không ngừng trở lại quá khứ, và qua những khó khăn để sống cái hiện tại mới và, tệ hơn nữa, hình dung “những thế kỷ mai sau”. “Cái la bàn của tâm trí hắn, bất kể hắn nghĩ gì, cuối cùng, bao giờ cũng xoay trở về nhà tù”.

Thận trọng tránh mọi lâm li, Bùi Ngọc Tấn viết ở tầm cao con người, từ ngòi bút của ông, hiện lên cả một thế giới đầy những con người (ắt phải mất không dưới bốn trang gênêric để kể hết tên của họ), được khắc hoạ một cách không thể quên, trong khi ở chính giữa câu chuyện tối đen này, đột hiện lên những trang đẹp lạ lùng. Sống và rung động. Và người ta không thể quên những nhìn nhận và mô tả, rất nhiều, riêng biệt về người vợ của người kể truyện, những mô tả đầy âu yếm và tình yêu. Nói gì đây về một cuốn tiểu thuyết kinh hoàng, bắt đầu, bất chấp tất cả, bằng những câu như sau: “Có những điều hắn tưởng không bao giờ quên được. Ấy thế rồi hắn đã quên”. Vậy thì: toàn bộ những trang này, toàn bộ tác phẩm này, là để đừng quên, hay đơn giản là để mở những cánh cửa ra “những thế kỷ mai sau”.

J.P.H.

Dịch giả gửi trực tiếp cho BôxitVN

Nguồn bản gốc: Phụ lục L’Humanité 10/10/2013

 


[1] Bản dịch tiếng Pháp Chuyện kể năm 2000 lấy tên là Conte pour les siècles à venir.

 

Viết như chụp một khoảnh khắc của đời

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: Viết, như chụp một khoảnh khắc của đời...

Vợ chồng nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: T.L.T

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: Viết, như chụp một khoảnh khắc của đời…

“Viết “Biển và chim bói cá” là tôi ý thức được mình lĩnh trách nhiệm của một nhà văn về một giai đoạn lịch sử cần được ghi chép một cách trung thực” – nhà văn vừa được tặng giải thưởng “Sách hay” 2013 nói.

Tự quen với mình
Buổi sáng ngày 22.9, Bùi Ngọc Tấn thập thễnh lên sân khấu nhận giải cho cuốn “Biển và chim bói cá”. Giữa những chớp loá của máy ảnh, hoa và lời chúc mừng, khuôn mặt ông, lúc đó, có chút gì thật ngây thơ. Khuôn mặt của một đứa bé, giữa những thương yêu, thoáng bối rối chưa biết mình cần phải chú mục sự chú ý của mình vào đâu…Sáng 25.9, tôi tới thăm vợ chồng ông. “Đi Sài Gòn lần này, rồi chẳng biết bao giờ mới lại vào nữa. Mà có bay nữa thì chắc cũng phải sử dụng dịch vụ… ngồi xe lăn” – ông mỉm cười. Bà Bích – vợ ông – cầm tay chồng, vỗ nhè nhẹ dịu dàng…

“Về cái chân đau, thì thế này nhé: Mòn hai khớp gối; riêng chân phải kèm thêm “món” thần kinh toạ. Con gái Hải Yến, mấy năm trước định đưa bố vào viện thay hai khớp gối, chuẩn bị 200 triệu đồng rồi. Bố tiếc của, bảo con gái cứ cất tiền đi, bố tự khắc phục được. Hai cái chân đau nhiều hơn sau khi đi qua 5 nước Châu Âu, rồi đi Trung Quốc. Năm 2009, đầu năm đi Mỹ, cuối năm đi Nga. Trong chuyến đi Nga, đi bộ nhiều quá, đi bảo tàng nhiều, quanh co lên xuống cho tới chừng đến Hermitage, chân đau quá rồi, không sao vào trong bảo tàng được nữa, đành ngồi trước cửa, chụp cái ảnh giải quyết khâu oai.

Rồi tới cái năm bị xe máy đâm, đâu như 2011, đành ngồi ghế “thủ trưởng”, ghế có bánh xe xoay loanh quanh trong căn hộ 70m2 ở Hải Phòng. Bạn đọc biết tin, từ nhiều nước gửi ngay, gửi liên tục thuốc cho mình. Uống thuốc quanh năm, lọ thuốc các loại uống hết, dồn vào được nửa bao tải. Nếu quy thuốc ra tiền Việt, lấy đâu tiền mà uống?

Không hy vọng hai chân khỏi hẳn, hy vọng tình trạng đừng xấu hơn thôi. Một hai năm nay, mọi người đã quen với hình ảnh này của mình, giờ có phép tiên, chân đi lại nhanh nhẹn như trước, mọi người lại không nhận ra mình. Thế nhé, mình bảo với mình, đành bằng lòng với một bộ phận không nhỏ trong cơ thể mình đã thoái hoá biến chất.

Chân đau vì tuổi già, nhưng sâu xa hơn, chân đau cũng là bởi 5 năm (1968-1973) gian khổ bị cách ly với đời, sống ở trại, gánh gồng nhiều quá. Nhớ những mùa đông giá buốt, phải lội suối vùng Đông Bắc đổ ra từ rừng. Chân tê dại đi, chẳng còn cảm giác gì, thậm chí lúc đó, đút chân vào đống lửa, cũng không có cảm giác ấm…

Chịu cái đau tinh thần, có thể đưa nó lên trang viết và được sẻ chia. Nhưng cái đau thể xác, thì mình tự nhận. Bạn đọc gửi thuốc men về cho, bảo, chưa chắc thuốc có tác dụng ích thực gì? Nhưng mỗi lần mình uống thuốc, lại thấy vui, yêu đời hơn rất nhiều. Uống thuốc là uống cả cái tình bạn đọc vào người”.

Chia sẻ và trách nhiệm

“Biển và chim bói cá” ra với đời năm 2008. Sách được dịch ra tiếng Pháp, lại cũng được một cái giải của Pháp dành cho tiểu thuyết viết về biển. Đấy là cái lộc thứ nhất từ sách. Cái lộc thứ hai từ cuốn này là Đài Tiếng nói Việt Nam đọc toàn bộ, trả cho nhuận bút là 800.000 đồng. Cái lộc thứ ba tiếp nối là hôm nhà văn Đình Kính dẫn đi mátxa ở Hội mátxa người mù Hải Phòng. Đình Kính giới thiệu, đây là ông viết nên “Biển và chim bói cá”. Mấy em mátxa người mù thường nghe đọc sách qua đài, hào hởi, thế ạ, ra là bác đấy ạ. Họ mátxa cho mình nhẹ nhàng cẩn thận…

Giải “Sách hay” cho “Biển và chim bói cá” năm nay là thêm một lộc. Không nghĩ 5 năm sau, “Biển và chim bói cá” lại mang lộc nữa tới cho mình…

Cuộc đời mình có nhiều nỗi oan ức. Nhưng còn may mắn hơn rất nhiều người. Còn sống, trở về và viết lách tý ty để chia sẻ, trong những truyện ngắn, tiểu thuyết đầu tay “Chuyện kể năm 2000”. Nhưng viết “Biển và chim bói cá” là như chụp một khoảnh khắc của sự tan rã của nhiều thứ của đời. Viết và ý thức được trách nhiệm của một nhà văn về một giai đoạn lịch sử cần được ghi chép trung thực…”.

Một trái tim thuần hậu

Năm 2013 này Bùi Ngọc Tấn có hai ngày kỷ niệm đáng nhớ – 45 năm một ngày của tháng 3.1968 và 40 năm của một ngày tháng 11.1973. Tôi hỏi ông về sự vị tha của con người. Ông mỉm cười: “Hầu như chẳng nghĩ gì tới những năm tháng ấy nữa. Có nghĩ thì chỉ cứ ao ước được trở lại thăm những nơi ấy. Năm 2006, có dịp trở lại một trong những nơi ấy. Thấy buồn lắm. Những gì đọng lại trong mình chẳng còn nữa. Những cánh rừng nguyên sinh không còn nữa. Chỉ toàn rừng trồng. Mới thấy thời gian thật ghê gớm. Mới thấy con người sao nhỏ nhoi trước thời gian…”.

Chuyện với Bùi Ngọc Tấn, chuyện nọ xọ chuyện kia, tôi không dưng nhớ nhân vật Cần của ông, một người đàn ông cô đơn cùng cực, bị cách ly với đời, với tất cả vẻ mê say chăm chút cho con cá, con trăn và hai con tắc kè… Nhớ nhân vật Hồng nhận xét: “Biển êm thế này là chỉ nay mai thôi sóng gió nổi lên, biết thế nào là lễ độ”. Nhưng, tôi nói với ông, trong các truyện ngắn của ông, tôi rất thích truyện “Một cuộc thi hoa hậu” ông viết xong tháng 10.1995, in trong tập “Một ngày dài đằng đẵng” (NXB Hải Phòng 1998).

Cái câu kết nhiều trìu mến ấy “Bé ơi. Đừng khóc. Đời các con mới chỉ bắt đầu”, với tôi, chứa một cái nhìn xuyên thấu thời gian. Nhìn trước được rất nhiều điều của cuộc đời này với sự thương cảm. Bùi Ngọc Tấn cười nhẹ, “Tôi cũng thích truyện ngắn ấy. Tôi cũng thích cả truyện “Vũ trụ không cùng”. Á, truyện ngắn đó, nhà văn Dạ Ngân từng nhận xét “là một truyện ngắn đạt đạo” của Bùi Ngọc Tấn. Câu kết của nó cũng đượm buồn, như thân phận con người: “Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ trụ không cùng”…

“Cuộc đời nhọc nhằn, khổ sở. Bằng lòng với cái cuộc đời ban cho. Sống và thương yêu nhau, nhỉ?” – Bùi Ngọc Tấn lặng cười.

Giải sách hay 2013 do độc giả bình chọn

Ngày 22/9, tại thành phố Hồ Chí Minh, Giải thưởng sách hay 2013 với chủ đề “Sách và khai minh” thuộc Dự án sách hay do Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (IRED) đã được công bố. Đây là giải thưởng dân lập đầu tiên về sách có quy mô của Việt Nam do học giả và độc giả bình chọn.

Giải thưởng bao gồm 7 hạng mục: Nghiên cứu, giáo dục, văn học, kinh tế, quản trị, thiếu nhi và phát hiện mới. Mỗi hạng mục được phân chia thành hai thể loại viết và dịch, với những tiêu chí xét chọn riêng nhưng chung một điểm là đều mang tính thông điệp và tính khai minh cao, chứa đựng những tư tưởng triết lý tiến bộ. Hạng mục “phát hiện mới” do Hội đồng xét giải xét chọn có tiêu chí lựa chọn những tác phẩm thuộc tất cả các lĩnh vực, ra đời chưa lâu (đuợc xuất bản trong vòng 5 năm trở lại đây), mang tính mới mẻ, đột phá, đại diện cho những xu hướng đọc sách, viết sách, làm sách tiến bộ.

Một số cuốn sách đuợc trao giải như: Hạng mục sách nghiên cứu thể loại viết là cuốn “Thần người và đất Việt” – tác giả Tạ Chí Đại Trường; thể loại dịch là “Xứ đàng trong” – dịch giả Nguyễn Nghị. Hạng mục sách văn học thể loại viết là cuốn “Biển và chim bói cá” – tác giả Bùi Ngọc Tấn; thể loại dịch là “Nắng tháng Tám” – dịch giả Quế Sơn. Hạng mục thiếu nhi thể loại viết đuợc trao tặng cuốn “Những giọt mực”- tác giả Lê Tất Điều; thể loại dịch thuộc về cuốn “Totto Chan bên cửa sổ” – dịch giả Trương Thùy Lan; …

Giải thưởng này nhằm góp phần lan tỏa tri thức từ những cuốn sách hay, sách quý, đồng thời gợi mở xu hướng đọc, viết, dịch và làm sách tiến bộ trong xã hội, thúc đẩy sự phát triển của mỗi cá nhân, cũng như sự phát triển chung của nền tri thức văn hóa nước nhà. Ban tổ chức muốn gửi gắm đến cộng đồng xã hội những thông điệp được truyền tải trong mỗi cuốn sách đoạt giải.

(nguồn Thể Thao Văn Hóa)

Chuyện kể cho những thế kỉ mai sau

Một nhà báo – nhà văn đang thành công suôn sẻ thì bỗng bị bắt bỏ tù không xét xử một cách thô bạo, xem như phần tử nguy hiểm cho cách mạng. Ông kể lại cái đói, cái sợ, cái đơn điệu của những ngày dài bất tận, đời sống xã hội giữa những người tù. Sau nạn tù, lại đến sự sỉ nhục nã theo ông. Không có cơ may thứ hai, không có “tái nhập” cho con người này, ở đất nước này. Không hằn học, với một sự thanh thản đến làm ta bối rối, Tuấn, nhân  vật chính của cuốn sách, kể lại cho chúng ta nỗi đau của ông, nhưng cũng nói với chúng ta về tình yêu, về dục vọng, về những ước mơ. Chúng ta gặp lại cách viết của Bùi Ngọc Tấn, giản dị, đầy chất thơ, nhạy cảm, thậm chí đôi khi ngộ nghĩnh. Một câu chuyện làm chao đảo. Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934[1] ở Hải Phòng. Ông đã là cán bộ ở Hà Nội, rồi làm báo. Chấn thương tinh thần vì chiến tranh và tù ngục đã ngăn ông không viết nổi trong hai mươi lăm năm, điều đã mang lại cho sự nghiệp văn chương của ông một quãng lùi kì diệu để bao quát toàn cảnh, từ đó rộ nở tưng bừng. L’Aube đã xuất bản một tập truyện ngắn của ông, Une vie de chien (Cún) cũng như cuốn tiểu thuyết đẹp Biển và chim bói cá đã giành giải Henri Queffélec tại festival Sách và Biển Concarneau năm 2012.

Xin lưu ý: kiệt tác đấy. Vì bất kì lí do gì cũng không nên bỏ qua cuốn sách này, sẽ ra mắt vào ngày 22 tháng 8. Cảm ơn Marion Hennebert và nhà xuất  bản L’Aube đã cho phép chúng tôi phát hiện ra sự ngụp sâu phi thường ấy vào thế giới lao tù ở Việt Nam. Dĩ nhiên, người ta nghĩ đến Alexandre Soljénitsyne và đến Quần đảo Goulag. Không có gì phổ quát hơn độ trệch dòng của những thứ isme ấy, những thứ chủ nghĩa dưới chiêu bài tìm kiếm lợi ích cho toàn nhân loại đã làm nẩy sinh ngay trong bản thân chúng hàng lũ quan toà công chức xoàng xĩnh, hạch tội chi li, tha hồ nở rộ… Trừ một điều là giọng điệu hoàn toàn khác với giọng nhà văn Nga vĩ đại. Không chút lâm li.      Điều đó khiến người ta nghĩ các trai :cải tạo ở Bắc Việt Nam không kinh khủng bằng Goulag chăng? Tôi nghĩ rằng đó chủ yếu là một lựa chọn của người kể chuyện, ưu tiên cho giọng mỉa mai cay đắng, hợp hơn với chất từ tốn Á Đông hơn nhiều so với những thổ lộ tâm tình làm ta rơi lệ của tâm hồn slave. Các nhà văn Việt Nam, nói chung, xuất sắc trong thể loại truyện ngắn, họ thích thêu dệt quanh những mảnh đời nhỏ cắt cúp một cách tinh tế. họ không giữ khoảng cách. Còn ông, Bùi Ngọc Tấn, ông không biết viết tủn mủn. Tháng giêng năm 2012, tôi đã giới thiệu với các bạn cuốn sách đẹp nhưng khá dài “Biển và chim bói cá”. Đã đến lúc Tấn mời chúng ta đọc tự truyện của ông, viết ở ngôi thứ ba, nhân vật chính không ai khác ngoài bản thân ông. Là người cộng sản tin thành, cha và anh em trai đều là cộng sản dấn thân hoàn toàn vào kháng chiến, là nhà văn, nhà báo được công nhận và đã nổi tiếng, đùng một cái, ông bị nghi ngờ là có tư tưởng phản cách mạng… Tất nhiên tất cả những gì ông viết đều bị tịch thu – mặc dù một số bài viết của ông vẫn tiếp tục có mặt trong các sách giáo khoa! Tư tưởng phản cách mạng? Trong một truyện ngắn, một chú dế bị một lũ gián to béo tấn công. Những con gián đó phải chăng là hình ảnh của những quan chức cộng sản? Trả lời những kết tội như thế cách nào đây, ngoại trừ bằng một cái nhún vai… Ông trải năm năm ở ba trại khác nhau, trong đó một trại là “trung tâm sàng lọc” ở Hà Nội, tại đó ông bị giam bên cạnh những tử tù. Ông tù không có án; nói cho đúng, tội của ông quá nhẹ để người ta có thể đem ra xử. Ông chỉ cần một sự cải tạo nhỏ ở trại lao động là vừa đủ. Lẽ ra, ông có thể được ra sớm hơn, sau ba năm. Có điều là vào đúng thời điển này, cái ông ngốc nghếch ây lại nói ông vẫn không biết người ta kết ông vào tội gì… Hấp! quay về trại liền! Cứ thế, trên hơn bảy trăm trang, đời sống của những người tù trong rừng được mô tả, tiếp theo là sự trở lại rất khó khăn của nhân vật chính với cuộc sống “tự do”. Tấn đã phác hoạ tất cả những nhân vật ông đã gặp trong cuộc đời đó, những bức hí hoạ đẹp thống thiết, như già Đô, một ông già đã sống cuộc đời phiêu bạt, đã tham gia Thế chiến II, lao động ở Bắc Phi, lấy một người phụ nữ Marseille… rồi nhớ quê hương trở về; như Giang, một chàng trai rất trẻ, con trai một anh hùng của cách mạng, trở nên lêu lổng, rồi cùng, trở thành kẻ cắp chuyên nghiệp. Và biết bao người khác: Sáng, người không ngừng trốn trại… không ngừng bị bắt lại; Sơn, vốn là một kĩ sư, hoá điên, chỉ còn biết cầm chổi quét lia lịa không thôi, kể cả khi đã được tha, vân vân và vân vân…. Hàng loạt những nhân vật phụ, phác hoạ bằng một nét chì than sống động và sắc nhọn…

Cuộc sống ở trại. Dơ dáy bẩn thỉu, mùi hố xí, nước nước phát nhỏ giọt trong một cái bô tiểu, cái đói. Và nỗi ám ảnh phái kiếm tí gì ăn để bổ sung vào bát cơm gạo mốc và bát canh cá khô (thối) phân phối cho tù nhân.. Phần lớn bọn họ phải lao động ở bên ngoài (làm vườn, lò vôi, gánh than, gánh phân…) nhưng cấm không được mang thức ăn về. Vậy phải giấu từ con nhái, con thằn lằn, tí rễ sắn, củ khoai ráy (một thứ cây họ bầu bí có độc tố nhưng luộc chín có thể ăn được), những thứ ấy một khi nướng lên trên một bếp than (than cũng lén lút mang trộm về) sẽ là gia vị cho bát canh  .. Và vì tất cả bọn họ đều mơ ước tìm được tí rau mùi, rau húng, một nhánh sả cũng đem lại cái vị của những món cỗ ngày xưa ở nhà… Ông đã từng là một nhà văn trẻ xuất sắc. Những bài báo, những kịch bản phim, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông đã khiến người ta biết đến ông. Người ta gặp ở nhà ông cả giới trí thức Hà Nội, hoạ sĩ, nhạc sĩ…Giờ đây, ông chẳng còn là gì cả. Vợ ông đã từng học Đại học. Với lòng đại lượng, chính phủ đã cho phéo bà tiếp tục học … cho đến khi họ đuổi bà và bà phải kiếm một chân phụ kho để nuôi bốn đứa con. Ngọc xưa là một thiếu nữ rất xinh, người con gái duy nhất quan trọng đối với ông. Để mang chút đồ tiếp tế cho người chồng bị tù, bà phải chịu bao nhiêu tiếng đồng hồ đằng đẵng trên xe hàng, qua đò, qua phà, đạp xe và có thể hôm ấy, người ta quyết định là người tù không được tiếp vợ đến thăm nuôi, hoặc giả đồ tiếp tế không được chuyển đến tay người nhận, hoặc giả chỉ một nửa số đồ tiếp tế ấy được chuyển… Hết năm năm, nhân vật của chúng ta được tự do. Được gặp lại cha mẹ, các anh trai mà một số cũng mắc vào vòng lao lí, thấy lại ngôi nhà nhỏ ở làng quê. Cuối cùng, gặp lại Bình, người bạn trung thành trong số những người trung thành, người duy nhất không bao giờ bỏ ông. Điều đó đã khiến Bình bị giám sát, theo dõi. Hễ ra khỏi nhà là lập tức, Bình có ngay hai cái “đuôi” theo sát như hinh với bóng. Ở phòng bên cạnh căn hộ của Bình, người ta đặt micrô. Thế là Bình oang oang trao đổi với Thao, vợ mình, những câu chuyện ca ngợi sự tốt đẹp và thành công của chế độ. Bạn có tin được không? Đó là một nhân dân kiệt máu trong một đất nước mà ở đó tất cả đều cần xây dựng lại, mọi người đều sắp chết đói và nhà cầm quyền trả lương cho hai người chỉ để theo dõi một người khác mà sai phạm duy nhất là làm bạn… với một kẻ “bị cải tạo” mà họ chẳng bao giờ tìm thấy được điều gì để kết tội!

Niềm vui của Bùi Ngọc Tấn bạn bè khi nhận được CKN2000 bản tiếng Pháp và La Mer et le Martin pêcheur tái bản loại bỏ túi.

Niềm vui của Bùi Ngọc Tấn bạn bè khi nhận được CKN2000 bản tiếng Pháp và La Mer et le Martin pêcheur tái bản loại bỏ túi.

Bui Ngoc Tan

Chụp ảnh kỷ niệm với gia đình Dương Tường, Đỗ Hoàng Diệu và Huy Đức

Chụp ảnh kỷ niệm với gia đình Dương Tường, Đỗ Hoàng Diệu và Huy Đức

Nhưng giờ, hẵng phải sống đã. Nhưng sống bằng gì? Bởi vì ngay cả khi ông đã được tự do, thì những người đã muốn diệt ông, như ông Trần, cảnh sát trưởng, cũng không hề có ý định cho phép uỷ ban phường ông cho ông làm việc…nên ông nhặt nhạnh đôi ba đồng bằng cách gom những túi ni-lông; làm miến, xin giấy mua giầy dép của mậu dịch bán lại… Hết cách. Và nỗi xấu hổ vì bị dồn đến bước ấy. Thế rồi, dần dà vòng siết được nới lỏng. Một quan chức đỡ hèn nhát hơn những người khác một chút cho phép ông kiếm được một chỗ làm tử tế.. Ông lại bắt đầu viết, kí một cái tên giả, dưới sự che chắn của Bình…  Phải, đây là chuyện kể về tất cả những thứ chế độ cực quyền cán bẹt con người bởi vì con người giữ được khả năng tự do tư tưởng, ấy đấy, mối hiểm hoạ! Người trí thức, kẻ chuyên nghề tư duy, ấy đấy, mối hiểm hoạ! Và để kiểm soát hắn, còn gì tốt hơn là giao cho một tay xoàng xĩnh, một tay ganh tị, chát chúa, giám sát hắn, sẵn sàng trả thù cho sự xoàng xĩnh của chính mình. Nhưng ta cũng phải nhấn mạnh bút pháp đẹp của Tấn. Một bút pháp rất hiện đại: những câu ngắn, khô giòn như bắn liên thanh. Làm sao không gắn cả người dịch, Tây Hà, vào đó? Chất u-mua, chất mỉa mai đặc Việt Nam, đâu có dễ chuyển đạt bằng tiếng Pháp! Tuy nhiên cũng phải phê bình một điểm: lẽ ra tác giả có thể tỉa bớt một chút. Chuyện nấu nướng vụng trộm trong trại, chuyện giấu cái rễ khoai ráy trong quần đùi, con chuột nhắt trong mũ, trở đi trở lại mười, hai mươi lần, cũng như những chi tiết về đời sống trong những nhà ngủ tập thể lộn mửa. Nhưng người ta cảm thấy con người này lên cơn: trong khi viết, những ki niệm trở lại với ông, chồm lên tim ông, và ông không thể ngăn mình truyền đạt lại chúng, lần nữa và lần nữa, ám ảnh bởi quá khứ. Ngòi bút buột khỏi tay ông.

Để kết thúc, còn có một nhân vật nữa: Rừng. Rừng nguyên sơ mênh mông của Bắc Việt Nam siết quanh các trại tù với những cây to và nhan nhản những loài thảo mộc. Với những dòng suối, những cây nhó sum sê quả. Chim chóc, tiếng rừng, tiếng gió, tiếng côn trùng xào xạc… chất thơ thuần khiết, chất thơ nguyên thuỷ đối lập với sự ngu si của con người. Một nhân vật đem lại cho câu chuyện hơi thở của tự do, không khí trong lành của cuộc sống đích thực. Vâng, một cuốn sách rất lớn…

Anne Hugo- Le Goff

(Dương Tường dịch)


[1] Bản tiếng Pháp in nhầm là 1954

Chuyện kể năm 2000 dịch sang tiếng Pháp

Tiếp theo việc dịch và in 2 tập sách của Bùi Ngọc Tấn (tập truyện ngắn Une vie de chien và tiểu thuyết La Mer et le Martin-pêcheur, giải thưởng lớn Henri Queffelec), nhà xuất bản Aube đã in và phát hành tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 với nhan để Un conte pour les siècles à venir (Chuyện kể cho những thế kỷ mai sau), cũng do dịch giả Tây Hà dịch. Sách dầy 736 trang.

Dưới đây là lời giới thiệu in ở bìa 4 tập sách.

Tuấn, một ông già dầy dạn cuộc đời nhớ lại những kỷ niệm gần 30 năm trước. Đang thành công may mắn trong sự nghiệp làm báo và viết văn thì ông bị bắt, coi như phần tử nguy hiểm đối với cách mạng và bỏ tù 5 năm ròng không xét xử.

Điều khiến người đọc câu chuyện (có tính chất tự truyện) này là những năm tháng khổ đau ấy được kể lại thật thanh thản. Không chút hận thù. Trái lại, rất nhiều chỗ dành cho chất thơ như bay bổng bên trên sự tàn ác của con người. Cánh rừng cổ đại bao quanh trại giam được miêu tả trong vẻ đẹp kỳ vĩ của những con chim lạ cất tiếng hót với những âm sắc người. Hình ảnh một dòng suối trong vắt với một con tôm trắng tung tăng đùa trên nền cát trắng, đưa ta tới tiên cảnh. Cuốn sách cũng dành chỗ cho tình yêu: Đêm đầu tiên của Tuấn và Ngọc cũng như đêm gặp lại sau những tháng năm tù, thật tuyệt vời nhục cảm, ngời ngời một vầng trăng đồng lõa.

Cuốn sách mênh mông này, tác giả đề tặng con gái mình để truyền đạt lại ký ức của thế kỷ và để một số bi kịch khỏi lặp lại. Chúng ta đi xuyên qua Lịch Sử -lịch sử lớn và lịch sử riêng tư sâu kín- trong một bức tranh hoành tráng bậc thầy.

 

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Nguyên bản Tiếng Pháp

Un vieil homme marqué par la vie, Tuấn, se remémore des souvenirs qui remonte à près de trente ans. Il connaissait une heureuse réussite dans sa vie de journaliste et d’ écrivain quand il fut arrêté comme élément dangereux pour la Révolution et emprisonné sans jugement pendant cinq longues années.

Ce qui étonne quand on lit ce récit (autobiographique), c’est la sérénité avec laquelle sont décrites ces années de souffrances. Aucune haine. Au contraire: une grande place est laissé à la poésie qui semble voler au-dessus de la cruauté des hommes. La forêt antique qui environne le camp ét décrite dans sa beauté grandiose; d’étranges oiseaux y font entendre leur chant aux accents humains. On atteint à la féerie avec l’évocation d’un ruisseau où une blanche crevette s’ébat sur fond de sable blanc. L’amour a également sa place; la première nuit de Tuấn et de Ngọc comme  celle de leurs retrouvailles après la prison sont merveilleusement sensuelles, éclairées par une lune complice…

Cet immense livre ét décidé par l’auteur à sa fille pour lui transmettre la mémoire du xxe siècle et éviter que certains drames ne se repètent. Nous traversons avec lui l’Histoire – la grande et l’intime – dans une fresque magistrale.

Cùng với việc in Un conte pour les siècles à venir, Aube cũng tái bản tập La Mer et le Martin-pêcheur (Biển và chim bói cá) xuất bản lần đầu năm 2012 dưới dạng bỏ túi.

Chim Bói Cá & Ngư Ông và Biển Cả …

Đôi lời giới thiệu

Cuối những năm 1960, nhà văn Bùi Ngọc Tấn bỗng dưng bị bắt vì tội gì chẳng rõ. Giá như ông Tấn sống vào thời nay, chắc ông sẽ bị án “trốn thuế” chẳng hạn – vì ông và đồng bọn nhà văn nhà thơ nhà báo đi bán máu nuôi thân và nuôi vợ con mà không khai nộp thuế, tội đó to lắm, vì là tội phá hoại tài sản nhân loại và dân tộc.

Không trốn thuế, cũng không có mấy bao cao su hỗ trợ pháp lý, nên thời đó, tuy không là đảng viên ĐCSVN, Bùi Ngọc Tấn được hân hạnh ghép vào cái án “chống Đảng” như các ông đảng viên sừng sỏ cỡ Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, và vô số ông (bà) khác trong một vụ án rất đông tội đồ không cần qua xét xử. Đó là thói quen trị nước của một Đảng cầm quyền tuyệt đối (bây giờ người lịch sự gọi là chế độ toàn trị, người ưa nôm na thì gọi là độc tài hoặc phát xít).

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn rồi cũng bỗng dưng được cho ra tù – và anh chấp nhận “được tha” – không sẵn dũng khí như ông nhà văn Vũ Thư Hiên đòi xét xử tử tế trước khi ra tù, thì liền được cho “lưu ban” thêm hai năm nữa, rồi cũng bị tống về nhà với vợ con.

Ra tù Bùi Ngọc Tấn viết Chuyện kể năm 2000 đầy tính nhân văn, mô tả cuộc sống trong tù mà không hề hằn học, chỉ có một giọng khi nên thơ khi hài hước đến nao lòng. Sau bản dịch tiếng Anh, bản tiếng Pháp của tác phẩm này sắp ra mắt bên Pháp, do anh Nghiêm Phong Tuấn dịch, cái tên sách dịch đã thấy hay và sang trọng rồi: Conte pour les siècles à venir – chuyện kể cho nhiều thế kỷ tới.

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Bùi Ngọc Tấn sau khi ra tù còn viết cuốn tiểu thuyết khác, Biển và chim bói cá, lấy cảm hứng từ những công nhân đánh bắt cá của cái xí nghiệp ông Tấn được vào làm việc cho tới khi về hưu. Bói cá… đã được Nghiêm Phong Tuấn dịch và tác phẩm đã được giải cao tại Hội chợ sách bên Pháp, như Bùi Ngọc Tấn đã có lời cảm ơn sau “Tôi chào mừng Đại Hội Biển vàSách. Đạt được giải Henri Queffelec mỗi năm dành cho một tác phẩm nói về biển, thật là một vinh dự lớn cho tôi, nhất là khi qua mạng internet tôi được biết trình độ rất cao của những tác giả cùng tranh cử để được giải này”.

Một bạn nhà thơ Việt Nam sống ở Pháp, ông Nguyễn Hữu Viện, đã xúc động viết đôi lời tặng dịch giả của Bùi Ngọc Tấn.

Nhân ngày Chủ nhật dẫu sao thì cũng cần thư giãn, lại được nhà văn Bùi Ngọc Tấn gửi bài tới nhờ đăng, xin có vài lời trước khi cùng bạn đọc rung đùi nhâm nhi những lời lẽ ngây thơ, yêu đời, mà trong cái đời ấy hẳn nhiên là có cả tổ quốc của chúng mình, và có cả những công trình đẹp đẽ đang đựng xây và cả những “công trình” sắp sụp đổ…

A hà hà, vui lên bạn ơi!

Phạm Toàn



Chim Bói Cá   & Ngư Ông và Biển Cả   ... 
à Anh Nghiêm Phong Tuấn, traducteur de « La Mer et le Martin-Pêcheur »...

Homme Libre, toujours tu chériras la mer !
La mer est ton miroir, tu contemples ton âme
Dans le déroulement infini de sa lame
Et ton esprit n'est pas un gouffre moins amer.
 (Baudelaire - L'Homme et la Mer de Baudelaire)
  

Chim Bói Cá   và  Ngư ông  cùng hạnh phúc chia sẻ Biển Đông 
Cho dù  ngư ông là người, Chim Bói Cá là vật 
Vì lẽ Người và chim không có lợi ích chung không biển 
 Và cả hai ngẫu nhiên cùng say sóng như nhau 
 Vì lẽ  cả hai không có lợi ích chung không cùng biển 
  Chim Bói Cá  thức dậy sớm mai
  Ngư ông  ngủ vùi sau một đêm trắng dài viết « lách »  
Chàng ngủ đến tận sáng muộn màng
Ôi Biển cả làm sao biết lòng Người lẫn lòng chim 
Nhưng cả hai đều là hai nhà đấu tranh bất tử !
 Hải Phòng -  Marseille đều cả hai  phố cảng 
Nơi ấy giấc mơ Pháp-Việt chạm đáy vô cùng 
 Không mất đi phẩm chất mộng mơ
 Vết tích ký ức trùng lập với vết hằn quên lãng 
Khẽ hở của trí nhớ là những tia chớp lân quang bừng sáng 
 Và  tia lửa này thiêu đốt tất cả những điều ghi nhớ lại 
Hà Nội – Paris  truy đời ta về nguồn cội của mình
 Tổ Quốc  chẳng qua chỉ là Mẹ hiền và Biển cả ! 
 Cả cùng hai Phap -Việt chan hòa 
  Paris  có thể  khai sinh bóng hình  Hà Nội 
 Và ngược lại  Hải Phòng  cũng có  khai sinh bóng hình  Marseille
 Vâng Nước Pháp đối với anh có gì xa lạ 
 Vì Nhà văn đã học tiếng Pháp từ thuở ấu thơ
 Thế hệ anh chứng kiến bao thăng trầm lịch sử 
 Và tác phẩm anh  lưu giữ ký ức của Dân Tộc mình
Tình yêu ấy nuôi dưỡng chúng tôi quả đầy bi kịch   đớn đau  
Uớc gì dập tắt nhiệt tình  bằng lệ biển … 
Kìa cánh buồm cuối chân trời nơi Chim Bói Cá bay lượn 
Chỉ một mình Chim Bói Cá chống chọi biển ngàn khơi 
Và sau cánh chim cả đàn chim con nhỏ đang chờ chim Mẹ 
Tôi hãy còn kỷ niệm những cánh chim biển
Trong mắt bão bất công tảo tần và bao phiêu lưu khủng khiếp
Hãy nhìn kìa !  Cuối chân trời bay lên Chim Bói Cá  Mẹ bay lên  .... 

Nguyễn Hữu Viện

Một nhà văn của nhiều nhà văn

(TT&VH) – (LTS): Bởi là người Thơ với những bài thật… tình, nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan luôn có những điểm nhìn riêng biệt đầy cá tính lẫn sáng tạo sau mỗi lần đọc sách. Anh có lẽ là một trong số ít nhà thơ đọc nhiều sách nhất, có nhiều khi tác phẩm còn ở dạng bản thảo và cũng là nhà phê bình làm được nhiều thơ hay…

Xin giới thiệu tập chân dung Viết về bè bạn của Bùi Ngọc Tấn, do nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan giới thiệu

Nguyễn Quỳnh Trang.

Tôi vừa riết róng với vài người bạn gần gũi có dính vào văn nghiệp, rằng các anh đọc Viết về bè bạn của Bùi Ngọc Tấn đi!

Lý do cái yêu cầu đó của tôi đơn giản là, tôi muốn thêm vào một sự thôi thúc đối với họ, sự thôi thúc kể lại đối với một chứng nhân về cái phần sự thật mà họ từng trải nghiệm. Bởi cuốn sách này của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tập hợp 13 thiên bút ký hồi cố của ông, hết sức độc đáo do đều là những bút ký chân dung những nhà văn và nghệ sĩ bè bạn của ông cùng chân dung Nguyên Hồng, do văn phong giản dị thấu suốt, là một cuốn sách khiến nhớ đến câu thơ của Evgeny Evtushenko – “Mỗi số phận mang một phần lịch sử. …”

Chân dung nhà phê bình Nguyễn Chí Hoan

Đây là một tác phẩm tái bản với những sửa chữa bổ sung và tác giả đã viết rõ ở “Lời đầu sách” ông viết về“những người lận đận, không thành đạt” vì hầu hết bạn của ông là những người như thế và là “những người luôn vượt lên, không đầu hàng số phận”.

Theo truyền thống lãng mạn thì không thành đạt – không đầu hàng là nét đặc trưng của “bộ gene” nghệ sĩ, và nền tảng của nó là một tình yêu đại lượng vô biên đối với con người và đời sống nói chung. Những nét tiêu biểu ấy toát lên từ mỗi dòng chữ của những bài bút ký trong cuốn sách này. Song dẫu Bùi Ngọc Tấn tự nhận cái nhìn lãng mạn trong đôi mắt văn chương của ông ở đây, người đọc vẫn có thể thấy nhãn quan hiện thực sáng suốt dường như nổi trội hơn trong văn chương đó; hay nói một cách khác đi, đấy là cái lãng mạn kiểu Victor Hugo.

Văn chương Bùi Ngọc Tấn rất đẹp, theo lối khiêm nhường, và hẳn ông dành sức mạnh của cái nghệ thuật ngôn từ đặc sắc đó cho tính chân thực – một phẩm chất đòi hỏi hầu hết năng lực ngôn ngữ của mỗi nhà văn – để viết cho được điều ông tự yêu cầu chính mình ở đây khi viết về bè bạn: “Tôi muốn có bóng dáng thời đại chúng tôi đã sống trong những trang sách của tôi …”

Bìa cuốn sách Viết về bè bạn của nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Quả thực ông đã làm được điều đó trong những thiên hồi ký mang cốt cách cổ điển phương Đông này. Như tôi thấy thì thường chỉ bằng một vài tình tiết chọn lọc ông đã dựng nên được một câu chuyện cuộc đời cùng bối cảnh thời buổi đã khuôn đúc thành cái định mệnh ấy, với tính lịch sử sáng rõ và sâu xa ý vị.

Trong thiên bút ký cuối sách về Nguyên Hồng, ông có câu “Đến bây giờ tôi mới biết có những Tám Bính, Năm Sài Gòn mới đang đòi có nhà văn của mình”.

Với tập sách này, ông đã làm một nhà văn của nhiều nhà văn, đầy ý thức về mỗi nhà văn là một mảnh đậm đặc của lịch sử.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.