Nghệ thuật đã làm được những gì hơn nó có thể làm

Xin trân trọng giới thiệu tham luận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn tại Hội Thảo “Văn học Việt Nam – Hoa Kỳ sau chiến tranh” do trường đại học Văn hoá Hà Nội và trung tâm William Joiner (UMASS Boston) đồng tổ chức (1/6- 3 /6 /2010). Tham luận này đã được in trong tập Con đường đi tới cái đẹp do nhà xuất bản Trí Thức ấn hành.

Tôi không nhớ chính xác thời điểm nhà văn Lê Lựu một mình chính thức sang thăm nước Mỹ theo lời mời của trung tâm William Joiner (WJC), một tổ chức phi chính phủ do một số chiến binh đã tham chiến ở Việt Nam sáng lập. Hình như là khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Đó là quãng thời gian cực kỳ khó khăn của nước ta. Chiến tranh chống Mỹ, thống nhất đất nước. Chiến tranh biên giới Tây Nam. Chiến tranh biên giới phía Bắc. Ba cuộc chiến tranh liên tiếp vừa kết thúc. Việt Nam bị tàn phá, bao vây, cấm vận, cô lập. Và trong nước cũng như ngoài nước, nhiều luồng ý kiến trái ngược nhau về nước Mỹ, một siêu cường mới đây thôi còn là kẻ thù đã rải xuống Việt Nam bao nhiêu bom đạn.

Tôi cũng không nhớ Lê Lựu đã ở Mỹ bao lâu với tư cách là một nhà văn, một người lính. Chỉ nhớ rằng khi về nước, anh đã nói chuyện ở một số nơi về chuyến đi vừa kết thúc. Người ta ghi âm buổi nói chuyện của anh. Người ta in thành băng. Người ta gọi nhau, tập trung lại nghe. Đó là một thời sự lớn. Chính tôi đã cùng nhiều người khác chụm đầu lắng nghe anh qua một cuộn băng không biết là sao chép lần thứ bao nhiêu. Hiện tượng đó nói lên một điều: Chúng tôi cũng như nhân dân khát khao biết bao một cuộc sống hoà bình, là bạn với tất cả các nước trên thế giới kể cả nước Mỹ.

Chiến tranh đã qua đi những những mất mát đau thương còn nóng hổi và lòng thù hận, những định kiến, nhìn nhau qua đôi mắt kẻ thù vẫn còn đó trong nhiều người kể cả những nhà hoạch định chính sách của hai phía. Những chiến hào phảng phất mùi thuốc súng vẫn còn ngăn cách giữa Việt Nam và Mỹ.

Chuyến đi của Lê Lựu, một chuyến đi vất vả khó khăn do hai nước chưa có quan hệ ngoại giao là giọt nước đầu tiên mở đầu công việc làm tan băng trong quan hệ giữa các cựu chiến binh hai nước.

Và từ đấy, biết bao nhiêu nhà văn và nghệ sĩ đã tới Mỹ theo lời mời của WJC cũng như của những tổ chức phi chính phủ Mỹ khác. Những người ở hai chiến tuyến từng nã súng vào nhau đẫ đến với nhau. Ban đầu chỉ là những nghi thức, không được tự nhiên, hai nhóm ngồi đối diện nhau, chủ yếu là để đọc diễn văn, và nói chuyện một cách khô cứng.

Ảnh: Các nhà văn Việt Nam và Mỹ chụp ảnh kỷ niệm

Nhưng những lời mời, những cuộc viếng thăm vẫn tiếp tục. Và dần dần những cuộc gặp gỡ sau này không còn diễn ra theo nghi thức nữa. Họ đến với nhau bằng những tấm lòng, những trái tim hướng thiện, có trách nhiệm cao với cuộc sống, cùng muốn khép lại quá khứ, vì quá khứ dù sao cũng đã là quá khứ, mà cuộc sống là phải nhìn về phía trước. Hơn thế họ là những nghệ sĩ mà nghệ sĩ nào trái tim không đầy ắp yêu thương. Trong một lần tới Mỹ, Dương Tường đã viết nhanh một bài thơ khi đứng trước bức tường ở Wasington DC, ghi tên trên 50 nghìn lính Mỹ tử trận ở Việt Nam:

Bởi lẽ mình với cậu

chưa hề biết nhau

nên mình đến

 

Bởi lẽ cậu bỏ lại mẹ cha

cùng người hôn ước

Và mình cũng từng giã biệt vợ con

nên mình đến

 

Bởi lẽ tình yêu mạnh hơn thù hận

Và có thể bắc cầu qua mọi đại dương

nên mình đến

 

Bởi lẽ cậu không trở lại

còn mình đã có ngày về

nên mình đến

 

Bài thơ của anh đã được in ở Mỹ. Nữ nhiếp ảnh Ellen Kaplowitz đã viết bài thơ lên một tấm pa nen lớn đặt ngoài cửa ra vào triển lãm của chị. Còn hoạ sĩ Rodney Dickson thì in bài thơ vào thiếp mời triển lãm của mình có tên là Life ~ Death (Sống – Chết) ở New York.

Vâng. Tình yêu mạnh hơn thù hận và bắc cầu qua mọi đại dương. 

Những cuộc gặp gỡ giữa những người hai bên chiến tuyến đã từng nổ súng vào nhau giờ đây không chỉ có những bài diễn văn viết sẵn. Mà là những hồi ức chiến tranh, những chuyện tâm tình. Đạo diễn Trần Văn Thuỷ, trong Nếu đi hết biển đã thuật lại một buổi nói chuyện giữa anh và Wayne Karlin, nhà văn tác giả của nhiều tập tiểu thuyết, giáo sư văn chương tại College of Southern Maryland, về chiến tranh Việt Nam mà hai người ở hai chiến tuyến, hơn thế, còn cùng trong một mặt trận. Trần Văn Thuỷ ôm máy quay phim chạy bộ dưới đất hoặc nấp dưới lùm cây còn Wayne Karlin ngồi trên trực thăng xả súng đại liên xuống đất. Thuỷ hỏi Wayne: “Từ trên trực thăng, khi anh bắn, anh thấy cái gì?” Wayne trả lời: “Thường thì không rõ lắm, có khi chỉ thấy các lùm cây động đậy”.

-Tôi kêu lên: “Thế thì suýt nữa anh đã bắn chết tôi rồi!”- Thuỷ kể lại. Wayne gần như khóc: “Trong các cuộc chiến, khi bắn giết nhau, người ta không hề nhận diện ra nhau, đó là điều tệ hại nhất của chiến tranh.”

Wayne đã tặng Trần Văn Thuỷ một bức ảnh chụp thời trai trẻ, mặc quân phục, trên trực thăng, bên cạnh khẩu đại liên với lời đề tặng: “Tặng anh Trần Văn Thuỷ. Tôi rất mừng là gặp anh vào thời điểm này chứ không phải lúc tôi chụp bức ảnh này. Hoà bình người anh em. Wayne Karlin.”

Cũng với nỗi ghê sợ khi con người trong chiến tranh không có gương mặt ấy, Wayne đã kể với Trần Văn Thuỷ khi ông gặp nhà văn Việt Nam Lê Minh Khuê:

– Tôi nhìn chị ấy qua cái bàn ăn ở nhà bếp và tôi đã thấy một khuôn mặt con người, mà hồi đó chiến tranh đã cố gắng biến khuôn mặt đó thành những gì không phải con người, là một cái gì phải giết chết nếu không thì mình sẽ bị giết… Chúng ta viết văn là nhằm khẳng định khuôn mặt con người, những người từng bị coi là không có khuôn mặt.

Có lẽ nhiều nhà văn Mỹ và Việt Nam cùng chung ý nghĩ với Karlin. Viết về chiến tranh để khẳng định khuôn mặt con người, về nỗi buồn chiến tranh không có đàn ông không có đàn bà như Bảo Ninh từng nói. Viết để kêu gọi tình yêu thương con người, rằng hãy đừng để chiến tranh xẩy ra, hãy sống trong hoà bình, hợp tác hữu nghị để cuộc sống con người trên trái đất ngày một tốt đẹp hơn. Rất nhiều tác phẩm văn học viết về chiến tranh Việt Nam đã được các cựu chiến binh Mỹ sáng tác mà chúng ta chưa được đọc. Nhưng nhiều sáng tác của Việt Nam về đề tài chiến tranh đã được dịch và được đọc ở Mỹ. Đặc biệt là quyển tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh.

Ảnh: Nhà văn BNT và nhà văn Bảo Ninh cùng 2 nhà văn Mỹ

Một cựu binh Mỹ sau khi đọc Nỗi buồn chiến tranh đã viết: “Là một lính thuỷ đánh bộ, tôi đã chiến đấu chống lại anh ta vào năm 68-69 và đã có mặt ở Sài gòn năm 75 khi anh ta có mặt ở đấy. Tôi tự thấy mình có sự hối tiếc đối với những người lính Băc Việt và có chút gì đó xấu hổ vì đã gây ra những nỗi buồn anh ta đã viết ra. Cuốn sách này cần cho tất cả các cựu binh đã chiến đấu ở Việt Nam.”

Nỗi buồn chiến tranh đã kéo người lính ở hai bên chiến tuyến đến với nhau, giúp hai bên hiểu nhau, nhìn nhau thấy cùng là con người và còn hơn thế.

Ông Dennis Mansker thành viên của hội cựu chiến binh vì hoà bình, hội cựu chiến binh Việt Nam chống chiến tranh, tác giả nhiều tác phẩm viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, bất ngờ được đọc Nỗi buồn chiến tranh đã choáng váng vì xúc động. Ông nói: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc. Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau có tính phổ quát của những người lính ở mọi bên xung đột, và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề binh nghiệp. Bảo Ninh thực sự là bạn chiến đấu của tôi, cho dù anh ta ở phía bên kia.”

Chỉ có nghệ thuật mới khiến một người bên này chiến tuyến nhận một người bên kia chiến tuyến là bạn chiến đấu.

Trong trường hợp này, tôi muốn nói: Nghệ thuật đã làm được hơn những gì nó  có thể làm.

B. N. T.

%d bloggers like this: