Suy nghĩ về Chuyện kể năm 2000 và Bùi Ngọc Tấn

Nguyễn Tiến Văn

Bằng kinh nghiệm viết văn nửa thế kỉ, bằng trí tuệ cảm thông với mọi mặt của cuộc sống, thu góp và chọn lọc thăng hoa những tình nghĩa và đau khổ của kiếp người Việt Nam, nhất là qua truyền thống nhân bản của dân tộc, làng xóm và gia đình, qua sự cảm thông của đạo bằng hữu, Bùi Ngọc Tấn đã kết tinh được những gì tốt đẹp nhất của một vận động lịch sử để ôn lại những tâm tình, cũng như những quá độ của một thời đang trở thành quá khứ chỉ còn là vang bóng, thành tích xưa cho kể chuyện.

Bùi Ngọc Tấn làm người ta liên tưởng đến nhà văn hàng đầu của Indonesia là Bramoedya Ananta Toer (sinh 1929-). Toer bị bắt năm 1965 khi chế độ quân phiệt Suharto thanh trừng Ðảng Cộng sản Indonesia và tận diệt lãnh tụ Aidit cùng với hơn triệu rưỡi đảng viên. ông bị đưa đi khổ sai trên hòn đảo Buru ngàn trùng cầm tù suốt 19 năm (bằng thời gian Tô Vũ chăn dê và quản thúc cho tới nay (12 “lệnh”). Không có giấy bút, sách báo, nhà văn Toer vẫn kiên trì thực hiện sứ mệnh nhà văn của mình. ông sáng tác trong đầu, sửa văn trong đầu, học đi học lại cho đến thuộc lòng tác phẩm của mình.

Bị tù chung với đám hình sự, ông lấy tác phẩm ra kể chuyện cho đám bạn tù nghe; tiếp nhận những phản ứng và đề nghị yêu cầu của họ, và lại nhuận sắc tác phẩm trong đầu. Trong hoàn cảnh của người tiền sử đồ đá đó, Toer đã nối lại truyền thống văn chương truyền miệng, và nhà văn bó buộc phải làm người kể chuyện, người gìn giữ trí nhớ và tiếng nói của bộ lạc. Ðám tù hình sự yêu quí ông, vì từ kiếp sống súc vật của những kẻ giết người, trộm cướp lường gạt… họ được tham dự vào văn hoá nghệ thuật – nghĩa là được làm người. Họ không chịu để ông khổ sai; gánh hết mọi lao động cho ông có toàn thời gian sáng tác. Và mỗi khi mãn hạn tù, mỗi thanh niên (phần lớn không biết chữ) này lại tình nguyện học thuộc lòng với ông một chương sách; để khi về với đời, người đó đọc lại như kể chuyện cho một người bạn thân của Toer chép lại thành văn bản; có lẽ cả thế giới chưa có ai sáng tác văn học công phu gian khổ và bất khuất như ông. Tiểu thuyết của ông hình thành trong quá trình cam go như thế có sự chân thành và kim cương của tuyệt cảnh. Bộ trường thiên Tứ khúc Buru của Toer đã bị nhà cầm quyền Indonesia tịch thu và huỷ diệt nhưng vẫn sống chui và dịch in ra trên toàn thế giớị Ngày nay, mỗi lần đại hội nhà văn mọi nơi, người ta lại để ảnh Premodya Ananta Toer ở vị trí cao quí và một ghế trống dành cho ông về dự trong tinh thần. Hàng năm, danh sách hàng đầu những người dự tuyển giải Nobel văn học bao giờ cũng có tên Toer.

Bùi Ngọc Tấn đã kiên gan trong 30 năm (1968-98) với tấm lòng chung thuỷ cùng lí tưởng, với tin tưởng không lay chuyển về nhân cách nhà văn, chắc đã viết đi viết lại nhiều lần trong đầu và trên giấy tác phẩm của mình, cũng như B. A Toer vậy.  Nhiều tác phẫm đã bị công an tịch thu, hàng ngàn trang bản thảo chữ li ti viết trên giấy mỏng, bằng những thì giờ tước đoạt đối với gia đình và bè bạn, trong những ngịch cảnh đe doạ ngay cả sống còn của bản thân.

Bùi ngọc Tấn, như chính ông tự bạch, đã qua một cơn mộng du cũng như đất nước đang tìm cách ra khỏi cơn ác mộng kéo dài hơn nủa thế kỉ, từ 1945.

CKN 2000 không chỉ là một văn bản, một tiểu thuyết. Ðó là tim óc của cả một con người tận tuỵ với cuộc sống cũng như văn chương. Chúng ta không được biết cụ thể công việc viết của tác giả. Thật đau đớn cho Bùi Ngọc Tấn và nhục nhã cho chúng ta khi phải thú nhận không có thông tin về một người đã suốt đời hiến thân cho xã hội và chữ nghĩa ngay trong nước và giữa thời đại thông tin điện tử. Thật xấu hổ khi biết rành B.A Toer hơn Bùi Ngọc Tấn.

Tuy nhiên, qua văn bản CKN 2000 chúng ta có được bằng chứng cụ thể là BNT ôm ấp nâng niu và trau chuốt tác phẩm này vài chục năm mới có được sự tinh ròng đó. Muốn thấy hết cái hay của văn. Phải đọc lên bằng miệng, nghe bằng tai như nge chuyện kể, như tác giả đã nhắn gửi, trong tựa đề. Nhịp đi của lời văn giống nhịp thở. Hãy thử nghe ngay đoạn đầu:

Có những điều hắn tưởng không bao giờ quên. Thế rồi hắn quên. Dù lúc xảy ra sự việc, hắn tự bảo: mình sẽ nhớ suốt đờị Làm sao quên được những điều đáng nhớ như thế. Ðó là những niềm vui hiếm hoị Là những sự đau khổ đến tê dạị Không. Không thể nào quên được. Thế mà hắn quên. Thỉnh thoảng hắn muốn ôn lại quá khứ. Hắn không sao nhớ được. Kinh nhất là những đau khổ tột cùng mà cũng quên luôn. Tất cả không hằn được một đường vào nếp nhăn đại nãọ Có lẽ những nếp nhăn ấy đã bị lấp đầy rồị Nên nó nhoè. Nó mang máng. Não hắn cứ bị những nhát búa dội vào đều đặn, liên tục. Nó lì .

Cách hành văn như thế là đã đổi mới. Sự đổi mới này chủ yếu nằm ở cấu trúc câu văn không phải thuần lí; cũng không bị ép trong một khuôn ngữ pháp để cho mỗi câu là một đơn vị hoàn chỉnh, phân tích được theo một diễn tiến đường thẳng. Cấu trúc ở đây là cấu trúc mạng: câu này và câu kia hô ứng với nhau và cuốn cả người nghe vào đó. Khoảng cách so với văn chương thời Tự lục văn đoàn (1932-1945) cũng sánh được khoảng cách từ Tự lực văn đoàn ngược trở lại thời cuối thế kỉ 19 của Trương Vĩnh Kí với Chuyện đời xưa hoặc Huỳnh Tịnh Của với Chuyện giải buồn là lúc phôi thai của văn học chữ abc và còn nguyên hơi hướm của truyền thống kể chuyện trong văn học truyền miệng.

Bùi Ngọc Tấn với CKN 2000 đã có đủ chiều dài thời gian mà bình tâm ôn lại đời mình, rút những bài học khổ đau qua được mất. ông chí tình tìm hiểu những cái hay cái đẹp của nền nếp xưa đã có một thời quá độ bị Tự lực văn đoàn kết án là bùn lầy nước đọng, lí toét xã xệ phải đoạn tuyệt để triệt để theo mớị Rồi lại bị Ðảng Cộng sản Việt nam gán cho nhãn phong kiến phải bài trừ. ông tôn trọng nhất là những người nạn nhân không có quyền thế, không có tiếng nói là những bà mẹ, những người chị, người vợ, và trẻ em.

Tuy tin vào lí tưởng của chủ nghĩa xã hội, Bùi Ngọc Tấn cũng đã tỉnh giấc mộng du để thấy rằng: lí tưởng nào mà trở thành giáo điều độc tôn cũng đều biến thiện ra ác, thiên đường ra địa ngục và những tín đồ cuồng tín thành đao phủ. Vì thế ông phê bình những chủ trương độc quyền chân lí, độc quyền ái quốc. Hình tượng của những người chống cộng như Nguỵ Như Cần, đại uý Kiều Xuân Vĩnh, sĩ quan đà Lạt… đến những đồng bào dân tộc ít người như Chí Lồng Sềnh kể cả những Việt kiều yêu nước như già Ðô đều được mô tả vừa sống động, vừa tôn trọng nhân cách; không bị thủ pháp truyền miệng xuyên tạc hoặc lăng nhục. Sự cảm thông sâu sắc và sự thể hiện trung thực với đời sống ấy của tác giả khiến những nhân vật của CKN 2000 gặp rồi là họ sống trong ta chứ không tan biến như những hình nộm của thứ văn chương phải đạo.

Chúng ta biết ơn Bùi Ngọc Tấn đã giới thiệu với chúng ta bao nhiêu là những con người độc đáo. Nền nếp nhân đạo cao, “thương người như thể thươngthân” của những Nam Cao, Nguyên Hồng, Trần Dần,… nay đã có người thừa kế và phát huy với tầm mức thời đại.

Nguyễn Tiến Văn
Toronto, tháng 4 năm 2000

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.