Để lại bước vào năm Tuất

Cũng chỉ bởi Từ Nữ Triệu Vương. Tôi đã nhất định không viết một bài báo Tết nào nữa sau khi hoàn thành hai bài với hai tờ báo bồ ruột của tôi. Mình cũng phải thương mình một tý. Tôi tự nhủ. Thì có điện thoại của Từ Nữ Triệu Vương từ Hà Nội. Vẫn cái giọng trong trẻo liến thoắng, dồn dập, đầy ắp  tuổi trẻ, đầy ắp niềm vui, không cho chống đỡ, không cho từ chối, không cho kháng cự bên kia đầu giây: Cháu đây. Bác khỏe không? Cháu về tờ Văn Nghệ Công Nhân rồi. Anh Nguyễn Bình Phương về đấy làm sếp. Bác viết cho cháu một bài báo Tết đi. Hai nghìn chữ. Cháu sẽ xuống Hải Phòng cháu lấy… Tất nhiên là tôi từ chối. Không. Bác chỉ bỏ ra một, hai ngày thôi. Bác Dương Tường, bác Lê Đạt có bài rồi. Anh Bảo Ninh say xỉn mà cháu bảo cũng nhận lời rồi. Không thể không có bài của bác. Bác viết gì cũng được. Về bác Dương Tường, bác Lê Bầu, về bác, 2000 chữ cũng được, 1000 chữ, 500 chữ cũng được. Bác không viết, anh Nguyễn Bình Phương đuổi cháu mất…

 Hết động viên lại hù doạ. Cứ như vậy kéo dài. Phải đầu hàng thôi. Tôi đành nhận lời và tiếng cười của Từ Nữ Triệu Vương vang lên. Dòn. Hồn nhiên. Trẻ trung. Thân thiết. Và đắc thắng.

Viết gì đây. Cái khó là ở đó. Còn đang nghĩ thì chị đưa thư đến nhà, đưa cho tôi cái giấy mời ra Ngã Sáu nhận tiền. Ghi rõ: 1.000.000 đồng. Tôi biết ngay ai gửi cho tôi. Bởi tôi có in ấn gì đâu mà có nhuận bút. Mang chứng minh thư, sổ hộ tịch ra bưu điện, cô cháu gái sau quầy đã quá quen mặt vẫn hỏi tôi theo thủ tục:

-Ai gửi tiền cho bác?

-Minh Phong.

Cô giở tờ phiếu gửi, vừa đọc vừa cười:

Em kính chúc anh chị nhiều sức khoẻ, bình an và tiếp tục có nhiều cảm hứng sáng tác. Thân yêu. Em Minh Phong.

Ngay lúc ấy trong đầu tôi bật ra nội dung bài báo sẽ phải viết để nộp cho Từ Nữ Triệu Vương, cô phóng viên tôi mới gặp hai lần. Tôi sẽ viết về những tấm lòng bạn đọc đối với tôi. Về Minh Phong, nguyên cán bộ giảng dạy trường Đảng, thư ký toà soạn và bây giờ là phó tổng biên tập báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh. Hai năm rồi (từ 2004), tháng nào Minh Phong cũng gửi cho tôi tiền, mà anh nói là tiền lương. Ban đầu là năm trăm nghìn. Và từ tháng 6-2005, khi Giáng Hương, con gái tôi mất, anh tăng lên gấp đôi. Giấy gửi tiền ghi bằng hai giọng văn. Khúc trên: “Em rất cảm động khi nhận được thư và sách của anh. Đây là quyển sách có thể đọc đi đọc lại (…)” Khúc dưới chuyển gam: “Nhân dịp này, theo đề xuất của bạn đọc gần xa, chúng tôi quyết định tăng phụ cấp của nhà văn xuất sắc Bùi Ngọc Tấn lên 1 triệu đồng/tháng. Yêu kính. Em. M.P.”

Tôi quen Minh Phong khoảng cuối năm 2001 khi vào thành phố Hồ Chí Minh thăm con gái. Và sau đó là điện thoại, là thư từ, là đặt bài, tặng sách… Tất cả những gì tôi viết và in sau 25 năm ngừng bút, từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến hồi ký, Minh Phong đều đọc, không có bản in thì đọc bản phô tô. Khi biết lương hưu của tôi là 160 nghìn một tháng, Minh Phong tròn xoe mắt. Và dù biết các con tôi không để vợ chồng tôi thiếu thốn, Minh Phong vẫn “phát lương tháng” cho tôi. Anh muốn góp một phần của anh cho tôi, trích từ thu nhập của anh. Lương hưu của tôi sau bao lần tăng để chạy theo giá, cho đến tết này là 500.000. Minh Phong chi lương cho tôi gấp đôi: 1 triệu. Tháng nào cũng có thêm 1 triệu đồng. Đều đặn mỗi năm 12 triệu. Một số tiền thật lớn. Và lớn gấp nhiều lần là sự động viên tôi sống. Mỗi tháng nhận lương hưu, tôi lại thêm một lần thấy cuộc đời vô lý. Có Minh Phong, mỗi tháng một lần tôi thấy ấm lòng.

Cô cháu bưu điện Ngã Sáu đã quen mặt tôi nhưng vẫn hỏi: “Ai gửi tiền cho bác?” và chờ tôi nói hai tiếng Minh Phong là đọc những dòng chữ ghi trong giấy gửi tiền: Khi là Chúc anh chị sức khoẻ. Khi là Trước tết em ra Hà Nội có việc. Sẽ xuống thăm anh chị…Rồi nói lúc trao tiền cho tôi: “Bác sướng nhỉ. Viết một bài báo mà được những một triệu. Hôm nào bác viết về chị em chúng cháu bác nhé.” Nét mặt rạng rỡ của tôi khiến cô bưu điện cũng vui. Ôi. Giá cô biết tôi không viết chữ nào cũng được số tiền này.

*

Từ Nữ Triệu Vương cho tôi 2000 từ.

Vậy có thể viết thêm ra đây về một bạn đọc khác. Một bạn đọc ở Hà Nội, tôi chưa biết mặt.

Hà Nội 30 – 7 – 2005

Kính gửi nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Trước hết tôi xin tự giới thiệu: Tôi là một cán bộ ngành ngoại thương đã về hưu. Tôi mê đọc sách, nhưng không phải đọc xô bồ, mà đọc theo sở thích, hợp “gu”, chứ không theo tuyên truyền, quảng cáo hay chỉ đạo nào cả. Tôi đã đọc nhiều tác phẩm của anh, từ Chuyện kể năm 2000, đến truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn, Viết về bè bạn. Tôi khá quen với hiệu sách lớn ở 5 Đinh Lễ Hà Nội. Họ cho biết các sách của Bùi Ngọc Tấn từ lâu không còn trên giá sách. Tôi đến hiệu sách và báo phố Hàng Trống gần cổng báo Nhân Dân tìm sách của anh. Cô bán sách cho biết BNT có quyển Tình yêu tuổi 20 nhưng còn ở Hải Phòng, chưa lên tới Hà Nội. Tôi nhẩy xe dông xuống Hải Phòng, hỏi hết các hiệu sách gần nhà hát lớn, hiệu sách cũ ở phố Ga, xông vào cả nhà xuất bản Hải Phòng nữa. Chẳng ai biết cả. Vậy xin hỏi anh, có quyển sách đó không?(Tôi đã trả lời ông tôi không viết quyển nào như vậy cả-BNT.) Bây giờ tôi xin kể cho anh vài chuyện về nhà văn đáng kính Nguyên Hồng mà tôi là người trong cuộc để anh bổ sung vào tập Viết về bè bạn nếu tái bản:

Một lần, tôi không nhớ chính xác năm nào, song chắc chắn trước năm 1979, tôi đi tầu lửa từ Mat xcơ va về Bắc Kinh. Lúc đến toa ăn, bọn chúng tôi bất kể quen hay không, cứ 6 người làm một mâm, mỗi người góp một tệ. Anh bạn ngồi cùng mâm đưa mắt chỉ cho tôi một ông già nhỏ thó tóc đen, râu dài cũng đen, đang ngồi một mình, nhấm nháp li rượu trắng, bát mì vằn thắn vơi còn một nửa: Nhà văn Nguyên Hồng đấy. Khi cả mâm ăn xong, tôi lân la đến ngồi bên ông. Sau khi chào nhau, ông vẫn ngồi nhấp rượu từ 2 chai trắng nhét trong cái túi đựng những thếp giấy nhầu nát, mắt nhìn cảnh vật lướt qua cửa toa tầu, cứ như là tôi không có ở đấy vậy. Thấy ly rượu của cụ đã cạn, tôi nhanh nhẩu gọi nhân viên phục vụ đem tới chai rượu mầu mời cụ. Nhưng cụ vội khoát tay: “Tôi không uống rượu ấy. Thứ đó là của đàn bà. Cảm ơn anh, tôi có rượu rồi.”

Đến ga Bắc Kinh, khi mọi người đã rời toa, cụ còn nán lại bậc lên xuống, ngửa cổ ngước nhìn tận nóc của toà nhà trước mặt “để xem ga Bắc Kinh nó đẹp như thế nào”. Mỗi lần ngửa như vậy “cái mũ lông tài chính” vốn đã to quá cỡ so với đầu cụ lại rơi xuống đất. Cụ lại nhặt lên, đội, ngắm, cái mũ lại rơi! Các cô phục vụ trên tầu được một mẻ cười.

Lần này là sau năm 1980, cũng không nhớ chính xác năm nào, trên chuyến bay Mat xcơ va – Hà Nội, tôi lại tình cờ gặp cụ. Chắc đó là chuyến cụ đi Tiệp như anh đã nhắc tới trong sách.

Khi transit ở Bombay, tôi thấy cụ cứ đi qua đi lại trước cửa WC có vẻ buồn đái lắm mà không dám vào vì sau cánh cửa có 2 ông ấn Độ cao lớn mặc sắc phục mỗi ông bê một khay khăn lau tay tẩm nước thơm. Ai dùng phaỉ  trả tiền, bằng đô la. Đoán được “nhu cầu cấp bách ấy” của cụ, tôi hiến kế: “Bác có cái khăn mù soa nào trong túi không?” “Có. Có.” Cụ nhanh nhẩu rút ra cho tôi xem. “Được rồi. Bác cứ đi vào giải quyết đi. Lúc ra bác lấy khăn trong túi ra lau tay, để chứng tỏ rằng ta có khăn rồi.” Cụ làm theo lời tôi rồi  đi ra với vẻ mặt thoả mãn và khen tôi: Anh nói chí phải.”(…)

                                                          Vũ Trọng Cường

                               Nhà số 2- Ngõ Đào Tấn- Phường Cống Vị- Hà Nội

 Người bắt phải viết. Người chi lương. Người cho chi tiết. Tôi sinh năm Tuất. Lão già 73 tuổi là tôi, một phó thường dân nghèo túng, bất hạnh, sách ốc chưa từng được lăng xê bỗng hiểu rằng mình giầu có vô cùng, hạnh phúc vô cùng. Lòng yêu quý của bạn đọc đã động viên tôi sống, động viên tôi làm việc và có trách nhiệm với ngòi bút của mình, nhất là khi đã sống qua 6 giáp để lại bước vào năm Tuất.

B.N.T.

Địa chỉ: 10 Điện Biên Phủ HP. ĐT (031)551318

%d bloggers like this: