Một thời không mất

Một thời để mất của Bùi Ngọc Tấn là một hồi ký văn học. Tác giả là nhà báo – nhà văn thuộc thế hệ sau hoà bình lập lại trên miền Bắc 1954. Tuổi đời của thế hệ này chênh nhau khoảng dăm bẩy tuổi. Có một cuộc Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ nhất họp ngay ở Thái Hà ấp đã thành điểm quy tụ của lớp người này.

Giống như một cuộc chạy maratông, điểm xuất phát bao giờ cũng ồn ã, đông đảo, nhưng sau vài thập kỷ, theo Bùi Ngọc Tấn, người thành đạt (khác với thành tựu) cũng có nhưng ít thôi (tất nhiên), như Bùi Đức ái (Anh Đức), Nguyễn Quang Sáng, Vũ Thị Thường, Nguyễn Kiên rồi Nguyễn Quang Thân…, còn phần đông “lớp tuổi tôi máu me ngày ấy, hình như sự cay đắng, vất vả nhiều hơn”.

Dẫu mỗi người một cá tính, cá tật, họ giống nhau ở lòng tin yêu hơi ngây thơ, trong sáng buổi ban đầu. Nhưng họ cũng luôn vấp phải những sự việc ấu trĩ của buổi ban đầu. Các nhà báo nhà văn trẻ bây giờ không khỏi ngạc nhiên khi biết có một nghị quyết chi bộ của một tờ báo đã cấm các nhà báo trong chi bộ viết văn (!) với lý do để tập trung xây dựng báo. Vì vậy nhà báo Tân Sắc (bút danh Bùi Ngọc Tấn lúc ấy) khi dự thi truyện ngắn phải ký tên “chui” là Lôi Động và được giải thưởng tạp chí Văn Nghệ (trước 1959). Khi đi dự cuộc trao giải, anh mới biết chính nhà thơ Xuân Diệu đã lôi cái truyện ngắn ấy ra từ đống truyện đã loại…

Nhưng tất cả mọi chuyện vui buồn Một thời để mất ấy chỉ là bối cảnh để tác giả cho hiện lên diện mạo, tính tình, lời ăn tiếng nói của nhà văn quá cố Nguyên Hồng từng một thời coi anh như một người bạn vong niên. Cũng dễ hiểu, bởi ở Hải Phòng lúc đó, lớp nhà văn trẻ thuộc Hội Văn nghệ Hải Phòng với Nguyên Hồng là tình thầy trò, số người viết lứa tuổi cứng cáp hơn như Bùi Ngọc Tấn mới được coi là lớp đàn em.

Phải nói Bùi Ngọc Tấn “thuộc” Nguyên Hồng đến từng hơi thở mới có được những mảng văn sinh động đến vậy về nhà văn này:

Bàn viết của Nguyên Hồng là một cái bàn tre, nông thôn thường dùng làm mâm ăn, giống cái chõng tre thu ngắn. Trước cái bàn viết ấy Nguyên Hồng trải chiếu, ngồi xuống đất viết. Thường làm việc gì anh cũng làm một cách tất bật, vội vàng qua quýt cho xong. Nhưng khi Nguyên Hồng chuẩn bị viết, tự dưng anh điềm đạm hẳn lại. Trang trọng, từ tốn. Những lúc ấy anh phải thu dọn xung quanh cho gọn gàng sạch sẽ. Anh quét nhà, anh sắp xếp lại những tập sách, giải chiếu xuống đất, vuốt ve mấy tờ giấy trắng, để bút để mực sẵn sàng. Rồi đi loanh quanh, đi ra đi vào, mặt mũi đăm chiêu khổ sở. Anh vẫn gọi việc ấy là dọn ổ đẻ. Còn cái chõng tre ấy Nguyên Hồng gọi là “mâm viết”.

Phương tiện đi lại của Nguyên Hồng là chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô, khung ngắn, bàn đạp ngắn, ghi đông ngắn, người lớn ngồi trông như gấu, khi vận hành hai chân cứ nhoay nhoáy, nhoay nhoáy, đầu gối chạm ghi đông. Nó còn một đặc điểm nữa là không đạp ngược được. Quay ngược chiều ru líp là phanh, là khựng lại. Nhưng thời ấy cũng phải bình chọn, cũng phải phiếu, có khi hàng trăm người mới được một chiếc, hơn nữa lâu lắm mới có một đợt phân phối.

Chiếc xe ấy được nhà văn Nguyên Hồng âu yếm gọi là Cún. Khi ông dựng xe ngồi chơi ở bãi cảng, các em nhỏ thường gạ gẫm: “Cho cháu đi một tý nhé! Hay là cho cháu thuê, cháu có hai hào đây!” Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng tặng ông một chiếc xe đạp Thống Nhất, thế nhưng con cái giành nhau đi học, ông lại phải dùng Cún. Thật là ngượng khi gặp Thủ tướng giữa đường! “Chắc Thủ tướng cho là mình túng quá, bán rồi. Mình ngượng chín người, cứ đứng một tay giữ Cún. Cái con Cún khốn nạn phản chủ này, nó cứ kềnh càng trên đường, không quẳng đi đâu được”.

Nhà văn Nguyên Hồng mê bóng đá đến mức đang dẫn một đoàn nhà văn trẻ lên một tỉnh miền núi, nghe tin đội Hải Phòng thắng, ông bắt chánh văn phòng phải điện ngay về chúc mừng. Ông có thể khoái chí vì một cú sút đẹp mà ôm hôn người ngồi xem bên cạnh, không cần biết đó là ai. Bùi Ngọc Tấn phát hiện “Nguyên Hồng là nhà văn chống bao cấp đầu tiên ở nước ta” bằng hành động rời cả gia đình từ thủ đô về Yên Thế. Cử chỉ, lời nói của nhà văn trong lĩnh vực ẩm thực thật sống động bình dân qua nét phác hoạ của Bùi Ngọc Tấn: “Nguyên Hồng kênh cái mẹt có cái đùi chó bóng loáng lên, vục tay vào tận cái thúng bên dưới. Anh lục lọi, bấu bấu nắn nắn và lôi ra một tảng:

 – Chị chặt cho tôi miếng nầm.

Nguyên Hồng cúi cúi xem gói thịt và gia vị:

– Chị cho tôi thêm mấy nhát riềng.

(Chữ “nhát” đúng là chữ của anh. Không chết như chữ “miếng”, chữ “nhát” gợi một động tác, một hình ảnh, một âm thanh, một quá trình…)

Bùi Ngọc Tấn viết hồi ký về nhà văn đàn anh bằng bút pháp một nhà văn, cho nên anh đem đến cho người đọc những suy nghĩ độc đáo, có lúc lại như nói thay cho tâm trạng cả một lứa tuổi, như khi anh bàng hoàng nghe tin nhà văn Nguyên Hồng qua đời: “Khi thế hệ cha anh mình mất đi mình bỗng thấy trơ trọi. Không còn nữa cái tuyến một vẫn đứng chắn giữa mình với vô cùng, che chở cho mình bình yên sống. Mình không an toàn nữa. Mình bỗng thành tuyến đầu. Từ nay mình bị phơi ra trước họng súng bắn tỉa của Thần Chết”.

Lời nhận xét về thế hệ của mình : “… cay đắng vất vả nhiều hơn” đặc biệt vận vào anh, như anh từng tự thuật: “… tôi bị văng ra ngoài quỹ đạo...” Và Nguyễn Văn Chuông, nhà văn “trẻ” đã quá cố của Hải Phòng đã an ủi anh: “Anh không lâm nạn là anh hỏng đấy! Dạo ấy anh viết nhiều nhưng anh sắp hỏng, thật đấy! (anh như vậy)… có khi lại hay! Anh lại có cuộc sống không ai có được”.

Trong lời an ủi của Nguyễn Văn Chuông có một sự thật. Sự thật ấy đã hiển hiện ngay trên những trang hồi ức của anh ít nhiều ngậm ngùi nhưng sâu lắng tình người và trải nghiệm…

Một thời để mất là cách nói của Bùi Ngọc Tấn, nhưng anh đã không để nó mất đi trên gần hai trăm trang chân thành, sinh động, bởi sự thực… đã có một thời như thế!

 

Vân Long

Advertisements

Sinh khí của văn chương

“Phải lòng” văn chương

Đã 20 năm kể từ khi Nguyên Bình về Hà Nội, Bùi Ngọc Tấn mới trở lại mái nhà xưa của bạn. Gương mặt ông bình thản nhưng những bước chân hồi cố thì trĩu nặng. Ông chỉ cho chúng tôi xem nơi từng là căn buông cũ, một gian trong ngôi biệt thự xuống cấp, nay được thay bằng nhà bê tông xám ngắt cửa đóng then cài. Chợ Lương Văn Can eo sèo họp ngay trước nhà như một nét sổ xoá hết cảnh quan xưa.

Chúng tôi cùng nhà văn ra cảng cá Hạ Long. Dòng sông và bến thuyền đã mang dáng dấp hiện đại với bờ kè trải đá dăm, những mùi dầu ma dút, vị lờ lợ của nước sông sắp hoà vào biển, những con tầu lam lũ, thì vẫn tưởng như cách nay ba mươi năm. Ngày ấy Bùi Ngọc Tấn lăn lộn kiếm sống bằng đủ nghề, đẩy xe, làm miến, cuộn thuốc lá… Sau ông được nhận vào phòng hành chính của Quốc doanh đánh cá Hạ Long, giữ một chân thi đua “cờ đèn, kèn trống”. ánh mắt ông vụt trở nên tinh nghịch như người đem khoe cái điều lẽ ra cần phải giấu: “Nơi đây chú Tấn đã có thâm niên hai chục năm làm nghề…  hôi cá!” Đằng sau nụ cười hóm hỉnh, tếu táo là hồi ức về những cực nhọc của một quãng đường vật lộn với cơm áo để trụ lại đời thường, ước vọng văn chương đã trở thành thứ xa xỉ.

Rồi ông đưa chúng tôi về nhà máy xi măng. Khói nhà máy xi măng toả trắng, nhưng đang có cuộc thiên di lớn lao dời toàn bộ công trình này đi nơi khác. “Thuở còn làm báo Hải Phòng kiến thiết, năm nào tôi cũng đón giao thừa với anh em công nhân, rồi chực sẵn ở lò nung, nhà tháo để đón chờ bao xi măng đầu tiên của năm mới.”  Bùi Ngọc Tấn và những bạn văn của ông, thời trai trẻ sáng trong và nhiệt huyết chưa hề lường đến khó khăn của cuộc sống, chưa gợn chút âu lo về cái bất trắc trái ngang của cuộc đời, đã chọn cuộc sống lao động cực nhọc nhưng đượm mầu lý tưởng nơi đây, cũng như nơi những đảo đèn bền bỉ, khắc khổ án ngữ giữa con người và biển cả, để gửi gắm những ước vọng của thế hệ minh.

Căn gác nhỏ gần Ngã Sáu của vợ chồng nhà văn vẫn đạm bạc khiêm nhường và ám áp gợi nhớ thời kỳ đầu những năm 1960, khi nó còn là tổ ấm đi về chung của nhiều nhà văn trẻ, đắm say cuộc đời và nghề nghiệp, những Dương Tường, Lê Bầu, Mạc Lân, Nguyên Bình… Bùi Ngọc Tấn ngồi, đôi mắt tươi xanh những kỷ niệm. Ông kể về thời mới bén duyên văn chương. Thời ấy một người bạn văn đã làm những câu thơ còn lung linh mãi trong cảm xúc của nhiều người: Sóng sông Hồng bỗng xanh mầu Đa nuyp / Những con người đất lạ phải lòng nhau.(1) Thế hệ của họ, bỡ ngỡ và sôi nổi, được lớn lên từ cuộc đời mới, thời vận mới của dân tộc, lần đầu tiên gặp gỡ, tìm thấy trong sách vở bốn phương những tinh hoa và niềm khát vọng chân thiện được nuôi dưỡng qua nhiều thời đại, vượt qua những biên giới quốc gia, của con người, cũng đã tự vun đắp cho mình một lý tưởng thật lãng mạn và cao đẹp.

(1)Nghe nhạc Strauss- Tuân Nguyễn

Sau bao nhiêu sóng gió cuộc đời, ông thanh thản nói về nghề văn: “Nếu như phải lựa chọn một lần nữa thì tôi vẫn chọn nghề viết. Sức hấp dẫn khiến tôi phải trung thành với nghề – đây là lĩnh vực mà dù bản chất sang hèn, cao quý hay thấp kém, trung thực hay gian trá, đều bộc lộ không thể giấu diếm, khó lòng trá lường.” Ngoài việc là cái đích kiếm tìm gắng sức rất thiêng, nghề văn với Bùi Ngọc Tấn còn là nơi biểu hiện phẩm chất và giá trị con người, giá trị sống. Có thể đối với nhiều người đây là quan niệm tuyệt đối hoá và có phần lỗi thời. Nhưng ngẫm ra, bất cứ nghề nghiệp nào khi đã thoát khỏi cái phần tồn tại thực dụng, thoát khỏi chức năng hàng hoá thông thường, nhất thời, để được công nhận đạt đến trình độ nghệ thuật, đều hàm chứa những giá trị con người.

Hành trình đến…bản thân

Có người nói Bùi Ngọc Tấn viết văn để tìm lại thời gian đã mất cho mình và cho bè bạn. Viết để thêm một lần sống lại cuộc sống đã qua, khai lộ một hiện thực ở tầng sâu của tâm tưởng và tri giác, thứ hiện thực hai lần hiện thực. Chỉ những con người đứng trước hoàn cảnh bất thường khốc liệt, trước ranh giới sinh tử, bị xô đẩy đến những giới hạn khác thường của cảm thức mới có nhu cầu về lối viết này.

Viết về bè bạn, nhưng chính là Bùi Ngọc Tấn tìm lại những giá trị của thế hệ mình, tìm lại lý tưởng mình hằng nâng niu có lúc tưởng chừng đã bị vùi khuất dưới những bất hạnh, đau khổ. Mỗi nhân vật một vẻ đáng yêu, một triết lý tồn tại, một cái duyên khác nhau trong đời, nhưng tất cả đều đại diện cho phần khát vọng thầm kín của người viết về nghệ thuật, thứ nghệ thuật tinh hoa do được rút lòng nhả kén. Cao hơn nữa là khát vọng khẳng định giá trị bản thân từ điều chân thiện, có ích, có nghĩa cho đồng loại. Có thể Bùi Ngọc Tấn đã quá yêu và bênh vực các bạn mình, nhưng chính xác hơn, ông đã viết bằng cái nhìn của người trong cuộc, đem cái tôi của mình mà chứng nghiệm, xoay đi ngẫm lại, làm hiện hình lên phẩm chất của những người chung quanh. Phải tự tin, độ lượng và trung thực đến tận cùng mới dám đem bản thân làm “thuốc thử” và làm của tin đảm bảo cho những nhân cách con người và nghề nghiệp, như ông. Có lẽ vì thế mà văn Bùi Ngọc Tấn viết về bất cứ thân phận nào, hay bất cứ sự vật nào trong tự nhiên. cũng đều như viết về một người thân thích ruột rà, một tri kỷ.

Viết về thời của mình, Bùi Ngọc Tấn đã chọn sự trung thực. Không bất mãn dè bỉu hay ngượng ngùng lảng tránh như một số người viết khi nhìn lại “cái thời lãng mạn”, ông chân thành và sòng phẳng ghi nhận cả cái ấu thơ non nớt, những ảo tưởng viển vông, cái một chiều duy ý chí lẫn tình yêu, lòng nhiệt huyết sáng trong và khát vọng đẹp của một thời, như hai mặt của sự thật. Cũng vì luôn khách quan, trung thực mà Bùi Ngọc Tấn không rơi vào “cảm hứng” ôn nghèo kể khổ hay mua vui bằng cách “hạ bệ thần tượng”. Kể lại những chuyện nhếch nhác oái oăm cười ra nước mắt trong đời sống văn nghệ sĩ, ông không dửng dưng lạnh lùng hay tỏ ra bề trên “biết rồi… khổ lắm” mà thân ái cảm thông. Trời phú cho Bùi Ngọc Tấn chất hóm hỉnh hài hước của người nhanh trí nhanh mắt dám đem khoe những chuyện đáng ra cần phải giấu (như ông có lần tả Nguyên Hồng) để vui đùa, cười nhau và tự cười. Đây là cảm hứng lành mạnh, thứ sinh khí tươi trẻ của một nền văn chương.

Bùi Ngọc Tấn không phải người ham xê dịch. Trở về Hải Phòng, trung tâm của miền Bắc những năm 1960, nơi cuộc sống mới trong tầm vóc vạm vỡ đang gồng mình để đổi thay từng ngày, ông bám riết cơ sở, vừa để làm báo, vừa để có tư liệu sống và viết. Ông ưa cuộc sống với những ràng buộc đằm thắm cố kết và thâm trầm. Chỉ ưa đi dạo quanh những con phố thân quen ấm áp của Hải Phòng với đôi người bạn thật thân, giữa mùa đông mà thèm cả hương vị buốt lạnh thân thiết của que kem tuổi nhỏ… Bùi Ngọc Tấn trầm tĩnh đôn hậu, luôn hướng đến chất thanh cao, tinh tế, đây vừa là điểm mạnh, vừa là giới hạn tương đối của ông.

Nếu như có một con đường để cho mỗi người tìm đến bản thân, đến đức tin ấu thơ thanh sạch và tình yêu toàn thiện, thì đó chắc hẳn là con đường có rất nhiều nhánh rẽ… Trong số những nhánh rẽ đó không thể thiếu phần đường mà Bùi Ngọc Tấn và những nhà văn cùng thời ông đem đến, họ đang cùng đi với hiện tại bằng cả lý tưởng và khổ đau. Và Bùi Ngọc Tấn vẫn là một người đang viết…

 

K. P.

Viết về bạn bè: Thấy chân dung tác giả

(Đọc Rừng xưa xanh lá của Bùi Ngọc Tấn)

Đình Kính

Bìa sách thiên về màu xanh, lại vẽ đồi, vẽ cây, vẽ cành và với hàng tít Rừng xưa xanh lá (NXB Hải Phòng – 2003), khiến nhiều người ngỡ đây là tập ký viết về lâm nghiệp. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chắc đã từ biển nhảy lên rừng? Không phải! Tập sách là phác họa chân dung mười văn nghệ sĩ, những bạn bè thân thiết của tác giả. Đúng hơn là mười hai vị. Song có ba vị cùng “hoàn cảnh” nên gộp vào một chân dung – Chân dung thân phận làm mướn, chân dung kẻ sĩ đi viết thuê…

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vẫn quan niệm rằng, nếu may mắn có trang sách chống chọi được với thời gian thì đó chỉ có thể là trang sách mà người viết thuộc nhất, rõ nhất, hiểu nhất những điều mình phô ra. Hầu hết tác phẩm của anh từ tiểu thuyết rồi các tập truyện ngắn Những người rách việc, Một ngày dài đằng đẵng  đến tập ký Một thời để mất, và tập chân dung này –Rừng xưa xanh lá, đều được viết ra trong quan niệm ấy. “Tôi viết ít. Và chỉ những gì tôi thấy là cần thiết. Những gì tôi sợ rồi sẽ bị lãng quên”. Tác phẩm của anh có chỗ đứng nhất định trong lòng bạn đọc, trước hết có lẽ bởi sự am tường, sự từng trải, cộng những chiêm nghiệm nơi anh trong những trang viết. Nếu gọi nhà văn là thư ký của thời đại thì anh muốn được làm người như thế.

Một trong những cái anh thuộc, ấy là bè bạn. Trong số đó không ít người đã cùng anh gắn kết, buồn vui qua gần nửa thế kỷ. Tình bạn đó được thử thách trong rủi ro, hoạn nạn. Và họ, những văn nghệ sĩ bạn anh, cuộc đời cũng rất thân phận. Vậy tại sao không viết về họ? Và anh đã viết !

Nhưng từ dự định đến lúc sách ra đời, cũng ngót ngét ba năm. Ba năm là ba mươi sáu tháng nghiền ngẫm, lao động cật lực; là hơn một ngàn ngày tập trung trí não nhặt nhạnh từng con chữ đưa lên mặt giấy. Để có 250 trang sách, chẳng dễ gì! Viết văn quả là “một trò chơi xa xỉ”, “một công việc mạo hiểm” (chữ của nhà văn Bùi Ngọc Tấn),  một công việc cực nhọc và phải kiên tâm. Nhưng nghề văn là một ma lực. Đã mấy ai trót bập vào rồi, đủ dũng khí buông bút. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn cũng vậy. Anh đã viết trở lại. Không những thế còn viết đều hơn, hay hơn. Làm văn chương đích thực chỉ có thể là những người biết vượt qua những buồn bực mang tính cá nhân để có cái nhìn cao hơn, xa hơn, khái quát hơn; biết quyện nỗi đau của mình vào những trăn trở chung của đồng loại, của dân tộc với một thái độ lịch lãm. Lịch lãm là yếu tố cần của người cầm bút. Viết văn là một hành động văn hóa. Lấy người lùn (một dị dạng, bất bình thường) để làm hề gây cười trên sân khấu xiếc (một hoạt động văn hóa) là thiếu yếu tố đẹp,  yếu tố văn hóa. Chỉ có thể đạt hiệu quả thẩm mỹ cao khi trên sàn diễn, bất luận làm tiết mục gì, cũng là những diễn viên có hình thể cân đối và có khuôn mặt đẹp. Trong văn chương cũng vậy.

Rừng xưa xanh lá là tác phẩm hay, đọc cuốn hút. Cuốn hút bởi thái độ lao động nghiêm túc của người viết. Văn Bùi Ngọc Tấn đẹp, dung dị. Viết “người thật việc thật” mà không rơi vào kể lể. Đọc không thấy nhàm. Anh có ý thức sắp đặt, chắt lọc nên nhiều cảnh huống hấp dẫn, nhiều tình tiết bất ngờ. Nhưng trên tất cả là, khi gấp sách lại rồi, ta bắt gặp cái tình nơi người viết. Như phần lớn tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn, Rừng xưa xanh lá khiến người đọc có thoáng một chút buồn, thoáng chút chua chát, nhưng vui nhiều hơn… Lao xao trong những con chữ, anh đưa ta trở lại thời bao cấp. Một thời đã từng là thế mà ngỡ như không phải thế. Một thời “khẩu phần tinh thần, khẩu phần vật chất đều được tiêu chuẩn hóa và phân phối… Một thời mà khi nhớ lại, bỗng thấy mình đã là những anh hùng, đã vượt qua quãng đời tưởng như bịa, không thể nào tin  được…”. Ngẫm lại thời đó không phải để trách cứ, mà là thái độ cảm thông, sẻ chia. Sống trong hoàn cảnh đó, để tồn tại mà theo đuổi nghiệp, những nghệ sĩ như Vũ Tín đã phải dùng đến phương tiện phục vụ nghệ thuật của mình để cầu cạnh từ chị bán thịt, cô bán cá, bà bán gạo. Những nhà văn có hạng như Chu Lai, Nguyễn Quang Thân đành hạ mình chịu nhục đi viết thuê. Viết để kiếm tiền, có bao sự trớ trêu. Người mù tịt văn chương thuê viết về họ và duyệt văn các nhà văn ! Bản thảo xong rồi mà ngượng ngùng không dám đứng tên mình. Đọc rồi cười, mà nước mắt ứa ra. Văn nghệ sĩ cũng là con người. Trước hết họ cần phải sống. Và sau lưng là gánh nặng gia đình, vợ con. Đọc Rừng xưa xanh lá tê tê đắng chát một nỗi buồn là vì thế. Những tài năng như Dương Tường, sinh ra chỉ biết nghệ thuật và sống vì nghệ thuật, một người đã dịch trên 50 đầu sách, “đó là những tác phẩm nổi tiếng của văn học thế giới, những tác phẩm luôn gợi mở cho những người cầm bút Việt Nam những suy nghĩ mới mẻ về sáng tác”, dịch trong ý thức “nghĩ đến anh em viết chưa được đọc cuốn này thì thiệt quá”; một người mà, chỉ cần tiểu luận Ai đầu tiên gọi chích choè là chích choè không thôi đã đưa anh lên hàng nghệ sĩ đích thực, cũng đã một thời từng phải đi bán máu kiếm sống. Rồi Lê Bầu, một cái tên quen thuộc với bạn đọc. Vừa là dịch giả, vừa là tác giả. Nhưng mấy ai biết hàng chục năm qua ông nhà văn đó sống trong nửa căn hộ chừng mười mét vuông, mà “lớp cót ngăn  ngày càng cũ, càng xộc xệch, bên này thở mạnh bên kia nghe thấy”. Nửa căn phòng hẹp tới mức, Lê Bầu “được cơ quan thưởng một cái quạt cần Trung Quốc, anh không có cách nào sử dụng được nó. Quạt cao, cánh rộng, để trong nhà thì nó quạt gió ra vỉa hè”… Lê Bầu mỗi khi cần đành đưa quạt ra ngoài để cho gió thốc vào. “Nó (cái quạt) cứ đứng ở vỉa hè, lênh khênh, ngạo nghễ như một gia đình thừa mứa của cải mà quạt, mà lùa gió qua cái cánh cửa van vát chênh chếch đã cải tiến vào nhà. Nhà Lê Bầu chỉ có thể tiếp được một người khách đã là hơi chật…”. Những người như Nguyễn Thị Hoài Thanh, “đồng lương không đủ nuôi mình mà chị còn phải nuôi con”. Vì nuôi con nên chị phải đủ nghề, “đi bán bánh rán, bánh mỳ, kẹo lạc, làm và bán nước mắm. Cuộc sống tưởng chừng như không có thời gian để thở, ấy thế mà Nguyễn Thị Hoài Thanh vẫn làm thơ”. Đọc những trang Bùi Ngọc Tấn viết về bạn bè, dễ dàng nhận ra tính cách tác giả. Rừng xưa xanh lá anh viết  với giọng văn đôn hậu, đằm, man mác, đôi chỗ dí dỏm, mà sâu lắng. Những trang viết về nhà văn Hứa Văn Định thật xúc động và thật hay. Hay không bởi chữ nghĩa, mà hay ở sự chân thực, hay ở tấm lòng, ở tình người.

“…Thấy tôi, vợ tôi méo xệch, òa lên:

– Anh Định chết rồi!

Rồi đưa cho tôi tờ giấy. Điện. Điện của Mạc Lân. Tôi giữ bức điện ấy cho đến ngày hôm nay như giữ dấu chấm hết cuộc đời một người bạn: Hứa Văn Định chết. Đưa sáng chủ nhật. Lân. Dấu bưu điện Hải Phòng: 29/12/1995. Tôi kiếm xe lên Hà Nội ngay lúc đó… Tất cả sách ghi tặng bạn bè đều để lại… Chỉ mang một cuốn tặng Định. Dù đã muộn rồi. Chẳng thể đưa cho Định được nữa.

… Ngày hôm sau chúng tôi tiễn Định tới nghĩa trang. Lại qua Lò Đúc. Căn phòng áp mái của Định bên trên nhà bác Thế … Lại qua Phà Đen. Và Vĩnh Tuy, nơi anh yên nghỉ cũng là nơi tôi và vợ tôi ngồi trên bãi cỏ khoác vai nhau thời đang yêu. Tôi bỗng hiểu ra một điều đơn giản: cuộc đời thật ngắn ngủi và thế hệ chúng tôi đã bắt đầu sự kết thúc kiếp phù sinh của mình. Tất cả chúng tôi sắp đi qua hành tinh này mà không để lại một vết xước nào…”

Người ta nói cái đẹp là sự giản dị. Nhưng để đạt tới cái đẹp trong sự giản dị của văn chương quả không dễ. Giản dị khác với đơn giản. ở đây là văn hóa, là nhận thức, là tài năng và học vấn ở ngưỡng cao. Đọc Bùi Ngọc Tấn dễ dàng nhận ra văn anh đã chạm tới “chính  quả”. Khi “tu luyện” nhằm vươn tới cái đỉnh ấy, hình như mọi phô diễn đều nhẹ nhàng, tự nhiên và bình dị. Bình dị nhưng cao sang, đài các, quý phái. Một đời cầm bút chỉ mong đạt tới điều ấy. Đó là lúc nhà văn đạt tới độ làm văn mà như thể không làm văn. Đó là lúc nhà văn không “làm nghề” mà viết bằng tâm, bằng tấm lòng, viết bằng sự chín nẫu của suy ngẫm. Hay nói như nhà văn Nguyễn Khải, đó là lúc nhà văn đã biết nhóm củi để đốt lên ngọn lửa xanh, trong veo, không bụi không khói.

250 trang sách gấp lại rồi, cái tình, sự đôn hậu của tác giả Rừng xưa xanh lá vẫn còn đọng lại. Ngẫm về Lê Đại Thanh, Bùi Ngọc Tấn viết : “Trái tim ông là như vậy. Một núi lửa tình yêu. Nó là nỗi đau. Nhưng cũng là sức mạnh. Ngón đòn của số phận có thể làm ai đó gục ngã. Nhưng Lê Đại Thanh thì không. Trái tim ông đã cứu ông.  Hay đúng hơn, chính nàng thơ, nghiệp chướng của đời ông đã cứu ông. Trong tấm áo choàng rực rỡ huyền ảo mỏng manh của thi ca, Lê Đại Thanh là bất khả xâm phạm. Không một ngọn roi nào chạm tới được ông. Vòng kim cô không xiết được đầu ông vì trong đó đầy ắp thi ca, đầy ắp tình yêu cuộc sống.

… Ông có một sức khỏe khiến tất cả mọi người thèm muốn. Có lẽ vì ông ca ngợi thời gian và thời gian nhẹ tay với ông. Hơn thế, thời gian ủng hộ ông”.

Thời gian nhẹ tay, ủng hộ ông. Nhưng thời gian bất lực trong ý thức công bằng. “Ngày 17 tháng 7 năm 1996 ông vĩnh biệt chúng ta. Hàng nghìn người đưa tiễn ông như ngày nào hàng nghìn người tập trung ở quảng trường Nhà hát đấu tranh bắt bọn Quốc Dân Đảng phải trả tự do cho ông. Và chỉ đến lúc ấy tất cả mới hiểu rằng đời vẫn mến yêu ông đến thế”.

Đoạn cuối bài về Mạc Lân, Bùi Ngọc Tấn viết: “Mắt anh ánh lên nỗi khát khao. Giọng anh lại vang vọng sắc thái ngày nào. Tôi cầu mong anh hoàn thành dự định (viết sách). Nhưng phải gấp lên Lân ơi. Mà không chỉ Lân. Cả mình, cả Bầu, cả Tường, cả Bão… tất cả anh em mình. Thời gian gấp lắm rồi”.

Yêu người lắm, yêu bạn lắm mới có thể hạ những dòng dung dị mà cảm động như thế!

Rừng xưa xanh lá không chỉ viết mười gương mặt, những gương mặt quen thuộc, thực sự là “những lõi sáng” trong văn học nghệ thuật: Vũ Tín, Chu Lai, Nguyễn Quang Thân, Dương Tường, Mạc Lân, Lê Bầu, Hứa Văn Định, Nguyễn Thị Hoài Thanh, Lê Đại Thanh, Nguyễn Thanh Bình, Nguyên Bình, mà cuốn sách, bằng những gì được thể hiện còn phác thảo một chân dung nữa: tác giả của cuốn sách đó, nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Đọc Rừng xưa xanh lá tôi chợt bâng quơ nhớ đến câu thơ của Đoàn Thị Tảo: Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan.

9/3/2003

Đ.K

Chữ nặng

Lê Minh Hà

Người khuân Rừng xưa xanh lá từ Hải Phòng về Hà Nội cho bạn tôi gửi sang đây (C.H.L.B. Đức) là Dương Tường. Ông không biết tôi. Dĩ nhiên. Còn tôi với ông, biết chứ. Chiều se sẽ hương – Vườn se sẽ sương – Đường se sẽ quạnh – Trời se sẽ lạnh – Người se sẽ buồn… Đấy, Dương Tường. Một thoáng rợn tên là heo may – Một hương cây tên là kỷ niệm – Một góc phố tên là hò hẹn – Một nỗi nhớ tên là không tên… Dương Tường. Mea Culpa – Dương Tường. Một cái danh gắn với bao tên sách, gắn với dịch thuật, hội hoạ, với tôi, trước hết là thơ. Dương Tường thơ.

Không có bạn ông, Bùi Ngọc Tấn, thế hệ chúng tôi không biết thơ ông sống bằng gì. Sự không biết ấy, vô tình, đến một lúc nào đó phải coi là tội lỗi.

Tôi không chuộng giai thoại văn học và rất ác cảm cái lối ăn đong theo đời nghệ sĩ của một vài cây bút mãi chẳng thể nào nhớ nổi tên. Nhưng Rừng xưa xanh lá không phải là giai thoại, Viết về bè bạn không phải là giai thoại. Cũng không phải là cuốn sách về chuyện đời chuyện nghề, chứa ẩn những khái quát phát hiện về tác giả, tác phẩm, thi pháp, và. Bùi Ngọc Tấn không hì hục với kỹ thuật, vật vã với trào lưu. Với một số tác giả, việc đạt được thêm một bước trên tiến trình hiện đại hoá văn chương là toàn bộ ý nghĩa của sáng tác khiến bạn đọc vui mừng. Với Bùi Ngọc Tấn, ý nghĩa của sự trở lại với chữ là nghĩa đời.

Nặng lắm. Bởi vì ông là nghệ sĩ, là người chịu cái kiếp phải bấm chân xuống đáy đời này mà bước. Nặng vì ông là nghệ sĩ Việt Nam.

Trong nghĩa đó, viết với Bùi Ngọc Tấn là chuyện viết lại, sống lại. Viết về bè bạn là chuyện sống, và viết, một thời. Nhem nhuốc. Nhọc nhằn. Thì phận viết thuê ở xứ nào, miền khí hậu nào, thể chế nào mà chẳng nhọc nhằn, nhem nhuốc. Không thế, khối kẻ sẽ tin là chữ sẽ khô, sẽ rỗng, sẽ lâm tử.

Thì viết, nhưng viết chỉ để được viết, viết chỉ để nhận chút nhuận bút tư nhân còm, làm sinh phần chữ cho những ai đã quyền, đã tiền, còn muốn cái tên mình để lại được một vết cào trên mặt đất thì đau đớn. Liệu thời ấy trên thế giới này còn có một đất nước nào nữa sinh ra được một thế hệ viết văn chui như nước Việt Nam mình?

Thì viết. Viết để nuôi hơi thở tàn cho mình, cho bố mẹ, cho vợ, cho con, cho bè bạn. Để nhìn nhau mà sống tiếp. Nghệ sĩ nuôi chữ bằng hai lá phổi rỗng hay một cái đầu điên thế giới này khối. Nhưng tôi chưa đọc thấy ở đâu trên thế giới này thời hiện đại chuyện nghệ sĩ bán máu, nghĩa đen. Bằng máu, họ nuôi gia đình, nuôi tình bạn, nuôi thân, nuôi những con chữ, nuôi tiếng cười, phụng dưỡng khao khát về cái Đẹp.

Hôm nay tao uống máu thằng Tường. Câu đùa xanh rờn của một người bạn của các ông có lẽ làm cho ai đọc tới cũng phải rùng mình. Tôi ứa nước mắt.

Vì khi ấy, chúng tôi bao lần dẫm chân tại chỗ dậm tập nghi thức đội ở vườn hoa đối diện quán bia Cổ Tân nơi họ thường ngồi. Bao chiều, nơi ấy chúng tôi hát ve ve ve hè về vui vui vui hè về, và những bậc thang của Nhà Hát Lớn ngay bên cạnh gần như là con đường dẫn tới đỉnh cao mơ ước về cái đẹp của nghệ thuật chưa hề có trong ý thức của chúng tôi.

Trong một tập tiểu thuyết, Bùi Ngọc Tấn đã làm tôi bủn rủn vì tập hợp từ “tù ngoại trú” chụp bắt chính xác sắc diện những người chưa trải cảnh tù đầy như ông. Hình ảnh phóng chiếu của nó thật khủng khiếp. Nó trở lại cùng Viết về bè bạn. Phải, bè bạn của ông, dù án cao su như ông hay vẫn lầm lũi đi về với phố với làng những ngày đó rút lại cũng chỉ là tù nhân ngoại trú, của đời sống cơ cực một thời. Cơ cực, giá chỉ vì chiến tranh hay bao cấp! Cơ cực, vì họ là nghệ sĩ. Mà lại ở nước mình. Mà lại ở cái thời ấy.

 Một thời tin tưởng

Một thời bay bổng

Một thời hạnh phúc

Và cả một thời nhảm nhí của chúng tôi nữa (trang 303-Viết về bè bạn-Nhà xuất bản Hải Phòng-2003).

Chúng tôi sinh ra, phương trưởng vào những năm tháng ấy, mà thật ra chẳng biết gì về thời của các ông, nếu không có những cuốn sách như thế này. Tôi biết bóng lá khoảng phố nơi Dương Tường sống, nhưng tôi không biết ông đi về trên đó, vóc dáng cò rù, đảo chính thơ bằng những con âm. Tôi sống ở phố Lò Đúc một thời Hứa Văn Định, nhưng tôi không biết gì về ông ngoài một đôi bài báo độc đáo, và đã tưởng ông là một người viết trẻ độc sáng đôi sớm đôi chiều, không hề biết ông cũng viết lại, sống lại. Các ông cười được rồi về cái thời các ông có thể coi là nhảm nhí. Nhưng với ai ai, bên niềm tự hào vì đã sống chính trong thời ấy, lớn lên và đi qua thời ấy, rồi sẽ phải ngậm ngùi bởi cái thời mình cho là đẹp nhất đó có bao điều đáng xấu hổ. Vì trong đó, nghệ sĩ, lương tâm của thời đại nông nỗi thế vì những đầy ải, vò xéo. Vì đọc họ mà không biết họ cưu mang đỡ mình và những cuộc đời khác đau khổ, khát khao. Vì họ, như lá, như nắng nhỏ, lầm lũi sống, song hành với cái đẹp và làm ra đẹp. Chẳng biết để làm gì. Nhưng thiếu thì cuộc đời này không đáng sống. Bùi Ngọc Tấn viết về bè bạn mình. Tất cả là nghệ sĩ. Nhưng đằng sau cuộc đời họ, qua hồi ức của ông, qua lối viết hồn hậu bình thản của ông, ta thấy một thời, đời người.

Cảm như tiếng gào của những âm thanh im lặng khi đọc Viết về bè bạn. Đọc, không phải vì muốn có những thông tin rọi chiếu thêm vào tác giả và tác phẩm. Đọc, không phải vì tò mò chuyện bếp núc nghệ sĩ. Đọc, không phải để luyện nghề. Đây không phải là một cuốn sách làm ta dám đọc lại ngay vì những mục đích cụ thể xyz. Đọc, để thấy dẫu mình tuổi tác rồi, dẫu lên bờ xuống ruộng bao phen rồi vẫn còn biết xấu hổ và đau đớn. Đọc, để được kinh ngạc, cảm động, và thán phục, và tin. Vào chữ, vào người.

C.H.L.B. Đức

2.2.2005

L. M. H.