Nguyên Hồng ở Paris

Một anh bạn nhận xét: Tôi có cơ duyên với Nguyên Hồng. Có vẻ là như thế và nếu  vậy, đó là một may mắn, một hạnh phúc của tôi. Khi tập hồi ức Một thời để mất của tôi  viết về Nguyên Hồng in ra, mấy năm sau tôi nhận được một bức thư từ Pháp:

Vũ Quốc Phan 22 Rue Caillaux, Paris 75013, France

Mallorca 16 – 7- 2001

Thân gửi anh Tấn, chị Tấn và các cháu.

Rất thích thú tôi được đọc và đọc đi đọc lại trong lúc nghỉ hè nơi đây Một thời để mất. Tôi là anh họ Nguyên Hồng. Nhờ ngòi bút của anh mà tôi cảm thấy Nguyên Hồng vẫn sống và có Nguyên Hồng ở bên. Anh đã sống với Nguyên Hồng và tôi dám chắc anh biết Nguyên Hồng còn hơn cả Nguyên Hồng phải không Tấn? Vì thế tôi ao ước được gặp anh bất cứ ở đâu. Tôi muốn thực hiện ao ước đó và sẽ tạo điều kiện để gặp nhau. à mà ngày giỗ Nguyên Hồng 80 tuổi năm 1997 anh có lên Yên Thế dự không? Nếu anh cũng lên thì tiếc quá, vì tôi cũng về Việt Nam, có mặt ở đấy mà anh em không biết nhau mà gặp. Tôi rất thương xót Nguyên Hồng…

Vũ Quốc Phan.

Sau bức thư này ông Phan còn nhiều lần gọi điện cho tôi, và phải tới mùa thu năm 2004, tôi mới có thể sang Pháp gặp ông theo lời mời của ông. Thực lòng khi tới Paris, tôi không nghĩ mình lại có thể hiểu thêm về Nguyên Hồng mà chỉ đi như một chuyến xuất ngoại mà ông Vũ Quốc Phan gửi giấy mời, nhằm tạo điều kiện cho tôi bằng anh bằng em, một chuyến đi du lịch để nhìn thế giới. Một tấm lòng của một bạn đọc phương xa.

Tới Paris, gặp ông bà Phan, tôi mới biết rằng mình đã nhầm. Tình cảm của ông bà Phan đối với tôi thân thiết hơn nhiều, biểu lộ ngay ở tiếng xưng hô. Tôi được ông bà gọi bằng tên hoặc gọi là “chú”. Như một người em và tôi hiểu rằng tình cảm ấy tôi được thừa hưởng qua Nguyên Hồng.

Ông Vũ Quốc Phan năm nay (2004) đã 84 tuổi nhưng vẫn còn rất khoẻ mạnh và sáng suốt. Ông vẫn lái xe Mec xê đét đưa tôi đi chơi Paris cũng như vẫn nhớ như in những ngày tuổi thơ ở Nam Định, tuổi thiếu niên ở Hải Phòng cùng với Nguyên Hồng. Tôi rất thương xót Nguyên Hồng. Câu nói ấy của ông trong thư gửi cho tôi không phải  câu nói cho có vẻ văn chương mà là tấm lòng của ông với Nguyên Hồng, một cái tình vừa anh em ruột thịt vừa bè bạn. Tất cả những gì dính dáng đến Nguyên Hồng có trong tay đều được ông lưu giữ, bảo quản rất cẩn thận. Tới Paris rồi đến quận 13, một trong những quận sầm uất nhất của kinh thành ánh sáng, điều thật bất ngờ là tôi được “gặp” Nguyên Hồng ở đó. Có lẽ đó là món quà lớn nhất trong chuyến tôi sang nước Pháp mà số phận đã dành cho tôi. Không chỉ được đứng trước tháp Effeil, ngồi trong nhà thờ Đức Bà nghe hát thánh ca, tới Khải Hoàn Môn hay lâu đài của bọn cướp biển Viking sát bờ biển Normandie, về Orleans, ngược lên Lille mà tôi còn được “gặp” Nguyên Hồng trong một căn buồng phố Caillaux yên tĩnh, nơi ông bà Vũ Quốc Phan cư ngụ. Đúng là tôi có cảm giác gặp Nguyên Hồng khi ông Vũ Quốc Phan đưa cho tôi xem những bức thư của Nguyên Hồng gửi ông bà, những quyển sách có chữ đề tặng của Nguyên Hồng và đặc biệt tấm ảnh Nguyên Hồng chụp với ông Phan năm 1936. Một bức ảnh vô giá. Năm 1936 là năm Nguyên Hồng đã hoàn thành Bỉ Vỏ, tập tiểu thuyết đầu tay của ông, tập tiểu thuyết ngay tức khắc đưa Nguyên Hồng từ một thiếu niên nghèo túng vô danh trở thành một nhà văn lớn, một người của thời đại, tên tuổi mãi mãi ngời sáng trong lịch sử văn học. Tôi hiểu rằng mình đang cầm trong tay một bức ảnh của lịch sử và cứ ngắm mãi hai người trong ảnh.  Đó là hai thiếu niên cởi trần, gầy gò khoác vai nhau cười trong tư thế một chân quỳ một chân chống, cánh tay tỳ trên gối, bàn tay nắm lại thành nắm đấm nhô ra từ một khuôn cửa.

Nguyên Hồng và Vũ Quốc Phan chụp ở Đồ Sơn năm 1936 sau khi viết Bỉ Vỏ

Ảnh: Nguyên Hồng (phải) và Vũ Quốc Phan chụp ở Đồ Sơn năm 1936 sau khi viết Bỉ Vỏ

Ông Phan cười:

-Tấn thấy không? Hai lực sĩ đấy. Hai lực sĩ trơ xương, nắm chặt tay gồng lên cho nổi cơ bắp.

Tôi nhìn tấm ảnh và nhìn ông Phan. Tôi nhận ngay được ông trong ảnh. Dù cách nay đã hơn 60 năm, ông vẫn nguyên một nét mặt ấy. Còn Nguyên Hồng, quả thực không thể nhận ra. Không thể nào nhận ra được chàng lực sĩ nhí đang co tay cho nổi gân cốt, con chuột ở bắp tay phồng lên kia là người vừa viết xong Bỉ Vỏ với những suy nghĩ sâu sắc già dặn như vậy về kiếp người.

Ông Phan sinh năm 1920, sau Nguyên Hồng 3 năm (theo ông Phan, Nguyên Hồng sinh năm 1917, đúng vào năm Cách Mạng tháng Mười Nga). Bố ông Phan và mẹ Nguyên Hồng là hai anh em ruột. Ông nội ông Phan và cũng là ông ngoại Nguyên Hồng là cụ Tuần Cáng ở làng Phù Long Nam Định. Năm 1926 xẩy ra dịch tả chết rất nhiều, bố mẹ ông Phan mất vì dịch, ông Phan về ở phố Hàng Cót Phù Long với ông bà nội. Cụ Tuần Cáng có ba người con: Người con cả vẫn gọi là bác giáo Toản, người con thứ hai là ông  Vũ Đình Phúc bố ông Phan và cô gái út, bà Vũ Thị Vui, mẹ Nguyên Hồng, cô Vui theo cách gọi của ông Phan. Ngày ấy cô Vui buôn bán,  cất hoa quả, rau củ ở Vân Nam về bán ở chợ Rồng.

-Hồng nó láu lắm. Toàn ăn dỗ tôi thôi.

Nhớ lại thời niên thiếu xa lắc xa lơ, ông Phan cười nói với tôi. Bé bỏng, 6 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ, được ông bà thương, nhất là bà, thỉnh thoảng lại dấm dúi cho vài xu. Không hiểu sao, mỗi khi ông Phan có tiền, Nguyên Hồng biết ngay, đến gạ gẫm đánh bi đánh đáo. Và lần nào ông Phan cũng thua “cháy túi”. Bà nội biết, cốc vào đầu Nguyên Hồng: “Cha tiên nhân cái thằng này, từ rầy bà không cho mày đến đây nữa.” Nhiều khi chính ông Phan bị bà củng đầu, không cho chơi với Nguyên Hồng. Nhưng làm sao không chơi được. Nguyên Hồng là em nhưng lớn hơn, đọc sách nhiều, là cả một kho chuyện, biết bao nhiêu trò chơi, đánh đáo đánh bi thì khỏi nói. Lại còn từ Phù Long đi bộ lên tỉnh học qua phố Lò Sũ, nơi cô Vui và Nguyên Hồng ở, sao không ghé vào cho được. Bà nội buôn chuyến, từ Nam Định về Hải Phòng, nơi bác giáo Toản mở trường học gọi là trường Đông Hải. Khi đi mang trầu cau, giao ở chợ Sắt và khi về mang tôm cá hoa quả cho cô Vui bán ở chợ Rồng. Mỗi lần đi xa, bao giờ bà nội cũng kho cho cháu một nồi thịt hay một nồi cá kho để cháu ăn dần. Thỉnh thoảng bà cho cả tiền, nhưng thật ít khi ông Phan được tiêu, mà thường vào túi Nguyên Hồng.

Bùi Ngọc Tấn và ông bà Vũ Ngọc Phan

Ảnh: Bùi Ngọc Tấn và ông bà Vũ Ngọc Phan

-Thuở nhỏ, bố mẹ mất, tôi chỉ có Nguyên Hồng là bạn. Đi đâu cũng có nhau. Trời rét cắt ruột, tôi nhất định không ở nhà với ông bà, đòi bằng được đến Lò Sũ ngủ với Nguyên Hồng. Hai thằng rải ổ, đắp chiếu, nằm co ôm nhau, được chân hở đầu, được đầu hở chân. Chúng tôi rất quý nhau, không bao giờ tôi tố cáo Nguyên Hồng nhưng chẳng gì giấu được bà nội. Cụ rất thương tôi, luôn dành phần hơn cho tôi. Ngày tết cụ may hai cái áo dài cho hai cháu, bao giờ tôi cũng được ưu tiên chọn trước, rồi mới đến lượt Nguyên Hồng. Nguyên Hồng rất giống mẹ. Giống nhất ở tật nói lắp. Cô Vui cũng nói lắp.

Hai chúng tôi cùng cười. Tôi nhìn khuôn mặt phúc hậu của ông Phan, nhân chứng sống duy nhất còn lại của Nguyên Hồng một thời xa xưa ấy mà cảm thấy mình thật may mắn.

-Nguyên Hồng xoay sở rất giỏi. Có hôm đánh bạc được tiền, xâu vào giải rút lõng thõng, trông thấy bố, vội lấy tay ôm bụng. Bố hỏi: “Mày đau bụng à?” “Không.” “Bỏ tay ra tao xem.” Nguyên Hồng bỏ tay ra, chùm xu rơi thõng xuống. Bố bảo: “Cho tao vay.” Lại mếu máo nhưng rồi cũng phải cho bố vay, nhưng chỉ cho vay một nửa. Lại có lần bố đưa tiền đi mua thuốc phiện. Cầm tiền bố đưa, Nguyên Hồng đi đánh đáo thua hết, biến mất. ở nhà bố chờ, cơn nghiện đến, điên lên. Nguyên Hồng không dám về. Cô Vui phải đi tìm Nguyên Hồng. Về đến nhà, Nguyên Hồng sụp xuống lạy bố: “Con trót dại.” Bố đánh. Đánh đau. Roi mây vun vút. Cô Vui ngồi gian ngoài nghe tiếng roi, tiếng thét cũng ôm mặt khóc.

Cũng theo ông Phan, một trong những lý do khiến Nguyên Hồng giỏi văn là vì Nguyên Hồng phải đọc nhiều sách cho bố nghe. Cứ những lúc bố nằm trong màn với chiếc bàn đèn là Nguyên Hồng phải chui vào, đọc truyện. Ngày ấy gia đình Nguyên Hồng ra Hải Phòng ở Ngõ Cấm Đông Khê. Ông Phan cũng ra Hải Phòng ở với bà bác. Em gái ông Phan, cô Vân ở với Nguyên Hồng nhiều lắm. Nguyên Hồng là lớn, chỉ có một người em gái: cô Quế. Ông Phan và Nguyên Hồng thân thiết như hai anh em ruột. Lớn lên hai anh em càng thêm gắn bó, nhất là khi Nguyên Hồng đi tù về, cho dù gia đình rất sợ ông Phan bị bắt, bị ghi sổ đen. Hai người không dám đi với nhau, nhiều khi muốn gặp nhau phải nhắn tin qua người thứ ba. Đã nhiều lần ông Phan phải đến Tân Dân Thư quán để gặp Nguyên Hồng ở đấy mà không dám đi cùng nhau trên phố.

-Thời gian viết Bỉ Vỏ, Nguyên Hồng có nói gì với anh không?

-Em đang viết một tập. Một tập tiểu thuyết chưa từng có. Nguyên Hồng nói với tôi như vậy. Nghe thì biết thế thôi, chứ cũng không ngờ đó là quyển sách làm Nguyên Hồng nổi tiếng đến thế.

Ông Phan kéo tôi từ phòng khách vào buồng riêng, lấy ghế mời tôi ngồi trước một chiếc bàn lớn có nhiều ngăn kéo và lôi ra từ đó không biết bao nhiêu sách có chữ đề tặng của Nguyên Hồng. Này đây Bỉ Vỏ: Tặng anh chị Phan – Mai, những dòng chữ đầu tiên của những ngày đau khổ của gia đình ta ở Hải Phòng xưa. Nguyên Hồng. 27-2-1958. Tập Lò Lửa: Tặng anh chị rất thân yêu. Nguyên Hồng. Kỷ niệm mùa Xuân 1958 Hà Nội. Tập Những nhân vật ấy đã sống với tôi: và cũng sống với anh nữa đấy, bác giáo Toản và cậu Tha của chúng ta. Tập Địa Ngục: Gửi anh chị Phan – Mai những hình ảnh đau xót của dân tộc những năm 1944-1945 đã qua. V.v.. Tập sách cuối cùng Nguyên Hồng tặng ông Phan là quyển Thời kỳ đen tối: Những ngày này anh và tôi mỗi người một cảnh sống thật đáng ghi nhớ. Hà Nội 6-2-1982.

 Và đây một bức thư của Nguyên Hồng gửi ông Phan dài ba trang pơ luya, đặc kín những dòng chữ “xô vào nhau gập ghềnh lên xuống”: (…) Phan và tôi chúng ta đã đi cuộc đời của chúng ta bằng bốn cẳng chân và bốn cánh tay của hai đứa trẻ mồ côi. Tôi viết sách giữa những cánh thanh niên cùng tuổi sa ngã truỵ lạc và cam chịu những hèn nhục đâù hàng. Phan ra đi, tưởng chỉ còn là thân lạc loài, giờ thành một chuyên gia, có thể gọi là ưu tú. Chúng ta, trước dân tộc, trước mắt mọi người, trước cha mẹ dưới suối vàng, trước những người thân đã nhắm mắt, chúng ta có thể nhìn thẳng và nói mấy câu: Chúng con đã thắng! Chúng con đã thật là người! Chúng con sẽ còn góp nhiều sức nữa để làm tròn nhiệm vụ của những kẻ đã qua những đau xót và tiến lên đời sống tươi sáng, vinh dự chân chính của con người cần lao.

Anh Thịnh, anh Phụng, tất cả những lớp tuổi như thế, anh em của chúng ta phải cùng chúng ta tiến. Tôi cũng như anh, hiện nay không có cả pardessus, không có cả complet rét nữa. Tôi quyết cho đến lúc tiến hẳn được lên xã hội chủ nghĩa, thì để các con mặc đồ len, còn tôi chỉ vareuse da hay cái áo bông. Thằng Hà, hiện nay ở Trung Quốc về, tôi đã tập cho gánh nước đỡ mẹ. Rồi đây khi tôi trở về nông thôn nghiên cứu vấn đề ruộng đất, tôi sẽ cùng các cháu làm ruộng, làm vườn. Ngày kháng chiến, bà đi từ mờ sáng, nắm cái nắm cơm bằng bàn tay với muối vừng, vào trong rừng Yên Thế kiếm củi. Cứ chiều nào bà chậm về, các cháu lại ra đứng ở bờ đồi trông đợi. Nhưng về sớm lại lo. Cái bóng lệch xệch gánh củi đi giữa con đường nắng, trên trời và mặt đất âm ả tiếng Dakota bỏ bom, tiếng B26, tôi trông mẹ xa xa, thấy đau quặn từng khúc ruột. Đã có ngày cả nhà chỉ có một buồng chuối, dấm từ lúc xanh đến khi chín, không dám ăn, đem đi bán làm vốn buôn, lần hồi được tuần lễ. Lúc cắt chuối, có những mẩu thối, trông đi trông laị thấy mất, nhìn các con thì thấy phúng phính nhai, tôi vội móc mồm chúng nó ra mà không được!

Bây giờ đã không còn tiếng súng giặc, không còn những cảnh lấy đêm làm ngày, mẹ con bà cháu đoàn tụ, làm ăn dù khó khăn cũng chứa chan hạnh phúc. Chỉ cần chịu khó, chịu khó nữa cho qua bước đầu này. Phải không anh chị Phan – Mai, chúng ta sẽ nhất định lại thắng. Thôi nhé. Để thư sau viết dài hơn. Hôn anh chị và các cháu.

                                                                                          Nguyên Hồng

Tái bút. Gói quà của anh, tôi đã uỷ nhiệm cho chồng cô Quế đi lĩnh. Khi nào bà lên chơi sẽ cầm lên. Lần sau anh đừng gửi nhiều quà bánh như thế. Cam, chuối, dứa, nhãn bên nước nhiều lắm. Nhà không dư thừa nhưng các cháu cũng có luôn. Còn tôi, anh chị cho gì tôi xin nhận. Nhưng cũng xin nói lại anh chỉ cần được thư luôn của anh chị và các cháu là mừng nhất. Cùng chuyến này tôi gửi tặng anh chị cuốn Bỉ Vỏ và Những ngày thơ ấu. Cuốn Bỉ Vỏ trước kia hồi Pháp thuộc đã có người định viết thành truyện phim và quay phim. Chiến tranh phát xít bùng cháy, cuốn đó bị cấm. Nay bên Liên Xô dịch ra tiếng Nga. Tôi đã nghĩ đến anh, đến cháu. Sau đây chính những tác phẩm của tôi mà được chính những người thân thiết hiểu biết mình dịch ra thì sung sướng biết mấy. Tôi nghe nói, năm 1946, lúc phái đoàn chính phủ Việt Nam sang, cuốn Địa Ngục của tôi, trong đó gồm có những chuyện về cảnh đau khổ chết đói hai triệu người năm 1945, được đưa sang và có mấy truyện kiều bào đã dịch ra tiếng Pháp, phổ biến trong anh em lính thợ. Nếu có như thế và còn những bản bằng tiếng Pháp, anh Phan sưu tầm được thì gửi cho tôi.

Chuyến sau tôi sẽ gửi Địa ngục và Lò lửa là hai tác phẩm viết về cách mạng và đời sống đặc biệt của nhân dân Việt Nam những năm phát xít quân phiệt Nhật thống trị. Trong hai tác phẩm này, có nhiều truyện trích vào văn tuyển dạy ở các trường trung học Việt Nam. Càng nghĩ càng thấm thía về cuộc đấu tranh của dân tộc. Nếu không có cách mạng và kháng chiến thì làm sao trí thức chúng ta có được địa vị cao quý, làm sao chúng ta phát triển được tài năng? Làm sao chúng ta sống được? Và làm sao chúng ta không làm việc nhiều nữa? nhiều nữa!

                                                                                Hôn thêm các cháu

                                                                               Nguyên Hồng

Thư đề ngày 27 tháng 2 năm 1958. Đó là những ngày sóng gió của Nguyên Hồng. Anh đã mất chức chủ bút tuần báo Văn. Đã bị kiểm điểm lên xuống vì “đã làm báo Văn đi trệch đường”. Anh đã đưa cả gia đình từ Thủ Đô về Yên Thế. Nhưng không có gì làm Nguyên Hồng giảm đi lòng yêu nhân dân lòng yêu đất nước và chùn bước trên con đường  sáng tạo nghệ thuật. Cùng với bức ảnh chụp chung với Nguyên Hồng năm 1936, ông Phan còn đưa tôi một bức ảnh khác, một bức ảnh chân dung Nguyên Hồng cỡ 4×6. Tôi lật mặt sau tấm ảnh. Một chữ ký của Nguyên Hồng, dưới đề: 1957. Chiếc ảnh anh bóc ra từ tấm thẻ nhà báo khi còn ở báo Văn để tặng ông Phan, còn in dấu nổi của Sở Báo chí. Một Nguyên Hồng mặt chữ điền trẻ trung đẹp trai thông minh kiên nghị vừa tròn 40 tuổi đang trước mắt tôi. Một Nguyên Hồng trẻ hơn tôi bây giờ 30 tuổi. Cầm bức ảnh tôi không thể không nghĩ đến khi tôi mới tuổi 20, không thể không nghĩ đến bước ruổi khủng khiếp của thời gian…

NguyenHong_1957

Ảnh: Nguyên Hồng thời làm chủ bút báo Văn bị đình bản.

Nguyên Hồng gửi sách mình viết cho ông Phan. Ông Phan cũng gửi rất nhiều sách về cho Nguyên Hồng. Chủ yếu là những sách Nga và Liên Xô. Người mẹ của Gooc ki, Thép đã tôi thế đấy của Ô xtrôp xki, Anna Karenina, Chiến tranh và hoà bình của L. Tôn xtôi, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang của Sô lô khôp… Có thể nói tủ sách tiếng Pháp của Nguyên Hồng khá phong phú là nhờ ông Phan. Đó cũng là điều Nguyên Hồng viết trong thư: “Còn tôi, anh chị cho gì tôi xin nhận.” Tất nhiên kèm theo sách là quần áo ấm, thuốc men. Có một lần, ông Phan gửi về cho Nguyên Hồng một con dao cạo râu chạy điện Remington loại  mới nhất hồi đó. Hải quan Việt Nam đánh thuế cao vì là hàng xa xỉ. Nguyên Hồng không nhận. Hơn nữa, năm ấy Nguyên Hồng cũng đã để râu rồi.

Tháng 2 năm 1982, ông Phan về nước gặp Nguyên Hồng sau 42 năm xa cách và đó cũng là lần gặp nhau duy nhất. Hai người nói biết bao nhiêu chuyện. Ông Phan đã trao cho Nguyên Hồng những bức thư của những người bạn bị giam trong nhà tù quân sự trên nước Pháp vì “tội” tổ chức chống lại chính phủ Pháp, về anh em lính thợ Việt Nam bị bọn Đức cầm tù trong thế chiến thứ hai, về công lao anh em lính thợ đã đưa lúa nước vào nông nghiệp Pháp…

Nguyên Hồng vẫn nuôi mộng viết một tập sách về hai người -hai anh em- cùng chung một mục đích nhưng đi hai con đường khác nhau và dặn ông Phan sưu tầm lưu giữ những tài liệu về anh em lính thợ. Tập sách chưa được viết ra ấy dựa trên nguyên mẫu hai người: Nguyên Hồng và Vũ Quốc Phan. Tháng 12 năm 1939, sau khi thi certificat xong và học thêm hai năm nữa, chàng thanh niên mồ côi thất nghiệp Vũ Quốc Phan rời quê hương sang Pháp, sung vào đoàn lính thợ. Nhờ giỏi tiếng Pháp, ông được làm phiên dịch. Hết hạn ông thi vào trường kỹ thuật. Không có tiền theo học, cũng giống như Nguyên Hồng ở Việt Nam, ông Phan đi dạy học, dạy con em Việt kiều tại Pháp. Năm năm học, điểm số trung bình của Vũ Quốc Phan tăng dần từ 14 lên 19 điểm. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực phát thanh và trở thành giám đốc kỹ thuật đài phát thanh Europe I của Pháp. Hội nghị Fontainebleau năm 1946, chính ông Phan là người chịu trách nhiệm về âm thanh. Tại đây, ông đã được gặp Chủ Tịch Hồ Chí Minh, được Chủ Tịch tặng một tấm ảnh có chữ ký của Chủ Tịch bằng bút máy. Suốt cuộc hoà đàm Paris thời chống Mỹ kéo dài 6 năm, cũng lại chịu trách nhiệm về kỹ thuật, ông Phan đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà và Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam cùng những sự giúp đỡ quý báu khác về liên lạc, về thu nhận và truyền tin mà hiện nay chưa tiện công bố. Ông Phan kể cho Nguyên Hồng biết ông đã cho bà Nguyễn Thị Bình mượn ô tô hàng ngày đi họp và những việc ông vận động ủng hộ cách mạng Việt Nam trong hàng ngũ Việt kiều, cho Nguyên Hồng xem những biên lai ghi số tiền ủng hộ cách mạng Việt Nam: Quỹ Cứu quốc, Tổ chức Việt Nam ái hữu…, thư của ông Trần Ngọc Danh thay mặt Hồ Chủ Tịch chúc mừng năm mới, giấy mời của ông Nguyễn Duy Trinh, bà Nguyễn Thị Bình mời ông Phan đi dự chiêu đãi tại Salons de Hôtel Lutetia…

Nguyên Hồng rất xúc động nói: Quý quá. Những cái này gợi cho em rất nhiều.

Thời gian về Việt Nam ở nhà Nguyên Hồng, ông Phan rất buồn thấy nhà phải đi xin, đi mua tem gạo, đong cho khách ăn. Lại còn những điều mắt thấy tai nghe khác. Thế rồi một buổi chiều hai người bắc ghế ra sân nhìn hoàng hôn Yên Thế, bỗng nhiên ông Phan hỏi:

-Anh ngạc nhiên về sự im lặng của em. Trước khi anh ra đi, em còn dám viết Bỉ Vỏ. Tình trạng hiện thời không thiếu Bỉ Vỏ mà em không viết gì cả.

-Hồng nó ôm lấy tôi. Ông Phan nói giọng nhẹ nhàng. Nó bảo tôi: Anh ạ. Hãy cứ để kệ mọi chuyện ấy đấy. Sau khi em chết mọi người sẽ biết. Cái phần gì của em, anh đem ra đi.

Ông cười:

-Tức là rượu uýt xki. Tôi đem rượu ra hai anh em uống. Nguyên Hồng vẫn dặn tôi: Có những tài liệu gì hay ở bên ấy anh hãy giữ lại hộ em. Đúng như Tấn viết: Hồng nó cứ tưởng nó còn sống lâu, còn thời gian để viết những điều nó nghĩ. Nó chết mà chưa viết được ra là nó ân hận lắm đấy.

Ông đưa cho tôi xem những tập tài liệu mới sưu tầm thêm cùng với những tấm ảnh ông chụp ở mộ Nguyên Hồng, giọng buồn buồn:

-Năm 1984 tôi lại về Việt Nam, định mang những thứ này về cho Hồng thì nó chết rồi.

 

                                                  *

 

Trước khi ra sân bay về nước, tôi đến chào ông bà Phan. Mở chai sâm banh, nâng ly mời tôi, ông Phan nhìn tôi như nhìn một người em mình sắp chia tay. Vẫn với giọng nhẹ nhàng thân thiết, ông hỏi:

-Giáng Hương thế nào rồi?

Giáng Hương là tên một nhân vật của Nguyên Hồng và cũng là tên con gái tôi. Ngày bé, cháu thường ngồi lên lòng Nguyên Hồng và vít bát của anh xuống khi anh ăn uống cùng tôi. Lớn lên, cháu hay nướng mực khô cho bác Nguyên Hồng uống rượu. Những chuyện ấy tôi đã viết trong “Một thời để mất” và ông Phan đã đọc.

-Thưa anh chị, cháu Giáng Hương năm nay đã ngoài 40 tuổi rồi ạ. Cháu dạy học.

– Sáng mai Tấn bay à? Va li đầy chưa?

-Dạ. Va li đầy rồi ạ.

-Có còn chỗ cho một cái áo nữa không?

Tôi cười:

-Thưa còn.

Ông Phan vào nhà lấy ra một gói nhỏ, một chiếc áo khoác da mầu Dullhin và nói với giọng đầy trìu mến:

-Của Giáng Hương. Để Giáng Hương trời mưa mặc đi làm. Cứ nói với Giáng Hương là áo này của bác Nguyên Hồng. Bác Nguyên Hồng cho. Nhé.

 Tôi bỗng cảm thấy không chỉ ông Phan mà cả Nguyên Hồng nữa đang ngồi trước mặt tôi.

 Hải Phòng 11-2004

Advertisements
%d bloggers like this: