Con chó sân sau

Con  chó  sân  sau

 (Như là) Truyện ngắn

Tôi biết tin quyển tiểu thuyết của tôi bị cấm khi vừa chia tay mấy người bạn bên bàn bia cỏ vỉa hè trở về nhà. Vốn không phải dân bia rượu, nhưng chiều hôm đó tôi đã hơi quá chén. Bởi cuộc bia ngẫu hứng này được tổ chức là vì tôi. Những vại bia lạnh thấu cổ, lạnh tới ngực, lạnh xuống tận bụng  được mọi người nâng lên đặt xuống là để thêm men, thêm lời chúc mừng tập sách còn đang trong thời gian lưu chiểu nhưng đã ánh lên những tia sáng của một buổi sớm mai và sự cựa mình của gió. Nhiều người đã tìm mua, có người mua đến mấy chục quyển để tặng bạn. Người gọi điện, người viết thư chúc mừng. Cả những bức thư cảm ơn vợ tôi, “nhờ có chị mà những điều vô ngôn đã được nói thành lời” “cầu cho cuộc đời chính thống biết chấp nhận nó”. Nhiều nhà thơ đã gửi cho tôi những bài thơ đầy cảm xúc viết ngay giữa đêm khuya khi vừa đọc xong tập sách. Rõ ràng nó đã tạo nên dư luận, hứa hẹn một thành công hằng mong ước.

Rời bàn bia, lòng đầy ắp niềm vui, vừa bước vào cửa, đã thấy vợ tôi đi như chạy từ phía trong ra:

-Sách của mình bị cấm rồi!

Tôi tỉnh hẳn men bia dù vẫn chưa hiểu việc gì đã xẩy ra và liền sau đó một câu trách giống như một lời than của vợ:

-Bao giờ xẩy ra chuyện thì ở nhà cũng chỉ mỗi mình em.

Tôi đã hiểu. Giờ thì đã hiểu. Đã có cảm giác. Cảm giác bị giáng một đòn, bị xúc phạm, lăng nhục! Như mấy chục năm trước trong phòng hỏi cung khi nghe những lời mạt sát, vu cáo, phải lấy hết sức bịt miệng một ngọn núi nghẹn ngào. Nhìn dáng người nhỏ bé, nét mặt lo lắng, thất vọng của vợ, thương quá. Họ đã tiêu diệt vợ chồng tôi và bây giờ họ tiêu diệt tập sách của tôi viết về sự tiêu diệt đó.

-Anh Cao Giang trên nhà xuất bản gọi điện về nói: Buổi sáng giám đốc vừa quyết định in thêm 1500 tập nữa thì buổi chiều có lệnh đình chỉ phát hành.

Tôi nghĩ ngay đến các anh chị ở nhà xuất bản đã in sách cho tôi. Tôi là nguyên nhân tai họa của họ, nhất là với giám đốc Bùi Văn Ngợi.

-Chú Hoàng Hưng ở Sài gòn vừa gọi điện thoại báo tin ngày mai có một phóng viên bay ra phỏng vấn anh về tập sách, một nữ phóng viên, anh chuẩn bị tiếp khách. Em bảo sách bị cấm rồi. Vừa có lệnh xong. Chú ấy cứ “thế à, thế à” mãi sau mới nói “thôi anh chị cứ yên tâm, bây giờ không như ngày xưa nữa”.

Bây giờ không như ngày xưa nhưng vẫn là cái ngày xưa ấy kéo dài. Có thể tôi sẽ bị bắt trở lại cũng như gặp nhiều hiểm nguy, một tai nạn giao thông chẳng hạn. Còn Ngợi… Điều gì đang đợi chờ anh? Tôi bước tới nơi đặt máy điện thoại, bấm số:

-Tôi rất áy náy vì tôi mà các anh bị lôi thôi.

Tiếng Ngợi vang lên bên tai tôi, bình tĩnh, tự tin khiến tôi bất ngờ:

-Sao anh lại nói như vậy? Chúng ta làm một việc mà chúng ta tin rằng có lợi cho dân cho nước. Tôi chịu trách nhiệm về quyết định của tôi, công việc của tôi. Có nhiều điều không tiện nói qua điện thoại. Anh hiểu ý tôi chứ. Nếu có điều kiện mời anh lên tôi. Chúng ta sẽ gặp nhau ở Hà Nội. Anh nhớ thu hết số sách ở Hải Phòng, tôi sẽ cho xe xuống chở lên.

Giọng nói, cách nói vững vàng tự tin của anh làm tôi yên tâm dù lòng đầy phẫn nộ, không muốn nộp một quyển sách nào. Thu xếp một số công việc dở dang, chuyển số sách gửi những người quen về nhà, mấy hôm sau tôi lên Hà Nội.

Vẫn khuôn mặt xương xương thanh tú, cặp mắt sáng và nụ cười tươi như những lần gặp trước, như chẳng có chuyện gì xẩy ra, Bùi Văn Ngợi bắt tay tôi rất chặt. Rồi mở tủ lấy ra một chai Grant (một loại uyt xki) uống dở. Chúng tôi chạm cốc. Tôi nói với anh rằng tập sách của tôi là đứa con chung của tôi và nhà xuất bản. Điều tôi lo là lo cho các anh, nhất là Ngợi chứ tôi có còn gì để mất nữa đâu. Giờ đây tôi với nhà xuất bản là một. Tôi sẽ nộp lại toàn bộ số sách, không để các anh gặp khó khăn. Tập sách tôi viết, nhưng anh là người chịu trách nhiệm xuất bản. Chính vì vậy mà trong lời đề tặng Ngợi, tôi ghi Tặng anh Bùi Văn Ngợi người đã ký quyết định cho tập sách này bước vào đời.

Ngợi sôi nổi:

-Tôi phải nói với anh rằng tập sách rất được hoan nghênh. Nhà xuất bản từ khi tôi về làm giám đốc chưa có tập nào được hoan nghênh như vậy. Nhiều người nói với tôi: Trong đời làm xuất bản ra được một tập sách như thế là hoàn thành nhiệm vụ rồi. Điều đó càng làm chúng ta tin rằng chúng ta làm một việc tốt. Quyển sách của anh, tôi đọc, tôi ký quyết định. Tôi chịu trách nhiệm. Sang năm 2000 rồi, ai mà không nghĩ đến vận mệnh đất nước, ai không nghĩ đến nhân dân. Trước đây một nước 400 đô la một đầu người có thể đánh thắng một nước 40.000 đô la một đầu người, nhưng bây giờ có thể như thế được không? Và nếu cuộc chiến tranh của chúng ta nổ ra trong thời điểm hiện nay thì liệu có hơn Kô-sô-vô không. Phá vỡ bao cấp trong kinh tế là tối cần thiết, nhưng còn phải phá vỡ bao cấp trong cái đầu, trong tư tưỏng nữa.

Anh chỉ lên đầu và khoanh một vòng chung quanh mái tóc thưa của anh.

-Vợ tôi đọc, nói với tôi là anh cứ làm những việc thế này thế nọ. Tôi bảo bà ấy: Thứ nhất là em ngồi đằng sau xe, anh không nhìn được vào mắt em vì anh phải nhìn đường, nếu không, đâm vào xe người ta gây tai nạn. Thứ hai là đến thăm ông ngoại thì cứ đến đi đã. Việc của anh, anh lo. Tôi đưa tập sách cho thằng con tôi đọc. Cháu đang học đại học. Đọc xong nó không nói gì. Cháu chỉ bảo mẹ: Việc của bố để bố giải quyết mẹ ạ. Thấy điện thoại gọi đến nhiều quá bà ấy hoảng. Bà ấy sợ nhiều thứ lắm. Cũng phải thôi. Ai mà không sợ, nhất là sợ vỡ niêu cơm. Nhưng tôi thì không. Bây giờ có bao cách kiếm sống. Tôi có bằng lái xe. Tôi đã đi thanh niên xung phong. Với cái trí tuệ trung bình như tôi cứ đi họp thôi, mỗi cuộc họp một cái phong bì một trăm nghìn. Quá đơn giản mà chẳng phải động não.

Có người vợ nào không phải gánh nỗi lo của chồng. Gia đình tôi, tôi biết. Không chỉ nỗi lo, cả đau khổ nữa. Đau khổ cả đời. Tôi nghĩ mình thật có lỗi với chị Ngợi.

Ngợi hút thuốc và triết lý:

-Con người ta có nhiều vai diễn lắm. ở cơ quan là thủ trưởng, về nhà là chồng, là bố. Đi họp là tép. Đừng quên vai diễn. Tôi đi họp, gặp anh Hồ Anh Dũng tổng giám đốc truyền hình. Chả trước tôi là cán bộ của anh Dũng. Sếp  Dũng hỏi tôi: “Sao ra tập sách căng thế?” Tôi chỉ cười: “Cũng phải dùng đến lưỡi dao mổ thôi anh ạ. Bây giờ không thể cứ dùng thuốc giảm đau quá hạn, thuốc bổ B1 mốc được nữa. Ung thư toàn thân rồi. Di căn rồi!” Bạn bè tôi bây giờ phần lớn là vụ, vị, là tổng biên tập. Sáng nay có hai ông tổng biên tập đến đây hỏi xin sách. Tôi bảo hiện nay đang có chỉ thị ngừng phát hành. Có đấy nhưng không đưa cho các anh được. Tập sách của anh đang là thời thượng mà. Gặp nhau, các vị hỏi nhau: Đã đọc Chuyện kể năm 2000 chưa. Viết ghê lắm. Mình có một bộ.

Ngợi cười sảng khoái. Giữa lúc sinh mạng chính trị của anh đang bị đe doạ, cái ghế của anh lung lay tới tận gốc, chưa một lần tôi thấy anh buồn.

-Cục xuất bản bảo tôi là lừa cục khi đăng ký đề tài. Tôi bảo chúng tôi không đánh lừa, nội dung tập sách không viết về cái thiện và cái ác là gì? Họ bảo nhưng phải tóm tắt nội dung chứ. Tôi bảo thế các anh quy định lại đi. Tác phẩm nào chúng tôi in được thì cứ in, còn tác phẩm nào loại nào phải gửi cả bản thảo lên cho các anh đọc. Cục xuất bản còn bảo chúng tôi tổ chức hội thảo. Tôi bảo hội thảo cũng phải có thời gian đọc nữa chứ.

Tôi vội nói:

-Mình đứng ra tổ chức hội thảo, sao anh không tổ chức. Mình được mời  đại biểu cơ mà.

Ngợi cười to trước sự ngu ngốc của tôi. Anh nghiêm mặt:

-Mình mời người của mình. Trình danh sách với họ. Họ điền thêm một danh sách khác. Anh mời thêm những người này để rộng đường dư luận. Thêm người là thêm tiền. Chuẩn bị hội thảo phải vài tháng, mất vài trăm triệu là ít. Đấy là chưa kể, hôm sau hội thảo thì tối hôm trước người ta đến tận nhà những người của mình, yêu cầu phải phát biểu thế này thế nọ.

Tôi thành thật:

-Đến chết tôi cũng không chừa được bệnh ngây thơ.

Tôi rất kính trọng anh khi anh nói:

-Anh đừng thương cảm cho tôi. Không in sách của anh, tôi sẽ in sách của người khác, cũng như thế. Tôi làm giám đốc ngày nào biết ngày ấy thôi. Đi khỏi đây cũng được nhưng thương anh em. Anh em lại phải mất sáu tháng dò xét người thủ trưởng của mình. Làm cầm chừng. Nghe ngóng. Dạo tôi mới về làm giám đốc là thế đấy. Anh em dò ý thủ trưởng mất nửa năm. Tôi về đây có người bảo gánh cái gánh ấy nặng đấy. Họ nói thế nghĩa là họ mỉa mình đấy anh ạ. Rồi bây giờ thì bắt tay: Sao? Đang khó khăn phải không? Tức là họ vui: Thằng ấy sắp chết rồi. Như thế đấy.

Anh như đúc kết một chân lý:

-Có những người muốn mình chết. Đến khi mình chết họ lại thương. – Ngợi cười hồn nhiên và cau mặt – Họ thương thật. Nhưng tình thương ấy là tình thương dã man nhất.

Tôi hiểu được cái tình cảm ấy, cái ngôn ngữ ấy. Như thơ Nguyễn Duy hôn má bên này bật máu má bên kia.

Ai cũng biết trước mặt anh là những ngày đen tối. Bởi anh đã phạm vào điều cốt lõi nhất trong kỷ luật của Đảng, một điều tối kỵ: Mất lập trường! Lập trường là thước đo, là điều gốc rễ quyết định tất cả. Là sự trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa, với Đảng với chế độ, không giao động ngả nghiêng. Ngợi đã thấy cây mà không thấy rừng. Lẫn lộn hiện tượng với bản chất. Không gì nguy hiểm bằng sự thiếu kiên định của giai cấp tiểu tư sản bấp bênh… Tôi như đã nghe thấy những điều người ta buộc tội anh. Mất chức? Về hưu trước tuổi hay cho thôi việc? Như hiểu được những gì tôi nghĩ, anh chậm rãi kể:

-Tôi cùng học chính trị với một đồng chí thường vụ trung ương Đoàn. Chúng tôi phân công nhau làm bài và mệt quá cùng ra uống nước nghỉ giải lao thì điện thoại di động của anh ta kêu. Tôi nghe rõ tiếng ông trưởng ban tư tưởng văn hóa trung ương Đảng: Sao? Đã viết quyết định ủng hộ thằng Ngợi chưa? Tức là viết quyết định kỷ luật đấy. Anh ta trả lời rất khẽ. Tôi bảo: Ông cứ nói thoải mái. Tôi nghe hết cả rồi. Có gì mà ông phải giấu tôi. Cho nên thực sự tôi thương anh em. Guồng máy đang vận hành tốt. Mình ở lại ngày nào biết ngày ấy. Cũng có thể các ông ấy chưa hất mình đi ngay. Cứ để một thời gian nữa rồi mới hất. Như thế êm hơn. Đỡ dư luận. Trong nước ngoài nước xì xèo không có lợi.

Nhấp một ngụm rượu nhỏ, anh tiếp:

-Thông thường khi xẩy ra một vụ việc gì đó, đương sự hoặc là đến nơi này nơi khác thanh minh hoặc gõ cửa xin nhờ vả, giúp đỡ. Các sếp cứ chờ một trong hai thái độ quen thuộc ấy, nhưng cả hai đều không xẩy ra. Các ông ấy cũng hơi lạ. Lần đầu tiên các sếp thấy một thái độ như vậy. Cái-thằng-đương-sự không đi đâu cả. Vẫn cứ bình thường.

Anh như đang cố nén một tiếng cười, rõ ràng anh sắp kể một câu chuyện rất thú vị:

-Nhiều người có quyền sinh quyền sát đối với tôi, có thể ngồi ký lệnh cách chức tôi ngay tại đây, tại cái bàn này, sau khi đọc xong tập tiểu thuyết của anh, nói với tôi: “Hay quá. Chân thực. Cảm động. Lâu lắm mới đọc một quyển sách thích như thế. Bà vợ mình vừa đọc vừa khóc. Tớ đọc cũng chảy nước mắt. (Và Ngợi chuyển giọng) Nhưng đây là tớ nói riêng với cậu thôi. Ra hội nghị tớ nói khác đấy.”

Anh vỗ vai tôi, bắt chước cái động tác cấp trên đã làm với anh cho thêm phần thân mật, thành thật một cách bỗ bã. Và cười phá lên. Tôi cũng cười dòn dã. Thật không ngờ chúng tôi vẫn còn cười sảng khoái được như thế.

Đứng dậy để chia tay, tiễn tôi ra khỏi cửa tới hành lang, anh còn thì thầm:

-Anh thu sách về rồi hả. Tôi sẽ cho xe xuống Hải Phòng xe lên. Lọt được một quyển cũng là thắng lợi rồi.

Tôi ôm lấy Ngợi, cảm thấy như đã quen anh, đã than thiết với anh  từ bao giờ rồi và thả bộ về nhà Lê Bầu khi ấy vẫn còn ở phố Phùng Hưng. Câu chuyện Bùi Văn Ngợi kể về những người cấp trên của anh đọc quyển tiểu thuyết của tôi khen hay nhưng chỉ nói riêng với nhau thôi rồi chính những người ấy khi họp thành một hội nghị lại nói với nhau trái ngược hẳn những gì họ nghĩ, trái ngược hẳn những gì họ đã nói cùng nhau, điều ấy cứ vương vấn tâm trí tôi. Dù sao cũng phải biết ngượng chứ. Ngượng với nhau. Và ngượng với chính mình. Ngượng với chính mình mới là điều quan trọng. Không biết xấu hổ với chính mình, không biết đỏ mặt với chính mình, không còn chút liêm sỉ ấy, con người đi về đâu?

Biết tôi lên gặp Bùi Văn Ngợi, Lê Bầu ngồi ở cửa đợi tôi và sốt ruột muốn biết “tin sốt dẻo”. Nhưng tôi chưa thể nói cùng anh. Tôi phải đi tiểu cái đã. Xin lỗi bạn đọc. Sự thật là như vậy. Suốt cả buổi chỉ uống, bụng tôi căng cứng. Tôi bảo Bầu:

-Ông đi với tôi xuống nhà một tý…

Phải dẫn giải một chút về nhà Bầu. Anh sống độc thân trong một căn buồng tập thể chiều ngang 2 mét, chiều dài 5 mét chất đầy sách báo. Một tấm rèm vải cắt ngang cái ống hẹp là nhà anh thành hai nửa ngắn. Nửa ngoài đặt bàn viết và một manh chiếu rải xuống đất làm “xa lông” tiếp khách. Cái “xa lông” này lúc nào cũng ẩm vì nước sôi vì bã chè, nhiều cát đọng bên dưới và tàn thuốc lá bên trên. Nửa trong, sau rèm là giường ngủ. Vệ sinh, tắm rửa ở phía sau nhà, phải đi qua một mảnh sân nhỏ, có một cái giếng ở giữa sân, kiểu nhà Hà Nội cổ. Mảnh sân ấy gần đây xuất hiện một con bec giê to lớn, dữ tợn. Mỗi khi tôi có việc đi qua sân bao giờ Bầu cũng phải đi kèm. Con béc giê nhìn tôi nhe nanh gừ gừ như hâm nóng lên lòng căm thù rồi lao vụt ra. Đà phóng quá mạnh khiến sợi xích giật nó lại. Không có gì bảo đảm rằng sợi xích không đứt hay cái móc sắt bắt vào tường không bị bung ra. Bầu phải theo tôi, đi về phía con chó, che chắn cho tôi. Anh quát nó. Nó cúp đuôi lùi lùi và nằm vào chỗ cũ. Đi vệ sinh ở nhà anh quả là gian khổ. Tôi cứ phải bảo anh đi cùng tôi về phía sau nhà.

Nhưng lần này tôi chưa nói hết câu, anh đã cười:

-Kéo rèm lại. Chậu ở gầm giường ấy.

Tôi chưa hiểu ra sao, anh đã kéo rèm và lôi từ gầm giường ra một cái chậu men hoa to. Tôi ngơ ngác nhìn cái chậu in hình chim bay bướm lượn, mặt trời lên rất đẹp, như một cái chậu rửa mặt. Bầu giải thích:

-Để đem đổ ở ngoài đường, không ai nghĩ là mình đổ nước giải.

Vậy là không phải xuống nhà, qua mặt con béc giê hung dữ. Thật tuyệt vời cái sáng kiến này. Xong cái việc ấy tôi mới thuật lại chuyện gặp Bùi Văn Ngợi. Câu chuyện của chúng tôi bị ngắt quãng vì người bán bún vỉa hè trước cửa ló đầu vào, đưa cho Bầu một túi ni lông bẩn thỉu, nhỏ nhưng nặng:

-Của ông Bầu đây.

Một món gì đó do anh đặt hàng. Nhưng sao lại đựng trong túi ni lông nhầu nát bẩn thỉu, đất cát thế kia. Lại càng không hiểu khi thấy anh nhanh nhẹn đỡ lấy cái túi, chẳng buồn nhòm ngó, quẳng ngay vào gầm bàn tối, sát cái bếp dầu. Rồi moi ở đấy ra một túi khác, cũng bẩn và buộc kín như vậy nhưng to hơn, nặng hơn:

-Túi hôm qua vẫn còn đây này.

Anh bưng chậu men nước tiểu và xách cái túi hôm qua bước ra vỉa hè, đổ nước tiểu và vất túi xuống rãnh nước sát lòng đường. Không biết là túi gì. Rất bí hiểm.

-Túi xương. Cái con béc giê sân sau ấy, ông biết không. Rất khốn nạn. Mọi khi ông đi vệ sinh, qua sân, nó cắn, tôi mắng là nó im ngay. Nhưng đấy là lúc vắng chủ. Còn khi có mặt chủ, chính tôi nó cũng cắn. Mà dạo này thằng chủ thất nghiệp, nằm nhà mấy tháng rồi. Thế mới gay chứ. Vẫn phải ra đằng sau tắm táp đi đồng đi áng. Mới tính xin tý xương cho nó gặm để lấy lòng nó. Nhưng chắc không ăn thua. Bao nhiêu xương rồi. Gặm vẫn gặm. Cắn vẫn cắn. Sủa vẫn sủa. Vắng chủ thì im thin thít. Lại còn vẫy đuôi rất biết điều. Nhưng cứ có mặt chủ là sủa. Là lao ra đớp. Là nhe răng trắng nhởn ra. Khốn nạn thế chứ…

Bầu nhăn mặt vẻ ghê tởm. Còn tôi phá lên cười. Cười và thoáng nghĩ không biết đã nghe chuyện này ở đâu rồi.

B.N.T.

 IMG_3928 (1)

Bên dòng sông Charles (Boston, Mỹ)

 

Đi là sống

Đi Là Sống

 (Nguyên văn bài viết trên Lao Động số Tết Quý Tỵ)

Những ngày ở Pháp tôi đã hiểu ra điều đơn giản ấy. Đi là sống. 12 giờ bay không chợp mắt một giây. Nhìn qua cửa máy bay thấy mây, thấy những chóp núi lô nhô xanh thẫm phủ những mảng tuyết trắng xóa. Nhìn lên màn hình có quả địa cầu, biết mình đang đi vào vùng đêm tối… Rồi sân bay Charles de Gaulle. Ra đón không chỉ có những bạn đọc bên Pháp mà cả Dương Thụ.

Sau hai ngày về nhà Đặng Tiến thám hiểm vùng ngoại thành Orleans có dòng sông Loiret với những con thiên nga trắng toát cổ cong lộng lẫy, những bông lau phất khơ ven bờ “rất sông Lô”, tôi và Dương Thụ ngược lên Lille, một thành phố phía Bắc nước Pháp. Thụ có người quen ở đó, anh Kamal Nguyễn, một người Pháp gốc Việt lai ấn. Lille với những ngõ nhỏ sạch bong dài sâu hun hút đầy vẻ mời chào, với quảng trường Place du Concert, vút tận trời xanh tượng ba cô gái dát vàng trên nóc ngôi nhà toà soạn báo Tiếng nói phương Bắc. Lille với tiếng móng ngựa lóc cóc gõ trên đường lát đá chở những tốp khách du lịch, cầm cương những con ngựa nâu cao lớn, bờm xén tỉa rủ về một bên luôn là một cô gái – khách du lịch, còn người xà ích ngồi ghế liền bên.

Ra đón chúng tôi ở sân ga Lille không chỉ Kamal mà còn có một thiếu phụ tóc vàng, chị Malika, bạn Kamal. Sau khi dẫn chúng tôi về nhà cất va li, ngay lập tức Kamal lái ô tô đưa chúng tôi ra khỏi Lille. Malika cùng đi với chúng tôi, một Malika cao gần mét tám, mảnh dẻ như người mẫu, tóc vàng rực mà sau này Kamal cho biết đã phải nhuộm cho sẫm đi chút ít, mái tóc bập bềnh – cái đích tôi luôn dõi theo trong những buổi la cà chợ phiên đông đúc để không bị lạc, một Malika ít nói với nét mặt buồn.

Xe đã ra khỏi Lille và nhập vào những con đường Châu Âu. Ôi những con đường Châu Âu! Sẽ suốt đời không quên những con đường ấy. Những con đường cao tốc gần như không một chỗ lồi lõm, những con đường tám làn xe chạy với tốc độ 120 ki lô mét giờ không một tiếng còi, những con đường chồng lên nhau, tầng trên tầng dưới, vòng lên cao, rồi thoai thoải nghiêng nghiêng sà xuống làm thành những đường cong, khiến người ngồi trong xe có cảm giác đang bay lượn, những con đường dẫn tới vô tận, những con đường làm tôi sống lại tuổi thơ.

Đang mải mê chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những con đường, những cánh đồng Châu Âu, chợt Kamal kêu:

-Qua biên giới rồi! Chúng ta đang trên đất Bỉ.

Tôi giật mình:

-Đâu? Đâu? Biên giới đâu?

Và vội quay đầu lại phía sau. Vẫn chỉ là những làn đường, những chiếc xe xuôi ngược nối nhau. Như mọi nơi trên con đường này. Đường vẫn vậy. Xe vẫn vậy. Những đàn bò, những cánh đồng cỏ, những ruộng ngô đang trổ bông vun vút lướt qua vẫn vậy. Chẳng biết đâu là Pháp và đâu là Bỉ. Trong tâm trí tôi, biên giới là một cái gì rất thiêng liêng. Biên giới đồng nghĩa với Tổ Quốc. Biên giới là địa đầu, là xương máu cha ông tiên tổ, là lịch sử, là truyền thống, cội nguồn, là những cuộc chiến tranh, những âm mưu, những cuộc đột nhập, là người phát ngôn bộ Ngoại Giao tuyên bố, là hôn má bên này bật máu má bên kia (1), là gìn giữ từng mét đất cũng như những cuộc mở mang bờ cõi. Tôi không tin lại có thể vượt biên quá bình thường như chúng tôi vừa làm. Tôi không tin lại có những biên giới chẳng đem lại một chút xúc động cổ điển nào khi vượt qua, cho dù tôi biết Liên minh Châu Âu giờ đây đã có đồng tiền chung và tự do đi lại. Chúng ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu với hai nước cộng sản, hai nước cùng hô vang khẩu hiệu của Mác: Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại! Báo chí nước ta vừa đưa tin những cuộc chôn đặt cột mốc biên giới có cả sự chứng kiến của hai bên như một  mong mỏi rồi đây cuộc sống sẽ được bình yên. Ta mơ trần gian lúc san bằng hết biên thuỳ. Chỉ còn loài người, chỉ còn tình thương trùm lên thế giới. Hồi kháng chiến chống Pháp chúng tôi đã hát như vậy. Hát và tin chủ nghĩa cộng sản sẽ làm được như vậy!!

Tôi bảo Kamal:

-Lần sau gần tới biên giới, anh báo trước tôi biết và cho xe đi chậm lại Kamal nhé.

Chiều hôm sau chúng tôi lại đi trên con đường ấy, không phải để sang Bỉ mà tới Hà Lan thăm đê biển Hà Lan. Kamal đã làm theo yêu cầu của tôi. Biên giới Pháp – Bỉ cách Lille khoảng 30 km. Không ba ri e. Không hải quan làm thủ tục. Cũng không còn dấu vết những ngôi nhà trước đây từng là cơ quan cửa khẩu. Cột mốc biên giới chỉ nhỏ bằng cột xi măng đánh dấu ki lô mét vẫn trồng trên đường 5 nối liền Hải Phòng Hà Nội nhỏ thấp ở rìa đường, và cũng được trồng ở rìa đường:

BELGIE

Km 0

Tất cả chỉ có vậy. Chẳng thấy gì vĩ đại thiêng liêng như người ta vẫn nghĩ, vẫn nói về nhưng ki lô mét số không, những địa đầu. Chẳng thấy kết thúc một cái gì và mở ra một cái gì. Chỉ là thanh bình nối tiếp thanh bình, tin cậy nối tiếp tin cậy, một an lạc bao trùm không gian trong suốt của Châu Âu. Kamal nói:

-Đây là xứ Flandre.

Lại một bất ngờ nữa. Flandre thuộc Pháp và Flandre thuộc Bỉ. Địa danh này, những con đường này đã nằm trong một quyển tiểu thuyết đoạt giải Nobel. Claude Simon. Những con đường xứ Flandre. Dương Tường dịch. Giá có Dương Tường ở đây cùng tham gia cuộc du hành…

Trong mười ngày ở Lille, tôi đã đi qua những con đường xứ Flandre, những ngọn đồi xứ Flandre nhiều lần. Đó là những nhánh rẽ từ những đại xa lộ vào các ngọn đồi mà thoạt nhìn ta cứ nghĩ là những khu rừng. Chỉ đến khi tới gần mới thấy đó là đường phố, những ngôi nhà, những biệt thự, những quảng trường, những cửa hiệu, những nhà thờ… Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa tôi với xứ Flandre là xứ Flandre thuộc Bỉ. Ngay trong buổi chiều chúng tôi tới Lille, gặp Kamal. Kéo chúng tôi vào một cửa hàng, ngồi uống mỗi người một chai bia Bỉ, Kamal bảo chúng tôi đứng lên ra xe ô tô:

-Gần đây có một cửa hàng bán sườn nướng ngon lắm.

Xe lại lăn bánh trên con đường nhựa, xuống một sườn đồi thoai thoải, lượn quanh co trên một cánh đồng nhỏ và lại leo dốc. Một restaurant khác trên đỉnh một ngọn đồi. Khoảng đất rộng phía sau nhà hàng đậu kín ô tô. Chúng tôi xuống xe đi qua một mảnh sân hẹp. Nhà hàng thấp và cũ kỹ. Mái lợp đá đen. Tường để nguyên gạch mộc. Dính vào tường là hai cái vô lăng tầu thuỷ bằng gỗ, một cái to một cái nhỏ, gợi những cuộc viễn du của những mạch lô hoặc dấu vết của những “Viking đầu quấn lá sồi”. Những thùng gỗ to xếp cạnh tường, những thùng rượu vang mà bên trong hẳn là rỗng, không có rượu, chỉ để tăng thêm không khí ẩm thực khi khách bước vào trong nhà ngồi trước bàn ăn gọi món. Ngay cửa nhà hàng là một chiếc xe bò với những bánh xe bằng gỗ lớn, chiếc xe hẳn chưa lăn bánh một lần, trong xe chất đầy những khúc gỗ tròn cưa cắt bằng nhau, chờ bổ cho vào lò, nhưng sẽ chẳng bao giờ được nhận một nhát rìu, chúng có mặt chỉ để gợi một không khí cổ xưa.

Trong nhà đã kín thực khách. Toàn những người châu Âu. Những trai thanh gái lịch, những ông bà đứng tuổi và có tuổi im lặng ăn, im lặng uống. Lần đầu tiên bước vào một cửa hàng ăn châu Âu, tôi, một kẻ quê mùa từ một đất nước châu á xa xôi nghèo nàn lạc hậu, không khỏi mất tự tin, nhất là khi mấy người quay ra nhìn chúng tôi bước qua khuôn cửa. Cái mặc cảm về thân phận, về chiều cao đến với tôi trong từng bước đi. Cám ơn Malika. Cô gái tóc vàng đã khoác tay tôi. Như hai bố con lững thững nhàn nhã sau một ngày làm việc mệt nhọc tìm nơi thư dãn. Dương Thụ, Kamal đi sau. Chúng tôi tìm được một bàn còn trống ngay cạnh chiếc lò sưởi bằng gang không biết có từ thế kỷ nào, đã lâu rồi không được dùng đến. Trong khi chờ thức ăn, chúng tôi uống bia và quan sát cửa hàng phía bên trong. Để dễ hiểu, ta gọi nó là một căn nhà cấp 4, có năm gian. Tất cả đều đen, mầu đen của khói bếp, của thời gian. Những quá giang, những rui mè, những ngói lợp đều đen. Những thanh dầm gỗ, những trụ gỗ dựng dọc tường giữa những hàng gạch xây với những thớ to khô két thành từng rãnh sâu, uốn lượn cong vặn cứng như thép, không phải được xẻ bằng cưa mà như được tách đôi ra, xé đôi ra bằng cánh tay của những người khổng lồ giống ta tách một khúc nứa. Nó còn nguyên tạo hình khi vẫn là cây là cành, rễ còn bám sâu vào đất, cành lá còn reo vui đón gió. Tường xây gạch mộc. Gạch và những mạch vữa đều một mầu đen. Trên tường, treo rải rác những đôi giầy bằng gỗ sơn trắng, một mầu trắng cũ kỹ, và từ bên trong những chiếc giầy, những ngọn đèn hình nến yếu ớt toả sáng. Tất cả bàn ăn đều bằng gỗ sồi mà tuổi của nó phải nhiều chục năm có thể hàng trăm năm, cũng một mầu nâu sẫm. Một ngọn nến được đưa đến bàn của chúng tôi.

Hãy kín đáo nhìn mọi người ăn. Khi đặt chân tới Châu Âu tôi đã chú ý đến những nét mặt người, những dáng người đi. Và bây giờ tôi quan sát những người ngồi ăn. Không một lời nói to. Những tiếng đặt thìa nĩa cũng rất khẽ. Không một tiếng động gì tỏ ra có người đang say, lại càng không có những tiếng hét vang dzô dzô mỗi khi chạm cốc. Không có những khuôn mặt phừng phừng bóng nhẫy vì ăn, vì uống, không có những bộ mặt tự mãn hoặc tự tin quá mức, cũng chẳng một ai quên rằng mình đang ăn uống giữa những người khác cũng đang ăn uống. (Để đạt được những điều tốt đẹp trong ăn uống nơi công cộng này ở nước ta tôi nghĩ thời gian phải tính bằng thế kỷ.) Chỉ có những nét mặt vui tươi, những tiếng rì rầm và những nụ cười. Hạnh phúc, niềm vui sống của người này hòa vào hạnh phúc, niềm vui sống của người khác. Tôi khe khẽ làm một cuộc tường thuật tại chỗ cho Dương Thụ:

-Cứ ngồi yên như vậy. Đừng quay lại. Cô gái ngồi ở bàn sau lưng Thụ đã ăn hết dẻ sườn lợn nướng thứ ba hay thứ tư gì đó. Một cô gái còn rất trẻ xinh đẹp, tóc vàng nhưng không vàng bằng tóc Malika đâu. Cô ta chăm chú ăn, gặm tỉ mẩn từng chút thịt trên dẻ sườn, đặt dẻ sườn đã hết thịt xuống đĩa. Chưa. Chưa uống. Còn đang mút ngón tay. Mút rất cẩn thận, tỉ mẩn từng ngón tay một. Vẫn chưa uống. Lấy khăn lau những vết đen trên miệng. Bây giờ mới uống. Bia chứ không phải rượu. Và vặn một dẻ sườn nướng nữa rồi.

Tôi cứ thuyết minh như vậy. Malika không hiểu gì, nhưng thấy Kamal cười chị cũng cười.

Tôi đặc biệt yêu thành phố nhỏ Brugge nước Bỉ. Một thành phố với những con kênh ngang dọc. Móng những ngôi nhà, những dẫy phố, những biệt thự, lâu đài ngâm trong dòng nước êm đềm với những mảnh sân nhỏ, những bậc xây xuống bến, những hàng cây soi bóng, những con chim trắng, những con sâm cầm (?) đen thả mình im lặng gà gà ngủ. Một Venise thu nhỏ, êm đềm. Mỗi ngoẹo phố là một bất ngờ dành cho bạn. Giống như đang trên thuyền giữa Hạ Long. Không thể hình dung được những gì chờ ta mỗi khi rẽ ngoặt. Chính ở Brugge, tới một quảng trường trước cửa nhà thờ, chúng tôi đã gặp một ban nhạc nhẹ đồng quê. Có violon, cello, contrebasse, clarinette, piano, lại cả phong cầm, gợi một không khí rất Trung Âu thế kỷ trước. Ba cô gái trang phục cổ điển áo liền váy, cùng các nhạc công complet cravate, thứ y phục quen thuộc, gần gũi. Không pop, không roc. Những làn điệu dân ca Trung Âu đậm âm hưởng nhạc chiều xê rê nat từ ba chất giọng soprano, mezzo, alto cùng với giọng baryton của người kéo phong cầm, khiến tôi tưởng mình đang sống trong một câu chuyện viết về nông thôn Rumani nào đó như Những Người Chân Đất, Giếng Nước Cội Dương từng làm chúng tôi một thuở say mê và mãi mãi say mê.

Copy (5) of 0408_Bruges

Ảnh: Một nhóm tượng đài ở Brugge (Bỉ)

Thụ ghé tai tôi:

-Đúng là Châu Âu cổ xưa. Nhạc trăm năm. Chơi trên đường phố trăm năm, quảng trường trăm năm. Cây trăm năm. Y phục ngày xưa. Váy dài ngày xưa. Sơ mi áo vét ngày xưa. Thỉnh thoảng lại một cỗ xe ngựa ngày xưa đi ngang qua nữa…

Sau khi đặt tiền vào chiếc mũ để ngửa, chúng tôi tiếp tục công cuộc thám hiểm Brugge. Khi vượt qua chiếc cầu uốn cong bắc ngang một con kênh ăm ắp nước lặng tờ giữa những dẫy phố cổ, nhìn hoàng hôn đang len vào những cành sồi già ngả trên mặt kênh, Dương Thụ đã chẩy nước mắt. Anh như nói với chính mình:

-Không phải thiên đường mà còn hơn thế. Không phải trên trời. Mà  ngay trên mặt đất, ngay trong cuộc sống. Vẫn mơ ước một cuộc sống êm đềm, thanh bình, một quan hệ người với người thật tốt đẹp thì bỗng nhiên có ngay trước mặt mình, chung quanh mình. Mình được nhìn thấy, được sống, được hít thở trong nó. Dù chỉ là khoảnh khắc.

Chiều hôm sau Dương Thụ và tôi được Kamal đưa đi thăm một ngọn đồi xứ Flandre khác. Trên đỉnh đồi, giữa những tán lá là những cửa hàng, những khách sạn, những biệt thự và một nhà thờ nhỏ. Chúng tôi bước vào nhà thờ. Không có ai ngoài một bà già đang lúi húi dọn dẹp dưới tượng Chúa phía trong cùng và một chiếc khay có rất nhiều ngọn nến nhỏ im lặng cháy đặt trên bàn ở một góc ngay cửa ra vào. Bà già bước về phía chúng tôi, nhẹ nhàng không một tiếng động, thì thào:

-Bonjour. Bonjour. (Xin chào. Xin chào.)

Chúng tôi cũng thì thào đáp lại. Rồi chúng tôi bước ra, ngồi xuống chiếc ghế dựa gỗ sồi thô mộc bên lề đường. Dưới kia sườn đồi thoai thoải. Rừng đổ bóng thẫm đen xuống vạt cỏ xanh non. Đàn bò khoang vẫn thấy in hình trên những hộp sữa im lặng gặm cỏ. Tiếng nhạc nhà thờ vọng đến. Êm đềm, thanh bình đến thế là cùng. Như một chốn Bồng Lai. Dương Thụ nói với tôi:

-Em đang được thanh lọc.

Ngồi trên chiếc ghế đặt ven đường, nhìn xuống sườn đồi nhưng nhức nắng vàng, tôi hiểu được những nét mặt người, những dáng người đi này đã được hình thành như thế nào rồi. Bao nhiêu năm người ta đã sống như chúng tôi mới được sống mấy ngày. Trừ mấy năm đại chiến thứ 2 mà tác dụng càng làm cho con người thêm yêu quý hoà bình. Sang Châu Âu, điều dễ nhận thấy nhất với những du khách như tôi, đập vào mắt ngay tức thì, là những nét mặt người và những dáng người đi. Sau này về Paris, gặp Vũ Thư Hiên, tôi đã nói với Vũ Thư Hiên nhận xét ấy:

-Trông những người bên này đi thích thật. Sải những bước dài, có mục đích, tự tin chứ không phải lang thang nổi trôi vô định. Thoăn thoắt, thoăn thoắt, dáng đi của người làm chủ cuộc đời, làm chủ số phận. Còn nét mặt họ mới tuyệt làm sao! Không một chút lo âu. ở bên nhà, chúng tao vừa đi vừa nghĩ mưu. Ai cũng vừa đi vừa nghĩ mưu, không trừ một ai, từ tỷ phú cho đến những người khố rách áo ôm.

Copy (2) of 040821B_BNT&VTH_Paris

 

Ảnh: Bùi Ngọc Tấn cùng bà Hồng Ngọc (vợ ông Hoàng Minh Chính) và nhà văn Vũ Thư Hiên tại Paris

040906D_BNT_Munchen

Ảnh: Trên tháp truyền hình  Munich nhìn xuống sân vận động Olympic (Đức)

Tôi đã trả lời một tờ báo về chuyến đi Châu Âu của tôi:

-Tới Châu Âu, điều dễ nhận thấy nhất là con người được giải phóng.

Viết những dòng này, lại nghĩ đến chuyến đi đầu tiên ra nước ngoài với bao điều đáng nhớ: Bay đến Bắc Kinh đúng ngày 11 tháng 9 năm 2001, ngày Bin Laden đánh tòa tháp đôi New Yord. Thăm Cố Cung, Tứ Xuyên, Di Hòa Viên, bảo tàng Tô Đông Pha, khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng, khách sạn 5 sao Thiên Nga Trắng. Cả khi qua sông Dịch Thủy, nhớ Kinh Kha, đầu ngân nga Vũ Hoàng Chương:

Buồn xưa giờ chưa tan

Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn

Bạch vân bạch vân

Kìa ngang rừng phấp phới

Ôi mầu tang khăn áo lũ người Yên

Nhịp vó câu nẻo Hàm Dương tung bụi

Ta nghe ta nghe này cuồng phong dấy lên…

Đã bao năm tháng, đọng lại sâu lắng nhất trong chuyến đi Trung Quốc vẫn là những bức chân dung treo trong Bảo tàng Nhà văn ở Bắc Kinh: Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Ba Kim, Tào Ngu…, những bức ảnh mang bão táp, mang lịch sử. Nhất là hai bức ảnh Đinh Linh và Lão Xá. Tác giả Mặt trời chiếu trên sông Tang Càn già nua, tàn tạ, nhầu nát vì thời gian, vì hành hạ tù đầy và đau khổ. Còn Lão Xá, bố Thư ất giám đốc bảo tàng, đang dạy học ở Mỹ được Chu Ân Lai phái Tào Ngu sang đón về nước Trung Hoa giải phóng xây dựng nền văn hoá mới, đã đâm đầu xuống hồ chết trong cách mạng văn hoá. Lão Xá chết trong ao hồ chứ không phải trên sông trên biển. Hơn thế, Lũ trẻ con từng lấy móc sắt quất vào mặt ông / Giờ lôi xác ông lên phơi nắng (thơ Trần Nhuận Minh).

Thật đúng đi là sống và biết. Đâu phải “đi là chết ở trong lòng một ít” như ai đó đã viết.

 

—————————————

(1)Thơ Nguyễn Duy