BÙI NGỌC TẤN – ÔNG NHÀ VĂN HÀNG XÓM

Hàng năm, cứ đến giao thừa là chúng tôi tập trung đón tết ở gia đình anh Mẫn – chị Hà. Trong số 5 anh chị em (đi từ Hà nội sang) làm việc cho Liên hợp quốc (UN) ở New York thì chỉ có anh chị Mẫn Hà là đã có nhà riêng. Anh Mẫn sang New York được gần 20 năm. Chúng tôi, người nhiều thì 6 năm, người ít thì chưa được 2 năm nên đều phải ở nhà thuê. Trong các bữa ăn như vậy bao giờ trẻ con cũng có trò chơi riêng ở phòng khách. Người lớn chúng tôi ngồi ở phòng ăn, uống trà và bàn chuyện nước nhà. Bao giờ cũng bắt đầu bằng các tin tức trên các tờ báo chính thống, sau đó đến chuyện văn chương, nghệ thuật…

Một lần, sau khi nói về cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh, anh Mẫn quay sang hỏi tôi: “Ở Hải Phòng em có biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn không?”. Quả thực là cho đến tận lúc ấy, tôi chưa từng nghe thấy tên ông ấy một lần nào. Anh Mẫn nói tiếp: “thế thì chắc là em chưa đọc cuốn Chuyện kể năm 2000 đúng không?”. Chị Hà đang pha trà cho mọi người, nói ngay: “Thế thì em phải đọc đi em ạ. Hay lắm đấy!”. Cần phải nói thêm, lúc còn ở Hà Nội, tôi cũng chịu khó mua sách hay để đọc. Ơn trời, lương của UN cũng cho phép chúng tôi mon men đến được với “văn hóa đọc” – một thứ “xa xỉ phẩm” với phần đông dân chúng. Từ khi sang NY làm việc, mỗi lần về chơi hoặc có người sang, tôi đều mang hoặc nhờ bạn bè gửi sách sang. Tủ sách của nhà anh Mẫn kê kín hai bên tường phòng ăn. Đủ các thể loại sách. Tôi và chị Hà thường hay trao đổi sách cho nhau. Trước khi chúng tôi về (thường là 1,2 giờ sáng), anh Mẫn đã tìm được một bản in trên khổ giấy A4 đưa cho tôi. Ở bên này, chúng tôi hay vào Talawas hoặc Việt Nam Thư quán, thấy có cuốn nào hay thì “in chùa” ra xem (thành thực xin lỗi các tác giả trong nước). Nếu bạn nào chưa đọc cuốn này thì cũng có thể vào các trang web trên để đọc. Cuốn sách này đã từng được in ra ở trong nước, nhưng ngay sau đó bị nghiền thành bột giấy vì tác giả dám đưa vào sách những vấn đề “nhạy cảm”…

Nếu tên tuổi nhà văn Bảo Ninh gắn liền với “Nỗi buồn chiến tranh” thì “Chuyện kể năm 2000″ của nhà văn BNT cũng là một điều tương tự. Đã có quá nhiều các nhà văn, nhà phê bình có tầm cỡ viết về cuốn sách rồi nên nếu tôi có quảng cáo thêm cho nó cũng chẳng có giá trị gì. Chỉ có điều cuốn CKN2000 đã làm cho tôi thực sự bị “sốc”. Giống như một người đang mò mẫm đi trong đường hầm tối bỗng nhiên bị lôi tuột ra ngoài ánh sáng. Mất phương hướng! Rạn vỡ niềm tin. (Thế thi xứng đáng bị nghiền thành bột giấy rồi còn gì!!!)Chính điều này đã thôi thúc tôi đi tìm gặp bằng được tác giả cuốn sách để hỏi cho ra nhẽ xem có bao nhiêu phần trăm sự thật trong đấy. Hơn nữa, càng đọc sách của ông tôi càng nhận ra những địa danh quen thuộc, quen đến nỗi như ông ấy là hàng xóm nhà mình…

Cuối cùng thì dịp may cũng đã đến. Nói đúng hơn là trong cái rủi có cái may. Tháng 3 năm 2006, ông xã tôi bị ốm. Đang cuối năm tài chính bận rộn tôi cũng vội vàng xin nghỉ phép về VN với ý định sẽ đưa ông xã sang bên này điều trị. Chuyến đi gói gọn trong khoảng 10 ngày vì tôi không yên tâm để cho hai đứa con “tự quản” mặc dù thằng anh gần 20 và con em gần 15 tuổi. Trước hôm tôi đi sang lại NY hai ngày, ông xã tôi thấy vợ có vẻ hỏi han, quan tâm đến ông nhà văn BNT mới “tiết lộ” có người quen có thể giới thiệu cho tôi đến gặp nhà văn. Lúc bấy giờ đã gần 7 giờ tối. Tôi giục ông xã gọi điện ngay…

Cô Hải – nhà báo đồng ý đưa chúng tôi đi gặp nhà văn ngay buổi tối hôm ây. Không kịp cơm nước gì, hai vợ chồng phóng xe máy đến ngay hiệu sách của cô ấy ở gần “Đồng hồ 3 chuông”. Cô đã gọi điện và cho biết nhà văn đang ở nhà. Lại lên xe máy để đi ngay. Đi một đoạn thì thấy cô Hải đưa chúng tôi vào một cái ngõ… ngay sát ngõ nhà mình!!! Cô Hải giải thích: “đây là nhà con gái anh Tấn. Hai anh chị ăn cơm ở nhà con gái, nhà anh Tấn ở ngõ bên cạnh???”.
Nghe tiếng cô Hải gọi réo rắt từ ngoài cửa, nhà văn vội vàng ra đón khách. Tôi chưa kịp xác định nên xưng hô thế nào với ông nhà văn tóc đã “muối nhiều hơn tiêu”, cô Hải đã nhanh nhảu giới thiệu:
- Anh Tấn ơi, đây là chi Chung, một độc giả mới ở New York về…
Nhà văn nói:
- Quý hóa quá. Em ở tận NY về cơ à. Vào nhà đi các em.
(Chết rồi! thế thì phải gọi bằng anh thôi). Nhà văn xởi lởi, hiếu khách làm cho tôi thấy vững tâm hơn. Trước khi đi, tôi đã nghĩ đến tình huống gặp ông nhà văn được quá nhiều độc giả hâm mộ và ông ấy sẽ rất “lịch sự đãi bôi” để khỏi bị mang tiếng là “chảnh”, nhưng cũng không quá “cởi mở” để cho khách biết đường rút lui sớm. Đỡ mất thời gian.
- Vâng ạ. Bọn em ở NY, đọc sách của anh “in chùa” trên mạng. Bây giờ em về, nếu anh có cuốn nào thì em xin anh một cuốn có chữ ký của anh để sang “khoe” với bạn bè.
Còn một chi tiết tôi quên chưa nói, đến hiệu sách của cô Hải, tôi đã lấy thêm 4 cuốn nữa của ông để xin ông chữ ký, hai cuốn cho tôi và hai cuốn tặng anh Mẫn chị Hà.
Bây giờ tôi mới có dịp ngắm kỹ ông nhà văn hàng xóm nhà minh.

nhavanBNT

Nhà văn đang ở nhà nên ăn mặc rất xuềng xoàng. Áo Blu-dông xanh và quần pijama kẻ sọc. Tôi thầm nghĩ trong đầu, đúng phải là một ông “nông dân” thế này mới viết được giọng văn “nhà quê chân chất” như thế. Sau này tôi chia sẻ với ông ý nghĩ đấy, ông còn bảo:
- Em nghĩ thế còn tốt chán. Lúc anh đi ra nước ngoài, người ta còn bảo anh giống “thuế vụ” hoặc như cái anh bán vé chợ quê ấy chứ.
Ở con người ông có một cái gì đó rất mâu thuẫn, không diễn tả được. Tóc ông, như tôi đã nói ở trên “muối nhiều hơn tiêu” nhưng giọng nói thì nhiệt tình sôi nổi như người chưa đi hết một nửa quãng đời mình. Ông và cô Hải (còn trẻ hơn tôi đến 8 tuổi) xưng hô với nhau “anh anh – em em” khiến tôi nghĩ ông chắc là ông “xấu máu”. Yên tâm gọi bằng “anh Tấn”. Gia đình ông đang chuẩn bị ăn tối. Khi tôi đề nghị ông ký vào 4 cuốn sách tôi vừa mua, ông nhiệt tình nhận lời ngay. Ông ngồi vào ký sách với một vẻ hết sức trân trọng – trân trọng sự trân trọng của độc giả đối với tác phẩm của mình. 

Tôi cũng đã một lần đi xin chữ ký của một dịch giả nổi tiếng theo đề nghị của thằng con trai. Bằng một sự tình cờ nào đó tôi được anh biết đến như một “đồng nghiệp” cũ mặc dù chúng tôi chỉ có một thời gian làm cùng một cơ quan. Khi tôi vào cơ quan thì anh đã chuyển đi từ lâu rồi. Tôi mua 2 cuốn sách và đề nghị anh ký tặng cho con trai và bạn của nó. Bằng một giọng nửa đùa nửa thật, anh ấy nói:
- Hai cuốn chứ 100 cuốn mình cũng ký. Các bạn mua sách thì mình được tiền mà…
Có thể do chỗ quen biết mà anh ấy nói thật lòng, nhưng giá mà đừng nói thật thì vẫn hơn.

Tôi chăm chú nhìn nhà văn ký tặng sách. Cô nhà báo tranh thủ “tác nghiệp” ngay. Thế là tôi đã có “vật chứng” để mang về NY cho anh chị Mẫn Hà. Lẽ ra chúng tôi nên về để cho hai vợ chồng ông ăn tối, nhưng tôi còn muốn tận mắt xem căn phòng 20m2 mà ông đã nhắc tới nhiều lần trong CKN2000. Hiểu được ý nguyện của tôi, ông tranh thủ ăn rất nhanh rồi đưa chúng tôi về nhà. Không phải tôi “thấy sang bắt quàng làm họ” mà gọi ông là “ông nhà văn hàng xóm”. Nhà ông ở đầu ngõ, nhà bố mẹ chồng tôi ở cuối ngõ. Ngõ nhà ông ở đầu phố, ngõ nhà tôi ở giữa phố, cách nhau chưa đầy 300m. Không hiểu sao tôi và ông chưa lần nào “chạm trán” hay ít nhất “va quyệt” vào nhau. Cái ngõ ông ở trước kia ô tô có thể vào tận trong cùng, bây giờ “người người cùng lấn – nhà nhà cùng lấn” nên hai chiếc xe máy tránh nhau còn khó. Tôi lại có người bạn học cùng phổ thông, nhà ở ngay phía trước nhà ông. Hồi ôn thi đại học, nhà của cậu ấy là “tụ điểm” của chúng tôi mỗi khi có nồi mỳ được nấu vào lúc nửa đêm. Lúc ấy chúng tôi thường ra vườn hoa Nguyễn Du hoặc đứng dưới ngọn đèn đường ôn thi để cho đỡ buồn ngủ. Học đến nửa đêm, đứa nào cũng đói nên chỉ cần có một tin nhắn “có mật” thì “ruồi” bay đến đông đủ.

Sau vụ “Nhân văn giai phẩm” với những tên tuổi như Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán…, vài năm sau một số nhà văn, nhà thơ cũng bị đưa đi cải tạo không án vì “tư tưởng xét lại”. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn là một trong số những người đó. Bạn bè ông bảo, giá như ông cứ ở lại Hà nội thì chưa chắc đã phải “đi”. Lúc ấy chỉ tiêu “phản động” cũng được phân đều về các tỉnh thành, giống như kiểu phân chỉ tiêu địa chủ trong thời kỳ “Cải cách ruộng đất”. BNT, với những bài viết sắc sảo phản ánh “người thực việc thực”, đã lọt ngay vào tầm ngắm của những “người lính canh gác cho Đảng trên mặt trận Văn hóa”. Ông bị bắt đi khi vợ ông mới sinh đứa con trai út.

Năm 2002, khi tôi sang NY công tác biệt phái, chị phó giám đốc của Vụ tôi cho tôi mượn một cuốn sách viết bằng tiếng Anh do một sỹ quan chế độ Việt Nam Cộng Hòa viết về những năm tháng đi học tập cải tạo ở miền Bắc. Tôi không đủ bình tĩnh để đọc hết cuốn sách vì tôi không tin rằng chế độ nhà tù của chúng ta lại có thể đẩy con người vào chốn cùng cực như vậy. Tôi cũng tự “trấn an” mình rằng, họ là người tù của “phía bên kia” nên họ có thể viết “quá” lên. Cũng như khi mình đọc “Bất khuất” hoặc “Sống như anh”, chế độ nhà tù của “kẻ thù” cũng đã được miêu tả đâu có khác gì địa ngục trần gian. Năm 2003, tôi tìm thấy ở thư viện NY cuốn “Đêm giữa ban ngày” của nhà văn Vũ Thư Hiên (VTH). Anh VTH “bị đi” cùng thời với nhà văn BNT. Nhưng anh may mắn hơn BNT ở chỗ anh “được” giam ở khu biệt lập và khẩu phần ăn của anh “cao cấp” hơn gấp nhiều lần những trại mà BNT đã từng đi qua.

BNT viết CKN2000 sau 27 năm im lặng. 27 năm tính từ ngày ông được ra tù sau hơn 3 năm cải tạo không án. 27 năm ấy ông gọi là 27 năm “đi tù ngoại trú”. Hàng xóm nhìn ông với con mắt cảnh giác, nhất là khi khách đến thăm ông lại là những người bạn “ở trại về”. Các anh Cảnh sát khu vực thì vẫn không quên nhiệm vụ thường xuyên “ghé thăm” kiểm tra “nhân khẩu thường trú” ban ngày cũng như ban đêm. Không một nơi nào muốn nhận ông vào làm việc. Ông đã trải qua đủ mọi thứ nghề để kiếm sống: từ khuân vác ở cảng đến kéo xe bò, rồi sửa xe đạp… Đến nỗi một cây bút vô danh cũng có thể làm ông đau đớn vì những câu nói huênh hoang, hợm hĩnh của anh ta. Bạn bè cảm thông, chia sẻ, muốn ông cầm lại bút, nhưng ông đã quyết tâm đoạn tuyệt với nó. Viết làm sao được khi ký ức về những năm tháng tù đày còn đè nặng lên cả quá khứ và cuộc sống hiện tại của ông và gia đình ông. Nếu viết thì sẽ phải viết gì đây để “trả nghĩa” với những bạn hữu trong tù. Liệu những trang sách ông sẽ viết ra có đưa ông trở lại sau song sắt không? 27 năm đủ làm cho một con người từ lúc lọt lòng trở thành người trưởng thành. 27 năm nghiền ngẫm, chắt lọc…nỗi cay đắng, thù hận đã được hóa giải. Và ông đã cầm bút trở lại. Ông viết về cuộc sống ngục tù của mình với sự dí dỏm vốn có và đầy tính nhân văn. Tôi hỏi tại sao cuốn CKN2000 của ông viết từ những năm 90 mà ông lại đặt tên cho nó là CKN2000, ông trả lời, ông hy vọng khi mình bước sang thế kỷ 21, nước mình sẽ “cởi mở” hơn và người ta sẽ có thể chấp nhận được cái sự thật của gần 30 năm về trước. Và cuối cùng như các bạn đã biết CKN2000 đã bị nghiền thành bột giấy trước khi đến được với công chúng.

Thanh Chung  (nguồn: blog Jolicoeur)

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.