Viết như chụp một khoảnh khắc của đời

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: Viết, như chụp một khoảnh khắc của đời...

Vợ chồng nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: T.L.T

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn: Viết, như chụp một khoảnh khắc của đời…

“Viết “Biển và chim bói cá” là tôi ý thức được mình lĩnh trách nhiệm của một nhà văn về một giai đoạn lịch sử cần được ghi chép một cách trung thực” – nhà văn vừa được tặng giải thưởng “Sách hay” 2013 nói.

Tự quen với mình
Buổi sáng ngày 22.9, Bùi Ngọc Tấn thập thễnh lên sân khấu nhận giải cho cuốn “Biển và chim bói cá”. Giữa những chớp loá của máy ảnh, hoa và lời chúc mừng, khuôn mặt ông, lúc đó, có chút gì thật ngây thơ. Khuôn mặt của một đứa bé, giữa những thương yêu, thoáng bối rối chưa biết mình cần phải chú mục sự chú ý của mình vào đâu…Sáng 25.9, tôi tới thăm vợ chồng ông. “Đi Sài Gòn lần này, rồi chẳng biết bao giờ mới lại vào nữa. Mà có bay nữa thì chắc cũng phải sử dụng dịch vụ… ngồi xe lăn” – ông mỉm cười. Bà Bích – vợ ông – cầm tay chồng, vỗ nhè nhẹ dịu dàng…

“Về cái chân đau, thì thế này nhé: Mòn hai khớp gối; riêng chân phải kèm thêm “món” thần kinh toạ. Con gái Hải Yến, mấy năm trước định đưa bố vào viện thay hai khớp gối, chuẩn bị 200 triệu đồng rồi. Bố tiếc của, bảo con gái cứ cất tiền đi, bố tự khắc phục được. Hai cái chân đau nhiều hơn sau khi đi qua 5 nước Châu Âu, rồi đi Trung Quốc. Năm 2009, đầu năm đi Mỹ, cuối năm đi Nga. Trong chuyến đi Nga, đi bộ nhiều quá, đi bảo tàng nhiều, quanh co lên xuống cho tới chừng đến Hermitage, chân đau quá rồi, không sao vào trong bảo tàng được nữa, đành ngồi trước cửa, chụp cái ảnh giải quyết khâu oai.

Rồi tới cái năm bị xe máy đâm, đâu như 2011, đành ngồi ghế “thủ trưởng”, ghế có bánh xe xoay loanh quanh trong căn hộ 70m2 ở Hải Phòng. Bạn đọc biết tin, từ nhiều nước gửi ngay, gửi liên tục thuốc cho mình. Uống thuốc quanh năm, lọ thuốc các loại uống hết, dồn vào được nửa bao tải. Nếu quy thuốc ra tiền Việt, lấy đâu tiền mà uống?

Không hy vọng hai chân khỏi hẳn, hy vọng tình trạng đừng xấu hơn thôi. Một hai năm nay, mọi người đã quen với hình ảnh này của mình, giờ có phép tiên, chân đi lại nhanh nhẹn như trước, mọi người lại không nhận ra mình. Thế nhé, mình bảo với mình, đành bằng lòng với một bộ phận không nhỏ trong cơ thể mình đã thoái hoá biến chất.

Chân đau vì tuổi già, nhưng sâu xa hơn, chân đau cũng là bởi 5 năm (1968-1973) gian khổ bị cách ly với đời, sống ở trại, gánh gồng nhiều quá. Nhớ những mùa đông giá buốt, phải lội suối vùng Đông Bắc đổ ra từ rừng. Chân tê dại đi, chẳng còn cảm giác gì, thậm chí lúc đó, đút chân vào đống lửa, cũng không có cảm giác ấm…

Chịu cái đau tinh thần, có thể đưa nó lên trang viết và được sẻ chia. Nhưng cái đau thể xác, thì mình tự nhận. Bạn đọc gửi thuốc men về cho, bảo, chưa chắc thuốc có tác dụng ích thực gì? Nhưng mỗi lần mình uống thuốc, lại thấy vui, yêu đời hơn rất nhiều. Uống thuốc là uống cả cái tình bạn đọc vào người”.

Chia sẻ và trách nhiệm

“Biển và chim bói cá” ra với đời năm 2008. Sách được dịch ra tiếng Pháp, lại cũng được một cái giải của Pháp dành cho tiểu thuyết viết về biển. Đấy là cái lộc thứ nhất từ sách. Cái lộc thứ hai từ cuốn này là Đài Tiếng nói Việt Nam đọc toàn bộ, trả cho nhuận bút là 800.000 đồng. Cái lộc thứ ba tiếp nối là hôm nhà văn Đình Kính dẫn đi mátxa ở Hội mátxa người mù Hải Phòng. Đình Kính giới thiệu, đây là ông viết nên “Biển và chim bói cá”. Mấy em mátxa người mù thường nghe đọc sách qua đài, hào hởi, thế ạ, ra là bác đấy ạ. Họ mátxa cho mình nhẹ nhàng cẩn thận…

Giải “Sách hay” cho “Biển và chim bói cá” năm nay là thêm một lộc. Không nghĩ 5 năm sau, “Biển và chim bói cá” lại mang lộc nữa tới cho mình…

Cuộc đời mình có nhiều nỗi oan ức. Nhưng còn may mắn hơn rất nhiều người. Còn sống, trở về và viết lách tý ty để chia sẻ, trong những truyện ngắn, tiểu thuyết đầu tay “Chuyện kể năm 2000”. Nhưng viết “Biển và chim bói cá” là như chụp một khoảnh khắc của sự tan rã của nhiều thứ của đời. Viết và ý thức được trách nhiệm của một nhà văn về một giai đoạn lịch sử cần được ghi chép trung thực…”.

Một trái tim thuần hậu

Năm 2013 này Bùi Ngọc Tấn có hai ngày kỷ niệm đáng nhớ – 45 năm một ngày của tháng 3.1968 và 40 năm của một ngày tháng 11.1973. Tôi hỏi ông về sự vị tha của con người. Ông mỉm cười: “Hầu như chẳng nghĩ gì tới những năm tháng ấy nữa. Có nghĩ thì chỉ cứ ao ước được trở lại thăm những nơi ấy. Năm 2006, có dịp trở lại một trong những nơi ấy. Thấy buồn lắm. Những gì đọng lại trong mình chẳng còn nữa. Những cánh rừng nguyên sinh không còn nữa. Chỉ toàn rừng trồng. Mới thấy thời gian thật ghê gớm. Mới thấy con người sao nhỏ nhoi trước thời gian…”.

Chuyện với Bùi Ngọc Tấn, chuyện nọ xọ chuyện kia, tôi không dưng nhớ nhân vật Cần của ông, một người đàn ông cô đơn cùng cực, bị cách ly với đời, với tất cả vẻ mê say chăm chút cho con cá, con trăn và hai con tắc kè… Nhớ nhân vật Hồng nhận xét: “Biển êm thế này là chỉ nay mai thôi sóng gió nổi lên, biết thế nào là lễ độ”. Nhưng, tôi nói với ông, trong các truyện ngắn của ông, tôi rất thích truyện “Một cuộc thi hoa hậu” ông viết xong tháng 10.1995, in trong tập “Một ngày dài đằng đẵng” (NXB Hải Phòng 1998).

Cái câu kết nhiều trìu mến ấy “Bé ơi. Đừng khóc. Đời các con mới chỉ bắt đầu”, với tôi, chứa một cái nhìn xuyên thấu thời gian. Nhìn trước được rất nhiều điều của cuộc đời này với sự thương cảm. Bùi Ngọc Tấn cười nhẹ, “Tôi cũng thích truyện ngắn ấy. Tôi cũng thích cả truyện “Vũ trụ không cùng”. Á, truyện ngắn đó, nhà văn Dạ Ngân từng nhận xét “là một truyện ngắn đạt đạo” của Bùi Ngọc Tấn. Câu kết của nó cũng đượm buồn, như thân phận con người: “Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ trụ không cùng”…

“Cuộc đời nhọc nhằn, khổ sở. Bằng lòng với cái cuộc đời ban cho. Sống và thương yêu nhau, nhỉ?” – Bùi Ngọc Tấn lặng cười.

Bùi Ngọc Tấn đoại giải thưởng Henri Queffélec

Festival Livre et Mer (Sách và Biển) là một festival hàng năm ở Pháp nhằm tôn vinh những tác phẩm viết về biển. Giải thưởng  mang tên nhà văn Henri Queffélec, người được xem là một trong những tác giả vĩ đại nhất viết về biển bằng tiếng Pháp trong thế kỷ 20.

Năm nay  có 6 tác phẩm lọt vào chung khảo. Các tác giả đều là các nhà văn chuyên nghiệp:

- Dominique Fortier nữ văn sĩ Canada với tác phẩm Cách Dùng Các Vì Sao nhà xuất bản Table Ronde

- Francois Bellec nhà văn Pháp, với tác phẩm Cây Ban Đêm nxb Jean Claude Lattès

- Eric Fottorino nhà văn Pháp, giám đốc nhật báo Le Monde với tác phẩm Bơi Ngửa nxb Gallimard

- Jose Pinelli (hoạ sĩ người Bỉ) và Jean Bernard Pouy (nhà văn Pháp) với Con Tầu Dưới Gió nxb Jean Claude Lattès

- Pilar Hélène Sugers nữ văn sĩ Pháp với Hội Gió ở Aixlen nxb Jean Claude Lattès

- Bùi Ngọc Tấn nhà văn Việt Nam với Biển và Chim Bói Cá nxb Aube

Vượt qua 5 tác phẩm trên, Biển và Chim Bói Cá (BVCBC) đã được ban giám khảo tặng giải thưởng.

Festival Livre et Mer sẽ được tổ chức trong 3 ngày.

- Thứ sáu 6-4-2012 : 19 giờ trao giải thưởng Henri Queffélec cho BVCBC do ông chủ tịch Francois Bourgeon.

Ảnh: Giải thưởng được trao bởi ông François Bourgeon, chủ tịch danh dự Festival và trưởng hội đồng tuyển chọn, cho dịch giả Tây Hà.

- Thứ bẩy 7-4-2012 :

10 giờ : Dịch giả thay mặt tác giả ký tặng sách BVCBC.

19 giờ : Trích đọc BVCBC do một nghệ sĩ đảm nhiệm. Giao lưu giữa bạn đọc và dịch giả. Dịch giả nói chuyện với bạn đọc về tác giả Bùi Ngọc Tấn.

- Chủ nhật 8-4-2012 : Trao đổi đặc biệt giữa các tác giả được vào chung khảo.

Dưới đây là bài phát biểu của dịch giả Tây Hà thay mặt tác giả Bùi Ngọc Tấn trong lễ trao giải:

L’auteur Bùi Ngọc Tấn est au Vietnam et regrette beaucoup de ne pas pouvoir assister à cette cérémonie. C’est son traducteur qui le représente. Le traducteur n’est qu’un exécutant, très impressionné de se trouver parmi tous ces créateurs.

C’est avec émotion, joie et reconnaissance que nous recevons le prix décerné à l’ouvrage, La Mer et le Martin pêcheur. Le nous ici n’est pas de majesté, il est simplement pluriel. Cette joie et cette émotion l’auteur me les a exprimées quand je l’ai eu au téléphone.

Ảnh: Dịch giả Tây Hà tại buổi lễ trao giải thưởng (hình chụp bởi Stéphane Cariou)

Ce prix est pour nous une grande joie, un honneur et une consolation, parce qu’il est la reconnaissance internationale d’un talent mal traité dans son pays. L’auteur a eu de nombreux prix au Vietnam, au niveau national. Mais il a aussi connu la prison en raison de son talent, parce que le talent ne se soumet pas à l’arbitraire et à l’injustice, fussent-ils soutenus par la force.

Je remettrai ce prix à l’auteur à mon prochain voyage au Vietnam, et nous aurons un petite fête avec nos amis écrivains et artistes, avec de l’alcool et du poisson, comme dans le roman.

Voici un message que l’auteur adresse au festival ….

“Je salue le Festival Mer et Livre. C’est un grand honneur pour moi de recevoir le prix Henri Queffélec attribué chaque année à un livre sur la mer, honneur d’autant plus grand par je vois la qualité de mes concurrents, en consultant l’Internet. La France ne m’est pas inconnue, car j’ai étudié le français dans mon enfance, cela ajoute encore à ma joie de recevoir cette distinction. Je remercie sincèrement le Festival Mer et Livre pour cet honneur et cette joie.”

…..

Monsieur le Président, Messieurs les membres du jury, c’est du fond du cœur, que nous vous disons merci.

Bản tiếng Việt

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn hiện đang ở Việt Nam và rất tiếc không đến dự được buổi họp hôm nay. Thay mặt tác giả là dịch giả. Dịch giả chỉ là người thi hành và thấy mình thật bé nhỏ khi đứng với bao nhiêu nhà sáng tạo.

Chúng tôi rất cảm động vui mừng và cảm ơn nhận giải thưởng Đại Hội đã dành cho « Biển và Chim Bói Cá ». Chúng tôi đây không phải là lời ra oai của thiên tử mà chỉ là đại danh từ số nhiều. Sự cảm động và vui mừng tác giả đã biểu lộ khi được tôi báo tin trên điện thoại.

Giải thưởng này là một vinh dự, một niềm vui, và là một an ủi cho chúng tôi, vì nó là một sự công nhận quốc tế đối với một tài năng bị bạc đãi ở chính nước mình. Tác giả đã từng nhận nhiều giải thưởng có tầm cỡ toàn quốc, ở trong nước. Nhưng ông đã bị giam cầm vì tài năng của mình. Bởi một người tài không bao giờ chấp nhận những điều phi lý hoặc phản công lý dù những điều đó dựa vào sức mạnh.

Tôi sẽ chuyển giải thưởng cho tác giả khi về Việt Nam và chúng tôi sẽ có cuộc liên hoan với các bạn nhà văn, nghệ sĩ, có rượu và cá như đã viết trong tiểu thuyết.

Sau đây tôi xin đọc lời chào mừng của nhà văn Bùi Ngọc Tấn gửi đến đại hội :

« Tôi chào mừng Đại Hội Biển và Sách. Đạt được giải Henri Queffelec mỗi năm dành cho một tác phẩm nói về biển, thật là một vinh dự lớn cho tôi, nhất là khi qua mạng internet tôi được biết trình độ rất cao của những tác giả cùng tranh cử để được giải này. Nước Pháp đối với tôi không hẳn là xa lạ, vì thời thơ ấu tôi đã học tiếng Pháp và sự kiện này càng làm tăng thêm niềm vui của tôi. Tôi thành thật cảm ơn đại hội đã cho tôi vinh dự và niềm vui này. »

Kính thưa Ông Chủ tịch, kính thưa các quý vị trong ban giám khảo, Chúng tôi xin thành thật có lời cảm tạ từ đáy lòng.

Biển và Chim bói cá do nhà xuất bản HộiNhà Văn và công ty Nhã Nam ấn hành lần đầu năm 2009, tái bản năm 2010. Bản Pháp ngữ do Tây Hà dịch, nxb Aube ấn hành năm 2011.

Đây là tập sách thứ 2 của Bùi Ngọc Tấn được Aube giới thiệu, sau tập truyện ngắn Une vie de chien gồm 7 truyện ngắn (Khói, Người chăn kiến, Truyện không trên, Những người đi ở, Một ngày dài đằng đẵng, Cún, Dị bản một truyện đã in) ấn hành năm 2007 và được tái bản năm 2011 dưới dạng bỏ túi (poche)

Nguồn:

1) http://www.letelegramme.com/local/finistere-sud/quimperle-concarneau/concarneau/concarneau-29-festival-livre-mer-l-ecrivain-vietnamien-bui-ngoc-tan-recompense-06-04-2012-1661025.php

2) http://www.ouest-france.fr/ofdernmin_-Le-Prix-Livre-et-Mer-de-Concarneau-decerne_40771-2063900-pere-bre_filDMA.Htm

3) http://www.livremer.org

Đầu xuân thăm Bùi Ngọc Tấn

(Theo Nguyễn Xuân Diện’s blog)
Thưa chư vị,
Theo lệ hằng năm, sáng nay, một số anh em văn nghệ sĩ trí thức Hà Nội bạn bè của nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã đi Hải Phòng thăm gia đình ông. Đoàn gồm: Các GS Chu Hảo, Phạm Duy Hiển; các nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Dương Tường, nhà thơ Vũ Quần Phương, Nhà giáo Phạm Toàn, TS Nguyễn Quang A, Họa sĩ Trịnh Tú, dịch giả Ngọc Tây Hồ, Chị Tâm Hiếu, chị Phương Loan và Nguyễn Xuân Diện.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn – tác giả tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” và vợ – hiện đang cư trú tại 10 Điện Biên Phủ, TP Hoa Phượng Đỏ (gần đây đổi tên hoa phượng thành hoa cải) – đón tiếp mọi người trong niềm vui sướng cảm động. Đài TH TP Hải Phòng cũng kịp thời có mặt để ghi lại những phút giây của cuộc gặp gỡ và các phát biểu của các bạn văn về cuộc đời và nghiệp văn Bùi Ngọc Tấn.

Trên đường đi, trạm dừng nghỉ ngơi:

Không chụp ảnh ba người bao giờ, nhưng có hai ông nổi tiếng, đành liều chụp chung
Cùng Vũ Quần Phương sớt bài thơ Tranh Tết dân gian của ông trên Gúc Gồ

Vào ngõ nhà Bùi Ngọc Tấn:

GS Chu Hảo tặng hoa cho bà Bùi Ngọc Tấn, và cảm ơn bà đã chịu đựng đau khổ
trong suốt thời gian ông bị tù đày.

 

Ảnh trên tường ghi lại cuộc gặp của ông với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Trong ảnh có cả: Nhà văn Nguyên Ngọc và GS hạt nhân Phạm Duy Hiển.


Nhà văn Bùi Ngọc Tấn ký tặng bạn 2 tập sách mới được dịch và phát hành ở Pháp: Tiểu thuyết Biển và chim bói cá (La mer et le martin pêcheur) và tập truyện ngắn Cún (Une vie de chien) dạng bỏ túi (poche)

Phạm Toàn & Trịnh Tú


 


Sau khi hàn huyên ở nhà riêng, cả hội kéo nhau đến một nhà hàng. Ngọc Tây Hồ tặng mỗi bác một chiếc cốc No U (Xóa đường lưỡi bò, bảo vệ Tổ quốc):


Đạo diễn, NSND Đào Trọng Khánh (Hải Phòng) cũng đến chung vui hội ngộ

 



Chu Hảo, người tổ chức chuyến đi thăm Bùi Ngọc Tấn nhân dịp đầu Xuân, do đó bốn người bạn tuổi 80 lại được gặp nhau, một cuộc gặp thật quý, bởi theo các ông, gặp lần nào biết lần ấy.

“Chúng tôi có 10 anh em chơi với nhau hơn nửa thế kỷ rồi. Nay 5 người đã mất (Hứa Văn Định, Mạc Lân, Vũ Bão, Nguyên Bình, Lê Bầu). Vũ Thư Hiên định cư ở nước ngoài. Chỉ còn lại 4 chúng tôi: Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh, Dương Tường và tôi.

Tôi gọi vui là “bè lũ bốn tên”, “bốn người sót lại của rừng cười”, còn Đào Trọng Khánh gọi là “bốn Samurai”. Tôi thấy tên nào cũng được.” (Lời Bùi Ngọc Tấn)

Cũng theo Bùi Ngọc Tấn, chuyến về Hải Phòng thăm ông do giáo sư Chu Hảo tổ chức ngày 2 tháng 3 năm 2012 đã bị chậm lại nửa tháng so với dự định ban đầu. Bởi mỗi người một công một việc khác nhau. Người còn đang ở Úc, người ở miền Trung, người bận họp, người về giỗ mẹ vợ. Được người này lại vắng người khác. “Cứ rập rình như áp thấp nhiệt đới ngoài biển Đông vậy”. Cho đến ngày cuối cùng, lại do công việc đột xuất nên Phạm Xuân Nguyên, Phan Hồng Giang, Trần Vũ… phải ở lại Hà Nội.

“Tôi rất cảm động và cả tự hào nữa. Cuộc đời thật đáng sống.” (Vẫn lời Bùi Ngọc Tấn)

Tin và ảnh: Nguyễn Xuân Diện


A Tale for 2000

Bản tiếng Anh “A Tale for 2000″ của tác phẩm “Chuyện kể năm 2000″ được thực hiện bởi dịch giả Đào Phụ Hồ, mẫu bìa Quốc Việt, Vương Trùng Dương trình bày, Người Việt xuất bản.  Hình thức khổ lớn, bìa cứng  dày hơn 700 trang. Xin xem thêm tại: http://www.nguoi-viet.com/estore.asp

Ảnh: bìa “A Tale for 2000″

Xin trân trọng giới thiệu phần mở đầu của người dịch:

Bản  tiếng Việt:

MỘT LỜI XIN LỖI TỪ NGƯỜI DỊCH…

Duyên nợ đưa đẩy tôi “làm quen” với tác phẩm để đời  Chuyện Kể Năm 2000 – bán tự truyện đầy bi hùng của Nhà Văn Bùi Ngọc Tấn – đến thật tình cờ và rất “ngây thơ. Trước hết là phép lạ khiến cuốn sách “thoát” được sự kiểm duyệt chặt chẽ của Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam và được in vào Tháng Hai năm 2000. Rồi, thứ đến, là hành động tịch thu và hủy diệt thật nhanh chóng phần lớn ấn bản cũng bởi Nhà Nước, nhưng một số đã may mắn “lọt lưới”. Hai biến cố có liên hệ với nhau này là hai yếu tố vĩ đại khiến tôi tự nhủ là phải kiếm cho ra một bản, nếu không làm gì thì cũng đọc cho thoả cái tò mò của chính mình.

Công tác dịch thuật bắt đầu khá sớm sau đó. Một số bạn trẻ hỏi tôi có muốn làm việc này hay không. Tôi bằng lòng một cách khá …rồ dại và rồi ngay sau đó hối hận là mình đã quyết định quá hấp tấp. Công việc dịch cuốn sách rõ ràng là quá khó, và còn khó hơn bởi quá trình học hỏi của tôi khác với quá trình của tác giả Bùi Ngọc Tấn, và bởi tôi không phải là dịch giả theo đúng nghĩa của từ này. Tuy nhiên, trong nghề tay phải lúc đó, tôi phải đi đây đi đó khá nhiều, nên có một việc để làm khi phải ngồi những quãng thời gian rất dài trong các “ống nhôm” là một “quyến rũ” khá mạnh. Giữa những chuyến đi, tôi phải “đâm đầu” vào các thư viện để khảo cứu tìm hiểu những gì mình chưa biết – mà những cái “chưa biết” này rất là nhiều. Chẳng hạn như tên, tác phẩm và cuộc đời của những nhà văn và nghệ sĩ Xô Viết mà Bùi Ngọc Tấn thường kể đến trong cuốn sách của Ông. Những kiến thức tôi mới thu thập được đó đã được nói phớt qua trong những câu chú thích. Tôi còn thấy mình cũng phải đưa ra nhiều chú thích về những chuyện, những biến chuyển và nhân vật mà đã là người Việt thì ai cũng biết, nhưng đối với người đọc không nói được tiếng Việt, không quen thuộc với Việt ngữ hay văn hóa Việt thì đấy là những điều lạ lẫm. Thể nào trong những chú thích đó cũng có rất nhiều lỗi lầm, và lỗi lầm đó tôi xin nhận.

Vì vậy, việc dịch Chuyện Kể Năm 2000 đuợc khởi đầu ở Phi Trường Quốc Tế Thành Điền (Narita) tại Đông Kinh (Nhật Bản) vào buổi sáng một ngày Tháng Năm năm 2000 khi tôi tới nơi quá sớm lúc chưa có xe buýt đưa hành khách vào thủ đô Đông Kinh và phải ngồi chờ mấy giờ đồng hồ. Công tác này được hoàn tất cũng ở Thủ Đô Đông Kinh năm sau đó, khi tôi trở lại xứ Phù Tang vì chuyện làm ăn không biết là lần thứ mấy mươi. Bản dịch lúc đó được hoàn tất với phần lớn các chú thích, nhưng không được trình làng với nhiều lý do. Vì thế, nó nằm “nghỉ ngơi” trong ổ cứng của máy xách tay cho đến khi máy này bị cướp ở nhà ga Gare Du Nord ở Paris vào Tháng Mười Một năm 2001. Lúc đầu, tôi rất hoảng hốt và thương tưởng tới cái mà mình vẫn xem là “đứa con tinh thần”. Nhưng may thay, một thân hữu còn giữ lại một bản điện tử mà tôi đã gửi để nhờ cho ý kiến. Thân hữu này cho lại một dĩa mềm có chứa bản dịch, và dĩa này được bỏ quên, đóng bụi trong phòng làm việc cho đến khi toàn bộ dự án được Nhật Báo Người Việt hà hơi cho sống lại.

Tôi xin trước hết có lời tạ lỗi với nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả nguyên bản tiếng Việt, và sau đó, xin tạ lỗi với những độc giả bản dịch Chuyện Kể Năm 2000 này, bởi rõ ràng đây là một cố gắng có tính cách nghiệp dư đối với một tác phẩm bán tự truyện hết sức đứng đắn. Tôi cũng xin cảm ơn quý thân hữu ở Nhật Báo Người Việt đã tin tưởng ở tôi về việc làm nhỏ nhoi này. Tôi đặc biệt thâm tạ Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, người đã không nề hà khó nhọc để duyệt lại một phần lớn bản dịch. Nếu bản dịch này có vẻ thông suốt thì phần lớn công lao là từ Giáo Sư Bích mà ra.

Tôi cũng xin cảm ơn Quốc Việt, người từ bao lâu nay vẫn là người em mà tôi có mong cũng chưa chắc có, và là người vẽ bìa bản dịch. Tôi cũng phải cảm ơn Dzũng, ngưòi em ruột của tôi, đã đọc kỹ bản dịch và đề nghị nhiều sửa đổi rất đúng đắn, và một người bạn đặc biệt, mà tên tuổi không thể đưa vào đây được vì nhiều lý do, đã là một nguồn cảm hứng cho tôi.  

Nếu trong bản dịch Chuyện Kể Năm 2000 có bất cứ lỗi lầm nào, thì đấy là lỗi của chính tôi và hy vọng rằng người đọc sẽ lượng thứ. Xin nhớ cho chẳng qua tôi chỉ là một người dịch nghiệp dư mà thôi.

Đào Phụ Hồ

Melbourne, Úc, Tháng Ba Năm 2010     

Bản  tiếng Anh:

AN APOLOGY FROM THE TRANSLATOR…..

My acquaintance with Chuyện Kể Năm 2000, the epic “semi-autobiography” of Bùi Ngọc Tấn, began innocently enough. Firstly, there was the miracle that allowed the book to initially “escape” the strict censorship of the Vietnamese Communist regime and proceed to be published in February 2000. Then, secondly, the swift seizure and destruction of most copies by the same regime that had left it “squiggled” through its net. These two entertwined events were the two humongous factors that forced me to look for it, if not for doing anything then just reading it out of curiosity. 

The translation was started soon after that. Some young colleagues asked me if I’d do the job. Foolishly I agreed, and soon regretted my hasty decision. The task was hard, and was made harder as my educational background had not been that of the author Bùi Ngọc Tấn and since I had never been a proper translator. However, in my right hand work at the time, I traveled a great deal, and to have something to do while being “imprisoned” in those aluminum tubes for long stretches of time was very attractive. Between trips, I had to “dive” into libraries to research on what I had not known – and there were lots of things that I hadn’t, such as the names, the works and lives of Soviet writers and artists often referred to in the text by Bùi Ngọc Tấn. My new-found knowledge gave rise to many footnotes, as did my belief that I should provide brief explanations on numerous matters which would be well known among Vietnamese speakers, but not to those readers who do not speak Vietnamese or are not well-versed in Vietnamese language and/or literature. No doubt there would be countless errors in thise footnotes, and they are all mine!

So the task of translation of Chuyện Kể Năm 2000 began at Narita International Airport one day in May 2000 when I arrived too early one morning for the limousine buses that took travelers to downtown Tokyo and had to stay at the airport for several hours. The task was concluded again in Tokyo the following year, when I returned for the umpteenth time on business.

The translation was completed with most of the footnotes, but it failed to present itself to the public for a number of reasons. So it stayed in my laptop harddrive until the laptop was lost in a robbery on a train platform at the Gare du Nord in Paris in November 2001. At first, I was in a panic and pined for the loss of what I considered a “spiritual child”. But luckily, a friend of mine kept an electronic copy I had given him for his opinion. The copy was given back to me in a floppy diskette which gathered dust for several years until found and re-surrected in this project in association with the Người Việt Daily.

I would like to apologize firstly to Bùi Ngọc Tấn, author of the original Vietnamese version, and secondly, to the readers of this translated version of Chuyện Kể Năm 2000 for what is clearly an amateurish attempt to translate a serious semi-biography. I would like to thank my friends at the Người Việt Daily who have put their trust in me and my work. A special appreciation must go to Professor Nguyễn Ngọc Bích who worked enthusiastically as editor for a major part of the translation. If the translation reads well, then a major part of the credit should go to him.

I would also like to thank Quốc Việt, who has over the years been the brother I don’t have, and who provided the cover design for this translated book. Credits should go to Dzũng Nguyễn, a real brother of mine, who read through the translation, and offered many good suggestions for improvement; and to a special friend, whose name cannot appear here for a number of reasons for having been a source of inspiration to me.

If there were any mistakes in this translated version of Chuyện Kể Năm 2000, they would all be mine, and once again, I hope readers would forgive me for having committed them. Please remember that I am but an amateurist translator.

Đào Phụ Hồ

Melbourne, Australia, March 2010.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn lại gặp nạn

Cú đâm của một xe máy chở hàng làm nhà văn Bùi Ngọc Tấn ngã vật xuống đường bất tỉnh, đầu bê bết máu vào chiều mưa 15-9 khi ông đang đạp xe sau trận ốm dậy. Ông bị ngất đi vài giây. Một số người dân tốt bụng nhận ra ông liền đưa vào bệnh viện cấp cứu. 

Tại bệnh viện bác sĩ cho biết một phần da đầu của nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị rách, phải khâu ít mũi. Xương hông của ông cũng bị chấn thương nhưng không có dấu hiệu bị rạn nứt hoặc gẫy. Đồng thời kết quả chụp cat-scan cũng cho biết ông không bị máu đọng trong não.

Tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng, hai ngày trước khi tai nạn xẩy ra, nhà văn Bùi Ngọc Tấn cũng đã phải đi siêu âm và chụp hình xương đầu gối, vì đầu gối chân phải của ông bị sưng không đi được. Bác sĩ cho biết chỗ nối hai khớp xương bị viêm, đã làm mủ. Ông phải uống trụ sinh.

Bệnh thấp khớp của ông vừa thuyên giảm thì vụ đụng xe xẩy ra!

Chiều 17-9, biết tin, nhà văn Dương Tường, Phạm Xuân Nguyên, Tô Hoàng Vũ, Đoàn Duy Trọng… đến thăm nhà văn Bùi Ngọc Tấn ở nhà riêng ngõ 10 Điện Biên Phủ, Hải Phòng. Họa sĩ Lê Đại Chúc vội đến thăm với lọ thuốc bổ thần kinh mang về từ Hoa Kỳ. Dù rất mệt, đầu băng bó, nhà văn Bùi Ngọc Tấn vẫn hóm hỉnh kể lại, nó cũng chỉ là thằng phó người.

Tính tới hôm nay, vẫn theo thư của tác giả “A Tale for 2000” gửi cho bạn thì ông đã ăn uống bình trở lại. Đầu đã bớt đau nhức mặc dù buổi tối ông vẫn phải dùng thuốc ngủ mới có thể ngủ được.

Trước tất cả những sự việc vừa kể, nhà văn Bùi Ngọc Tấn không có một lời than thở nào. Trái lại, ông cho ông vẫn còn quá may mắn!

Theo Lam Khê – Tiền Phong, dutule.com

Thư gửi anh Trần Phong Vũ

Thư gửi anh Trần Phong Vũ (California)

Kính gửi anh Trần Phong Vũ,

Sau khi từ biệt các anh các chị, từ Mỹ trở về Việt Nam, tôi nhận được những thông tin trái chiều về bài nói chuyện của tôi tại Boston. Có những ý kiến khen. Nhưng cũng có ý kiến chê mà chủ yếu là:

1- Tôi đã đánh đồng tất cả các cuộc chiến vào làm một.

2- Tôi như một người con trong gia đình đòi cha mẹ phần bánh chiến thắng: Lịch sử phải viết về họ, văn học phải viết về họ.

3- Tôi sợ sệt khi tiếp xúc với một số người

Về điều 1: Thực sự tôi chỉ làm cái việc thống kê những cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 mà dân tộc ta đã trải qua thôi:

“Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ, chiến tranh chống Pôn Pôt ở biên giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc.” Không có ý kiến phân tích về tính chất các cuộc chiến tranh, cũng không đánh đồng các cuộc chiến. Lại càng không có chữ “vì thế” (ở VN biết bao đơn vị anh hùng, cá nhân anh hùng đã được tuyên dương) như một bài viết đã thêm vào.

Về vấn đề thứ hai. có thể tôi đã chủ quan, nghĩ rằng ai cũng hiểu ý mình định nói. “Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù. Những người đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.”

Và:

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu phương. Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực…, tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả vào mục tiêu chung.

Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.

Lịch sử phải viết về họ.

Văn học phải viết về họ.

ý tôi muốn nói trong đoạn văn trên là: Chiến thắng của miền Bắc được làm nên bởi nhiều nguyên nhân trong đó có những năm tháng tù đầy oan khuất của biết bao người. Lịch sử không được quên nguyên nhân ấy, không được quên những người của những nguyên nhân ấy.

Văn học phải viết về họ. Vâng. Cho đến hôm nay, tôi tự hào là nhà văn duy nhất trong nước đã viết về họ. Những già Đô, những Nguỵ Như Cần, những Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Phố, những Vũ Lượng, Min, Giang Văn Giang… Tôi đã đưa cuộc sống của họ vào văn học, ra xã hội, ra ánh sáng.

Càng không phải tôi đòi chia quả thực, khi bọn người tù đầy chúng tôi (nhằm thực hiện pha lê hoá hậu phương) cho đến ngày hôm nay vẫn sống trong sự quản lý đặc biệt của nhà nước, vẫn là một thứ người loại 2. Đòi chia quả thực gì đây?

Nếu chịu khó đọc tiếp đoạn sau của bài nói chuyện thì thấy rõ ngay ý tôi định nói:

“Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10 tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.”

Chưa bao giờ tôi ngây ngô đến mức ngớ ngẩn có ý định đòi nhà nước chia phần bánh chiến thắng. Với lại đòi làm sao được mà đòi!

Có lẽ sự diễn đạt của tôi không được tốt, nên có thể hiểu theo nhiều cách trái ngược nhau.

Lỗi đó tại tôi.

Tôi xin nhận và rút kinh nghiệm trong khi viết.

Còn chuyện tôi sợ khi giao tiếp. Đúng là tôi sợ. Trong một buổi nói chuyện ở Viện Goethe cách đây mấy năm, tôi đã nhận rằng mình sợ đám đông. Tính tôi vốn ít nói, lại càng dè dặt khi tiếp xúc với những người lần đầu gặp gỡ, chưa biết người đó là ai, xấu tốt như thế nào.

Trong thời gian lưu tại Mỹ, tôi đã được các anh các chị dành thời gian đón tiếp, tôi rất cảm động.

Đi xa, tuổi cao, sức khoẻ tồi tệ, lệch múi giờ, rất kém trong giao tiếp, chắc chắn tôi có nhiều sơ xuất, mong các anh các chị thể tất.

Trân trọng cảm ơn.

Hải Phòng ngày 1-6-2009

Bùi Ngọc Tấn

Tái bản Biển và chim bói cá

Tiểu thuyết Biển và chim bói cá (BVCBC) đã tái bản: Bìa của Đặng Xuân Hòa, và có thêm phần phụ lục gồm bài phỏng vấn tác giả Bùi Ngọc Tấn của Dương Phương Vinh, các bài viết về BVCBC của Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Khánh Phương và Dương Tường.

- Hình ảnh bìa của BVCBC tái bản lần 2.

- Bài điểm sách của Dương Tường:

Biển và chim bói cá (*)

Trong số năm tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn đã viết, Biển và chim bói cá là cuốn duy nhất đến được với công chúng mà không gặp trục trặc gì. Ba cuốn đầu, hoàn thành trong những năm 1960, bị tịch thu từ lúc còn ở dạng bản thảo, do đó không bao giờ được chào đời. Cuốn thứ tư, Chuyện kể năm 2000, tác phẩm đã khiến ông được mệnh danh là Soljénetsyne Việt Nam, bị thu hồi và tiêu hủy một tuần sau khi phát hành.

Biển và chim bói cá, mà một số nhà phê bình văn học chào đón như xuất bản phẩm hay nhất của mùa sách này, là câu chuyện rã đám của một công ti quốc doanh đánh cá biển. Với một cấu trúc dứt khoát phi tuyến tính, không cốt truyện cũng chẳng có nhân vật chính, cuốn tiểu thuyết khoảng 500 trang này bày ra hỗn độn tung tãi những mâu đời vụn của những người làm công ăn lương cố sống cố chết bám lấy cái xí nghiệp đang ngoi ngóp trong nguy cơ “đắm tàu”. Những câu chuyện kì cục khiến ta vừa phì cười vừa muốn khóc. Những con người cùn mằn tội nghiệp – nhân viên văn phòng, cạo giấy, thủy thủ… – chạy ngược chạy xuôi đôn đáo, dùng mọi mánh xoay sở thảm hại để kiếm đủ sống qua ngày… Một chồng chất hỗn đọn những nhân vật tuy khắc họa sắc nét, thậm chí đôi khi nổi bật như tác phẩm điêu khắc, nhưng hòa trộn thành một khôi vô dạng hình, qua đó lấp ló sự suy tàn không tránh khỏi của cả một hệ thống.

Một sử thi của tan rã, tôi những muốn nói thế.

DƯƠNG TƯỜNG


(*) Bài này nguyên viết bằng tiếng Pháp cho tạp chí Carnets du Viêt Nam (Sô tay Việt Nam) số 22 – tháng 7/2009. Tác giả tự dịch sang tiếng Việt. Xem nguyên văn dưới đây

Note de lecture

La mer et les martins-pêcheurs

Des cinq romans que Bùi Ngọc Tấn a écrits, La mer et les martins-pêcheurs est le seul à parvenir jusqu’au public sans trop d’incidents. Les trois premiers, achevés dans les années 1960, ont été saisis à l’état de manuscrit et partant, n’ont pu jamais vu le jour. Le quatrième, Histoire à raconter en l’an 2000, qui lui a valu le surnom de Soljénitsyne vietnamien, a été retiré de circulation et détruit une semaine après sa parution.

La mer et les martins-pêcheurs, salué par certains critiques littéraires comme la meilleure sortie de la saison, est l’histoire de la déconfiture d’une entreprise d’État de pêche maritime. D’une structure franchement non-linéaire, sans intrigues ni protagonistes, ce roman de quelque 500 pages étale pêle-mêle des bribes de vie des salariés d’un établissement d’État  qui se cramponnent tant bien que mal à la boîte en danger de naufrage. Des histoires cocasses qui font rire et pleurer à la fois. De pauvres hères – employés, gratte-papiers, marins… –  qui se démènent à droite et à gauche, usant désespérément de toutes sortes d’expédients minables pour joindre les deux bouts et survivre à la débâcle. Un fouillis de caractères pourtant bien campés, parfois même sculpturaux, qui se fondent en une masse amorphe, à travers laquelle transparait le déclin inéluctable d’un système.

Une épopée de la désagrégation, je suis tenté de dire.                                                                           

DƯƠNG TƯỜNG

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Nguyễn Thị Minh Phương

(Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đang ở Boston theo lời mời của Trung tâm William Joiner (WJC) Cùng đi với anh có Họa sỹ Phan Cẩm Thượng. Theo lời anh Tấn thì anh Nguyễn Bá Chung ở WJC đã “dấm” anh Phan Cẩm Thượng cho anh từ mấy năm nay. Bởi anh Chung biết, nếu phải đi một mình nửa vòng trái đất thì chưa chắc anh Tấn đã dám “dấn thân”. Bài viết dưới đây là nguyên văn một lá thư điện tử của chị Nguyễn Minh Phương – Nghiên cứu sinh tại Đại học Massachussetts. Chị viết ngay sau khi nghe anh Tấn thuyết trình tại cuộc hội thảo do WJC tổ chức. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc để hiểu thêm về tác giả Chuyện kể năm 2000)

Boston, 24/04/2009

Tôi thường có thói quen “google” bất kỳ một nhân vật nào tôi chuẩn bị gặp hoặc đã gặp mà chưa rõ về họ. Lần này tôi không may mắn: không tìm được cuốn sách của Bùi Ngọc Tấn trên mạng Internet. Vì thế, tôi không có bất kỳ một nhận thức nào về con người ông, không hay biết về số phận long đong, cái kiếp tù đày của ông, ngoài một chút thông tin ông là tác giả của cuốn sách “Chuyện kể năm 2000”, chưa xuất bản đã bị cấm.

Năm 2000, thiên niên kỷ mới đến với tôi với quá nhiểu sự kiện (trong tử vi có nói, tôi sẽ “bước lên bậc thang mây”) vì thế, những câu chuyện “bung ra” của thời mở cửa không còn hấp dẫn tôi như hồi cuối thập kỷ 80, và đầu những năm 90, trong những ngày sống ở Úc khi tôi cặm cụi đọc “Hoa xuyên tuyết” của Bùi Tín, “Tiểu thuyết vô đề” của Dương Thu Hương, “Hoa địa ngục” của Nguyễn Chí Thiện, chủ yếu  để thỏa chí tò mò. Tôi nghĩ, chắc lại một ông bất mãn nào đó “tát nước theo mưa” đánh bóng tên tuổi trong phong trào đổi mới… Và nước Mỹ đón chào tôi, tiếp theo là những năm tháng lận đận, long đong, lang thang xứ người. Tôi không mấy bận tâm đến “chuyện kể năm 2000” vì chuyện của riêng mình cũng đã quá chật trong bộ nhớ tí tẹo của tôi.

Khác với những gì tôi hình dung về ông, một gã bất mãn, phong trần ở độ tuổi 50, ngông nghênh, chỉ thích chửi bới thiên hạ như Dương Thu Hương (trước đây tôi có cảm tình với người đồng hương này, sau khi đọc xong “đỉnh cao chói lọi” tôi thấy bà ta thấp hèn và kém cỏi, nhưng thôi, sẽ nói về cuốn sách ngớ ngẫn này vào dịp khác), trước mặt tôi là một người đàn ông giản dị, khiêm nhường, vẻ mặt hiền lành, có phần “cam chịu”, như trong bài thuyết trình của ông sau đó ông gọi chính ông là người “cam chịu lịch sử”.

Tôi tìm đến từng học giả của chương trình nghiên cứu về văn hóa, văn học, nghệ thuật do Quỹ Rockerfeller tài trợ thông qua hoạt động của Trung Tâm William Joiner, trung tâm nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả xã hội, để chào xã giao. Buổi sáng quá bận rộn nên chỉ đến giờ ăn trưa, tôi mới có dịp làm quen. Ông đáng tuổi cha chú vì đã thuộc lớp người “xưa nay hiếm” nên tôi gọi ông bằng BÁC, xưng cháu, nhưng trong nụ cười hiền của ông có cái gì rất thuần khiết, trong sáng, và rất trẻ, ông xưng ANH với tôi và với phong cách “rất Mỹ” tôi hỏi ông thích tôi gọi bằng ANH hay là CHÚ… Tôi gọi ông là “anh Tấn”.

  IMG_4049

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và tác giả bài viết
Tôi rất vui được ngồi cạnh ông, cùng cười khi nghe Phan Cẩm Thượng tỉnh bơ kể chuyện “phụ nữ không có vú” sống trong thời kỳ “không có tình dục” và nỗi ẩn ức, sự bùng nổ của cái món nảy sau nhiều năm bị dồn nén (Trộm vía, chắc PhCTh cũng có ẩn ức nên mới vào chùa vẽ tranh, thỉnh chuông, nghiên cứu nghệ thuật dân gian, kể ra “ẩn ức” như vậy cũng giúp ích cho đời, vì nếu không, làm sao có những tác phẩm nghệ thuật cho chúng ta được thưởng thức). Ông cười khùng khục bình luận “làm sao mà PhCTh lai quan sát được những phụ nữ phẳng lì khi họ đang tắm”. Ông bảo sẽ có một tập truyện nữa ra đời gọi là “Những câu chuyện của Phan Cẩm Thượng”, điều này làm tôi rất ngỡ ngàng, vì tôi biết các nhà văn ít khi phục tài người khác… tôi đã có kinh nghiệm nghe các nhà văn trẻ chê bai lẫn nhau, làm cho hình ảnh lung linh vể các “thiên tài văn chương” của nước nhà đã sụp đổ trong tôi. Nụ cười hiền của ông, và câu nói “cái thằng này nó quậy lắm” kèm theo “cái thằng này tốt lắm, không có nó thì anh không thể đi sang đây được”, làm tôi rất thích nói chuyện với ông, đơn giản vì ông không giống các nhà văn tôi đã gặp, ông là NGƯỜI.

Tôi hỏi ông vể chuyến bay từ Hà Nội sang đây, một câu xã giao thông thường mà người Mỹ hay hỏi “Chuyến bay của bạn ra sao?” và họ chờ đợi một câu trả lời là “Cám ơn bạn, chuyến bay tuyệt vời”. Nhưng câu trả lời của ông làm tôi sửng sốt, bối rối vì tôi bay hàng triệu km không biết mệt mỏi, vì tôi không tật bệnh, vì tôi chưa từng phải ở tù. Ở cái tuổi “bước lên bậc thang mây” của tôi, thì ông lại bị lang thang hết nhà tù này đến nhà tù khác. Tôi cảm thấy mình như có lỗi với ông, vì số phận quá nuông chiều tôi, dẫu Thượng đế đã và sẽ bắt tôi phái chịu cảnh mù lòa, thì tôi vẫn là người quá may mắn, quá hạnh phúc.

“Nhất định phải đến nghe anh Tấn nói chứ!” Ông bảo tôi thế. Nhất định rồi! Tôi rất háo hức, nhưng đến khi nghe ông nói, tay tôi cứ run bần bật, ghi chép câu được câu mất vì tôi quá xúc động. Tôi mới chỉ bị cái bộ máy đó nó “dần cho một trận” và tước đoạt quyền lao động trong một thời gian ngắn, mặc dù không chính thức và tôi có thể kiện bất cứ lúc nào, vậy mà tôi đã thấy kiệt sức. Không được đi làm ở tuổi 39 như ông vào cái năm 73, thì ông làm sao mà sống được. Năm 2003, tôi đã bị Trường BKHN giữ tiền lương của tôi, nhưng tôi thiếu gì cách kiếm sống, không những thế, tôi sống rất đàng hoàng. Từ đó đến nay, ông sống bằng gì? Tôi cứ băn khoăn làm sao ông có thể sống được với nỗi ám ảnh, với những hồi ức khó chấp nhận của những năm tháng mất tự do. Tôi luôn nghĩ đến câu nói của GS T. rằng “điều tôi chán nhất là từ sáng đến tối phải viết một điều là nhận cái tội mà mình không hề làm ra”. Tôi quen được tự do suy nghĩ, nên nếu không được nghĩ một cách tự do chắc tôi hóa điên. Tôi quen với việc mọi sự phải rạch ròi, minh bạch, nên việc bỏ tù không xử án là một điều không thể chấp nhận được. Thật là bi kịch, vì tôi không thích hợp với hệ thống đó. Lạ thay, người như ông, bình thản, chấp nhận số phận, nhìn lại quãng đời đau thưong, ghi chép, kể lại cho mọi người, nhẹ nhàng như tôi kể chuyện đi làm ở bệnh viện cho các con tôi nghe.

Tôi rùng mình, một luồng khí lạnh buốt chạy qua cơ thể tôi khi ông nói: “Bỏ tù dăm ba người, chục người, trăm người vài năm, chục năm có ý nghĩa gì đâu so với việc buộc thủy lôi vào tàu quân sự, chỉ một phát hiện nhỏ từ phía bên kia là cả con tàu phải thành cát bụi và chìm vào biến khơi”. Tôi cứ băn khoăn làm sao cũng là người mà số phận của những người dân mình nó lại bé nhỏ hơn cả con sâu cái kiến. Và ông, người ngồi trước mặt tôi, lớn lao là thế, nhỏ nhoi là thế, hiền lành là thế, nhân hậu là thế, mà sao số mệnh lại long đong thế? Phải chăng có kiếp trước? Phải chăng cụ Nguyễn Du vẫn đúng “chữ TÀI liền với chữ TAI một vần”.

Cả chiểu nay, tôi lang thang trên đường phố thanh bình, nắng nhẹ như Hà Nội mùa thu, tôi đi mua quần áo mới, uống café bên bờ sông Charles, nhưng trong lòng nặng trĩu những xúc cảm không dứt được về thân phận con người, mà ông là đại diện của những người “khổ vì trí tuệ” (Tên một cuốn sách của nhà văn Nga). Tôi muốn được nói chuyện thêm với ông. Tôi rất vui được ông khen là con gái Bắc Ninh “mỏng mày hay hạt” và rất thông minh… Tôi được nghe những câu như thế nhiều lần. Nhưng tôi rất thích được nghe câu đó của ông, có lẽ bởi vì những nhọc nhằn, gian khó, tù đày không làm mất đi cái tình người, tính người trong ông, cái nhân hậu, dí dỏm vẫn còn nguyên đó… Tôi nhớ đến bố tôi, nhớ lắm cái gương mặt cam chịu của ông. Phải chăng, ông cũng thuộc loại người “cam chịu lịch sử” như nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói hôm nay, cho dù ông chẳng bị đi tù.


Nguyễn Thị Minh Phương (nguồn: http://guihuongchogio.vnweblogs.com/post/4523/151527)

 

Tôi viết về những người cam chịu lịch sử

(Phần trình bày của Nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại William Joiner Center, ngày 26/4/2009)

Lịch sử một đất nước, một dân tộc thường được biết đến như lịch sử những cuộc chiến tranh. Lịch sử Việt Nam càng chứng tỏ điều ấy. Những cuộc chiến tranh chống phong kiến phương Bắc (Trung Hoa), những cuộc chiến tranh với Chiêm Thành, và những cuộc chiến tranh “mở mang bờ cõi”. Đó là chưa kể những cuộc nội chiến như Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài bao nhiêu năm tháng.

Chỉ trong thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam đã trải qua bốn cuộc chiến tranh: Chiến tranh chống Pháp, chiến tranh Nam Bắc và chống Mỹ, chiến tranh chống Pôn Pôt ở biên giới Tây Nam và chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc.

Chiến tranh đã kết thúc trên 30 năm, đã lùi xa. Đã được tổng kết, sẽ còn được các bên tham chiến tiếp tục tổng kết. Tổng kết và vinh danh những người đã ngã xuống. Nước Mỹ dựng bức tường Việt Nam, ghi tên hơn 5 vạn binh sĩ hy sinh. Và ở Việt Nam, biết bao đơn vị anh hùng, cá nhân anh hùng đã được tuyên dương…

Tôi muốn đề cập đến một mặt khác của chiến tranh, chính xác hơn là nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt, chưa từng được nhắc đến trong các cuộc tổng kết, các buổi hội thảo, những người tham gia chiến tranh bằng việc đi tù. Những người đóng góp vào cuộc chiến không phải bằng sinh mạng của mình mà bằng tự do của mình. Với kinh nghiệm sống trong một đất nước liên tiếp có những cuộc chiến tranh, tôi hiểu chiến tranh không chỉ đến một mình. Bao giờ nó cũng có một người bạn đồng hành: Nhà tù. Đó là người anh em sinh đôi của chiến tranh.

Trong chiến tranh, việc gìn giữ hậu phương là vô cùng quan trọng. Hậu phương là gốc rễ, là cội nguồn, là căn cứ bảo đảm sống còn cho tiền tuyến, cho chiến đấu và chiến thắng.

Khẩu hiệu: Dù phải đốt cháy dẫy Trường Sơn cũng vẫn chiến đấu tới thắng lợi hoàn toàn đã thể hiện rõ quyết tâm của miền Bắc giành chiến thắng bằng bất kỳ giá nào. Sự có mặt của 50 vạn sĩ quan và binh lính Mỹ cùng quân đội các nước đồng minh như Nam Triều Tiên, úc… tại miền Nam Việt Nam đã đẩy miền Bắc Việt Nam vào những năm tháng cực kỳ gay go gian khổ: Dốc toàn bộ nhân lực, vật lực, hy sinh tất cả cho cuộc chiến.

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt này, miền Bắc thực hiện chủ trương pha lê hoá hậu phương. Những người đã từng cộng tác với Pháp, với Mỹ, những người có biểu hiện thiếu lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, những phần tử đáng ngờ, những kẻ trộm cắp, du thủ du thực…, tóm lại tất cả những gì là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hoá, đều bị tập trung cải tạo và đó được coi là một biện pháp không thể thiếu. Hơn nữa, nó còn có ý nghĩa răn đe những người khác, hướng tất cả vào mục tiêu chung.

Tổng kết về một cuộc chiến tranh không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dù là sự tự hào nhục nhã.

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử.

Lịch sử phải viết về họ.

Văn học phải viết về họ.

Thiết tưởng cũng cần nhắc lại ở đây quan điểm của Albert Camus về nhà văn và nghề văn được bày tỏ trong diễn từ nhận giải Nobel văn học tại Stockholm (Thuỵ Điển) ngày 10 tháng 12 năm 1957, cách nay hơn nửa thế kỷ: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây không thể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch sử. Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình. Tất cả những đạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta ra khỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ. Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏ mặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi, giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Chính với những suy nghĩ như vậy tôi đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.

Cuộc đời sáng tác của tôi chia ra làm 2 thời kỳ:

1-Thời kỳ đầu tiên: Từ năm 1954 tới tháng 11 năm 1968, nghĩa là từ lúc bắt đầu nghề viết văn tới khi tôi bị bắt đưa đi tập trung cải tạo.

Trong thời kỳ này, những sáng tác của tôi đều ca ngợi con người mới cuộc sống mới, ca ngợi Đảng Cộng Sản Việt Nam, ca ngợi những người làm ra lịch sử. 14 năm đầu tiên, tôi viết theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, mô tả cuộc sống dưới sự lãnh đạo của Đảng, đang phát triển, đang đi lên, một xã hội không có bi kịch như nhà thơ Tố Hữu, người lãnh đạo văn nghệ Việt Nam đã khẳng định.

2-Thời kỳ thứ hai: Từ năm 1990 tới nay.

Đây là thời gian tôi viết về những người cam chịu lịch sử, về những thân phận bé nhỏ, về những người cố gắng tồn tại giữa những bánh xe của lịch sử, đặc biệt là những phận người rơi vào thảm cảnh tù đầy, những người chịu sự khinh bỉ của xã hội.

Về hai thời kỳ này của tôi, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên (Viện Văn Học VN) đã có một cái nhìn tổng thể như sau:

Năm 1995, sau 27 năm bị ngắt tiếng, “bị văng ra ngoài quỹ đạo”, Bùi Ngọc Tấn đã từ một hiện thực khác trở về. Và văn ông bây giờ là nói về một hiện thực khác và từ một hiện thực khác mà nhìn lại. Viết hồi ức, chân dung, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhân vật chính trên các trang văn của Bùi Ngọc Tấn là chính ông và những người bạn cùng thế hệ được soi chiếu từ hai phía của một khoảng thời gian đã thành vạch phân cách đời người đời văn: 5 năm (1968-1973). Con dấu đóng giáp lai văn nghiệp Bùi Ngọc Tấn mang số hiệu CR 880 (CR 880 là số tù của tôi-BNT).

Thời kỳ viết văn thứ hai tới nay, tôi đã công bố hai tập truyện ngắn, hai tập hồi ký và hai quyển tiểu thuyết.

Những truyện ngắn của tôi đều viết về “những người cam chịu lịch sử”:

Một người có công với cách mạng bị nghi vấn, tất cả bạn bè đều xa lánh anh ta. Quấn quít trung thành với anh ta chỉ còn một con chó.

Một chị gái điếm chuyên phục vụ đám ăn mày.

Một anh tù bị giải đi trong một ô xà lim bịt kín trên xe com măng ca, trên một quãng đường 30 km nhưng từ sáng đến tối mới tới nơi, cực kỳ hoang mang vì những người áp tải thỉnh thoảng lại dừng lại để bắn chim mà anh ta không biết vì sao.

Một anh tù đi họp hội trường, gặp lại thầy cũ bạn cũ, từ dưới đáy xã hội, anh ta trở lại bậc thang học giỏi nhất lớp của mình. Nhưng khi cuộc họp mặt vừa tan, anh ta đã trở về vị trí “phó người”trong xã hội.

Một giám đốc bị bắt oan, vào tù bị “đầu gấu” đánh đập và bắt khoả thân đứng làm Nữ thần Tự Do, khao khát được như những người khác là chăn và giữ mấy con kiến trong một vòng tròn trên nền buồng giam nhưng không được “đại bàng” cho phép. Chỉ đến khi ra tù ông mới có thể thực hiện khát vọng ấy: Cài trái cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy ra một lọ nhỏ, trong đựng 4 con kiến, thả lũ kiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên bàn. Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấy những các vidit (có rất nhiều trong ngăn kéo- của khách và của ông) chặn chúng lại. Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc. Và khoả thân trên ghế. Đứng thẳng. Mắt hướng về phía xa. Tay giơ cao. Như nữ thần Tự Do.

Tôi xin phép được nói một chút về quyển tiểu thuyết Chuyện Kể Năm 2000 của tôi. Đó là bộ tiểu thuyết của đời tôi, bộ tiểu thuyết mang đậm chất tự sự của tôi. Chuyện một nhà báo đồng thời là một người viết văn mang tên Nguyễn Văn Tuấn bị bắt tập trung cải tạo trong thời gian chiến tranh chống Mỹ (1968-1973).

Cuộc sống trong tù của anh ta không có gì đáng nói ngoài nỗi đau ê ẩm gặm nhấm tim anh. Đó là một chuỗi dài những ngày xam xám, nhờ nhờ, bợt bạt. Như thứ ánh sáng lọt qua lỗ thông hơi vào xà lim những buổi chiều tà. Anh tù mười ngày cũng như anh tù mười năm. Một hiện tượng buồn thảm lặp đi lặp lại. Cuộc sống tẻ nhạt đơn điệu càng đơn điệu, tẻ nhạt vì không ai tin ai. Người tù này nhìn người tù khác bàng con mắt nghi ngờ. Ai cũng có thể là ăng ten, là chỉ điểm. Không ai cởi mở cùng ai. Bụng cứ liền rốn. Mỗi người là một vòng tròn khép kín. Thật khó viết. Rất dễ nhạt. Tôi cố gắng vượt qua khó khăn ấy, nói lên điều ghê sợ ấy trong cuốn tiểu thuyết của tôi. Nó bàng bạc khắp trong quyển truyện.  

Rất khó cho tôi khi muốn kể lại nội dung Chuyện Kể Năm 2000. Đây là một cuốn tiểu thuyết không có cốt chuyện, chỉ có thể trực tiếp đọc nó. Đây là những cuộc đời bất hạnh tồn tại bên nhau, mỗi người mang một nỗi niềm riêng, một hoàn cảnh riêng, một lý do riêng để đến với nhà tù. Nhưng nội hàm của nó rộng hơn nhiều. Đằng sau các nhà tù, là cả một xã hội thời chiến tranh gian khổ khó khăn, thiếu thốn. Là cách quản lý xã hội thời chiến trong những ngày gay go ác liệt nhất, nghĩa là một nền chuyên chính vô sản được nâng lên một cấp độ mới. Bị nghi có những tuyên truyền chống Đảng Cộng Sản, nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Tuấn bị biệt giam xà lim, rồi lê chân hết nhà tù này đến nhà tù khác. Gần 5 năm sau, Tuấn được tha, không kết án, không buộc tội. Cuộc sống hậu tù của Tuấn gay go không kém những ngày sống trong tù. Nhất là khi ông trưởng công an quận gọi anh ta ra đồn, tuyên bố thẳng:

-Chúng tôi không cho anh đi làm. Tôi đã chỉ thị cho tiểu khu rồi. Tiểu khu không cấp giấy cho anh.

Sống dưới đáy xã hội, Tuấn nghiền ngẫm công lao của hắn đã đi tù để góp vào chiến thắng, và âm thầm giữ trong lòng nỗi “tự hào nhục nhã” của mình. Hắn có những thói quen mới: Ngồi ở đâu cũng cố ngồi thu nhỏ lại, gãi tai, nói chuyện với ai cũng gãi tai, kể cả nói chuyện với con, và không thể nào quên được những ngày tù tội. Thế rồi “điều khủng khiếp nhất đã đến với hắn suốt một thời gian dài sau đó. Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ. Nhìn những người trên đường, hắn giật mình: “Quái nhỉ, ở trại nào nhỉ. Quen quá. Không biết đã gặp ở đâu rồi. Được về bao giờ nhỉ”.

Đó là một cảm giác kỳ lạ. Hắn luôn gặp những khuôn mặt tù quen quen. Những khuôn mặt tù ngờ ngợ. Không biết ở trại nào. Hẳn họ cũng như hắn. Mới được ra trại. Thoạt đầu hắn cho là hắn mắc bệnh quên. Trí nhớ hắn suy giảm, nên hắn không nhớ được những người bạn tù ấy. Nhưng rồi hắn giật mình: “Chẳng lẽ nhiều người đi tù về đến thế? Đất nước lắm người đi tù đến thế?”

Và hắn hoảng lên: “Mình hỏng mất rồi! Đầu óc mình hỏng mất rồi!”

Cùng với Tuấn là già Đô, một Việt kiều sống tại Pháp, bỏ cả người vợ Pháp và cô con gái nhỏ, nghe theo tiếng gọi của Tổ Quốc về Việt Nam, xây dựng đất nước. Già bị tập trung cải tạo vì đã thẳng thắn đấu tranh với cấp trên, và khi bị đuổi việc lại mắc thêm một sai lầm nữa: Đấu tranh theo kiểu Pháp. Ngồi ngay ở cổng xí nghiệp, tay cầm một miếng gỗ dán vuông, có cọc cắm, trên miếng gỗ dán già viết dòng chữ: “Phản đối giám đốc xí nghiệp vô cớ sa thải công nhân.” Đó là một hình thức đấu tranh không thể chấp nhận trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Thế là già vào tù. Khi được tự do, già về nhà Tuấn đã ra tù trước già một năm. Hơn hai chục năm già mới lại được sống trong không khí một gia đình, mới được ôm một đứa trẻ vào lòng. Già gặp con Tuấn, một đứa bé lên năm (cũng trạc tuổi cô con gái bé bỏng của già bên Pháp khi già về Viêt Nam).

“Già bế bé lên, hít mùi thơm của đứa trẻ. Trong giây lát già tưởng như mình đang ở Mác xây hai mươi năm trước. Ôi! Mùi của trẻ thơ. Già nhận ngay ra nó. Đã mấy chục năm già vẫn nhận ngay ra nó. Dù ở Địa Trung Hải hay ven Thái Bình Dương thì cũng giống nhau cả mà thôi.”

Không chỗ nương thân, không còn con đường kiếm sống, già viết đơn xin trở lại nhà tù nhưng không được giải quyết. Già đi ăn cắp với hy vọng được tập trung cải tạo lần thứ hai, nhưng không ai bỏ tù già. Thật là thất bại thảm hại. Già vào mậu dịch vét thức ăn thừa, già đi bới rác. Và già chết cô đơn trong một ngôi đình hoang vắng.

Quyển tiểu thuyết của tôi có Giang Văn Giang, con trai một liệt sĩ anh dũng hy sinh thời chống Pháp, trở thành trẻ bụi, ăn cắp, đánh nhau, được đưa vào trường Kim Đồng, nơi học tập cải tạo các thiếu niên hư hỏng. Nhưng chính tại đây, từ chỗ chỉ quen biết một số bạn phố Bờ Sông, Giang đã quen hầu hết bọn thiếu niên hư trong thành phố và lại đi tù tiếp.

Còn có Sáng một thanh niên nông thôn, bị chính quyền xã ghét đưa đi tập trung cải tạo, 5 lần vượt ngục đều không thoát.

Còn có Nguyễn Văn Phố, một chiến sĩ quân báo của quân đội cách mạng, bị tình nghi là gián điệp cho Mỹ, tù 18 năm với câu nói thản nhiên làm Tuấn rợn người:

-Tôi đi tù năm vợ tôi 33 tuổi, năm nay vợ tôi 51 tuổi rồi.

Còn có Chí Lồng Sếnh, một anh tù người dân tộc, gần như không nói, không cười, chỉ im lặng lao động, bỗng một đêm nằm trong buồng giam, nghe tiếng nai gộ ngoài thung lũng, trở mình nằm sấp, nhìn ra bìa rừng ánh trăng bàng bạc, nói một mình:

-Con nai về ăn lá sắn non đấy.

Nỗi nhớ nhà, nhớ vợ con, làng bản chỉ gói gọn trong một câu ngắn ngủi ấy.

Còn có Nguỵ Như Cần tù hơn hai mươi năm, trông ao cá, một người sống giữa rừng đã gần biến thành cây cỏ.

Tôi không tra tấn độc giả bằng những cảnh đời xám xịt u tối tuyệt vọng suốt 800 trang sách. Theo sự đánh giá của đông đảo độc giả, Chuyện kể năm 2000 còn là quyển tiểu thuyết của tình yêu, tình yêu con người và tình yêu đôi lứa. Tôi đã cố gắng diễn đạt tình thương giữa những người tù trong những trang viết về Tuấn và Giang, về già Đô với Tuấn, về món quà tặng của Lê Bá Di cho Tuấn: Một bãi phân trâu. Cũng như tôi đã nói lên được phần nào tình bạn giữa Tuấn và những người cùng nghề nghiệp văn chương như Lê Bàn, Vũ Mạc, Lê Bình…

Và tình yêu giữa Tuấn và Ngọc, một tình yêu chỉ có trong những năm xã hội tốt đẹp sau chiến thắng chống Pháp 1954 với những đôi trai gái lãng mạn nồng nhiệt đắm say. Đây là ngày Quốc Khánh mùng 2 tháng 9 của họ:

Quốc khánh mùng 2 tháng 9, dậy từ lúc thành phố còn đang ngủ. Náo nức. Đứng ở cửa chờ Ngọc. Nhìn sang cánh cửa bên kia đường vẫn khép. Rồi nàng mở cửa nhẹ nhàng bước ra. áo dài trắng, quần trắng, đồng phục của trường đi đón ngày quốc khánh. Hai đứa nắm tay nhau đi trên đường phố vắng tanh. Không một bóng người. Như thành phố dành riêng cho ta. Vẫn chưa thể quen được với ý nghĩ mình có cả một người con gái để mình yêu quý. Có tên của người ấy để mình lên tiếng gọi. Cám ơn về tình em yêu anh. Cám ơn mẹ cha, mẹ cha sinh em ngày ấy để cho anh mười chín năm sau đó. Để bây giờ em là của anh. Để em đi bên anh và để anh yêu. Đi đâu bây giờ em? Còn sớm quá. Em dịu dàng và tinh khiết như bầu trời đêm trước lúc rạng đông này. Phố Tô Hiến Thành trong mơ. Ra tới phố Huế vẫn là trong mơ. Tay trong tay đi mãi trong phố vắng. Kia rồi một cửa hàng vừa mở. Mình và Ngọc là những người đầu tiên bước vào hiệu. Uống cà phê sữa. Nhìn nhau. Rồi chia tay khi trời rạng sáng. Nàng đi tới trường. Mình đến Ba Đình trong khối các cơ quan trung ương.

Buổi trưa nàng lại sang. Nàng đã tắm gội, tươi tắn lạ thường. Đến chiều hai đứa ra bờ hồ Hoàn Kiếm, tìm một chỗ ngồi từ lúc mặt trời vừa lặn để xí một chỗ cho đến tối. Để bảo đảm được nhìn thấy pháo hoa trên hồ. Những chùm pháo hoa trên bầu trời mịn như nhung có lẽ là những gì đẹp nhất, kỳ ảo nhất mà con người sáng tạo ra. Mình vừa ngước nhìn pháo hoa vừa quay lại nhìn nàng. Nàng mở to mắt nhìn trời. Cặp mắt nàng, gương mặt nàng với bao mầu sắc của pháo hoa ngày hội lướt qua. Nàng còn kỳ diệu hơn, xinh đẹp hơn mọi chùm pháo hoa đẹp nhất.

Và đây cuộc sống của họ sau khi kết hôn:

Ngồi bên giấy trắng. Một hạnh phúc tuyệt vời. Ngọn đèn chiếu một ô sáng. Cẩn thận hơn, hắn lấy một tờ báo, khoanh thành cái bù đài, úp chụp xuống để khỏi làm chói mắt vợ con đang nằm trong màn. Khi vợ con hắn đi nằm là lúc hắn ngồi bên giấy trắng. (…) Ngày đi làm, đêm hắn viết. Hắn có thói quen thức khuya. Hạnh phúc là được thức khuya trong yên lặng. Hạnh phúc là những dòng chữ kín từng trang. Là bóng tối mờ mờ trong phòng, và ở một góc buồng, màn buông, tiếng vợ con thở nhẹ nhàng trong giấc ngủ. Hạnh phúc là lúc đêm khuya cặm cụi, bỗng cảm thấy có người đứng sau lưng. Buông bút. Ngả người trên ghế, đầu đã chạm ngay vào ngực vợ. Linh cảm không nhầm.

Nàng đứng sau lưng tự bao giờ. Nàng đứng im lặng nhìn mình làm việc. Nàng đưa tay ép nhẹ đầu mình vào ngực nàng. Đầy đặn. ấm. Mềm. Mình dụi đầu vào đó và ngước mắt nhìn lên, thấy rõ dưới cằm nàng có một vết sẹo nhỏ, chỉ nhìn từ góc độ ấy mới thấy, vết sẹo khi nàng còn bé tí, bị vập vào miệng chum nước. Đứng phía sau, nàng ấp hai tay vào cằm mình, thì thào:

-Đói không?

Gật đầu. Thế là hai vợ chồng khoá trái cửa, để con ngủ trong màn, đi ăn phở khuya. Ông hàng phở Ngã Bẩy quen.

Bộ tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của tôi được nhà Xuất bản Thanh Niên, cơ quan của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản VN in, chưa phát hành đã có quyết định cấm, bị thu hồi tiêu huỷ. Nhưng nó vẫn được in chui hàng năm ròng sau đó với số lượng mà hiện nay chưa thể thống kê được (chỉ riêng một người bán sách ở Hà Nội cũng đã bán 1000 bộ) cũng như đã được đưa lên mạng để in và phát hành ở nước ngoài. Ngay lập tức quyển tiểu thuyết đã gây chấn động, trở thành sách bán chạy nhất dù phải bán chui ở trong nước và best seller trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Theo chỗ tác giả của nó được biết ở Canada, nhà xuất bản Thời Mới (Toronto) in 3 lần liên tiếp. Tác giả đã trông thấy 5 bản in khác nhau của 5 nhà xuất bản ở Mỹ. Tại Đức, có 2 bản in khác nhau. Tất cả các báo của cộng đồng người Việt trên các lục địa đều đăng tải dưới hình thức feuilleton. Đài BBC đã để ra 3 tháng đọc Chuyện kể năm 2000. Tôi đã nhận được hàng nghìn bức thư chia sẻ của những người Việt Nam và cả những người ngoại quốc từ các lục địa Châu Âu, châu Mỹ, châu úc và châu á. Tạp chí PEN International của Hội Văn bút Quốc tế đã trích đăng một chương. Tác giả của nó được vinh dự là hội viên danh dự của Hội Văn Bút Quốc tế và hội viên danh dự Hội Văn Bút Canada. Biết bao bạn đọc trong nước, ngoài nước đẫ đến với tôi. Họ cám ơn tôi và nói rằng tôi đã nói giúp họ những điều họ hằng suy nghĩ nhưng không nói được. Trong buổi tôi nói chuyện ở Viện Goethe Hà Nội, nhiều bạn đọc cảm động, khóc nức nở không nói được nên lời. Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên viết:

Bùi Ngọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu. Hình như đây là kết quả của sự kết hợp bản tính người và trải nghiệm đời nơi ông. Sau những gì đã xẩy đến với ông, nếu văn ông có giọng cay độc, chua chát cũng là điều dễ hiểu. Nhưng không! Ngay cả sự trầm tĩnh đôn hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng mình, tỏ vẻ. Ông đưa lại cho người đọc những dòng văn tự nhiên dung dị, khi những oan trái khổ đau lặn vào sau câu chữ làm nên sức nặng, chiều sâu của những điều được viết ra. Một giọng điệu văn chương làm người đọc hiểu ông, tin ông, đồng cảm với ông và cùng ông đồng cảm với những phận người, những kiếp bụi nhân sinh. Cao hơn chuyện văn chương là chuyện cuộc đời. Bùi Ngọc Tấn là nhân vật của văn ông và đồng thời ông cũng là tác giả của những điều ông viết ra. Đó là văn chương của sự thật(…)

Ông đã gánh cây thập ác đi trọn con đường trần ai của mình.

Không vứt xuống.

Không chạy trốn.

Không gục ngã.

Không dừng bước.

Và dẫu không là Chúa, ông đã được phục sinh.

Còn đây là những đánh giá của nhà văn Nguyên Ngọc:

“(…) Bùi Ngọc Tấn đã đi xa hơn được rất nhiều việc mô tả một tấn bi kịch cá nhân, thậm chí một bi kịch của chế độ – điều mà một số cuốn sách viết về nhà tù thường rất tập trung – để nói đến một tình thế phi lí của cuộc sống, và vô hình trung, cuốn sách trở thành như một thiên anh hùng ca, khiêm nhường mà cảm động về con người, con người có thể đi qua được tất cả những gì xấu xa đen tối nhất, đi qua tất cả bùn lầy, giữ vững chất người của mình chống lại tất cả những thế lực đen tối nhất muốn trừ tiệt chất người ở con người. Cuốn sách bị cấm, nhưng bằng nhiều cách vẫn được truyền tay đọc rộng rãi và tác giả của nó được sự kính trọng của toàn xã hội.”

Tôi cảm ơn tất cả các bạn đọc đã chia sẻ cùng tôi.

Cảm ơn trung tâm William Joiner đã tạo điều kiện để tôi có mặt ở đây hôm nay.

Cảm ơn các bạn đã có mặt cùng tôi tại đây.

B.N.T.


(Nguồn http://guihuongchogio.vnweblogs.com/post/4523/153925)

Gặp nhà văn Bùi Ngọc Tấn ở New York

Vũ Duy Mẫn

Tác giả “Chuyện Kể Năm 2000”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, vừa có chuyến đi làm việc ở Trung tâm William Joiner, Boston. Tuần qua anh ghé thăm New York, trên đường đi Washington DC và California. Đây là lần thứ hai tôi gặp, chuyện trò cùng anh, được biết thêm về nhà văn đáng kính, từng trải, nhân hậu, đầy trách nhiệm với những câu chữ của mình, và thật lý thú được hiểu thêm một suy nghĩ của nhà văn mà chưa bao giờ tôi nghĩ tới.

Trong bài nói chuyện nhan đề “Những người cam chịu lịch sử” nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói đến những người tham gia chiến tranh một cách đặc biệt. Do nhu cầu pha lê hóa hậu phương, tất cả những phần tử là vẩn đục so với yêu cầu trong như pha lê của một xã hội cần pha lê hóa, đều bị tập trung cải tạo. Khi tổng kết chiến tranh, không được quên những người đó. Họ đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng góp phần cao quý nhất của mình: Tự Do!

Dù họ chỉ là những người cam chịu lịch sử. Lịch sử phải viết về họ. Văn học phải viết về họ. Và với những suy nghĩ như vậy, anh đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn 20 năm im lặng.

 

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

 

Anh không được khỏe, không đi được nhiều, nhưng muốn tới thăm tượng nữ thần tự do, và tôi đã đưa anh đi. Mấy hôm đó trời trở lạnh, mưa suốt. Anh bảo, Bùi Ngọc Tấn đi thăm tượng nữ thần tự do thì trời sẽ đẹp. Trên tầu ra đảo, mưa rất nặng hạt, nhưng khi tàu vừa cặp bến, thì mưa tạnh, trời quang.

Anh vui đi trong dòng người, một buổi sáng đầu xuân ở New York.

 

 


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.