Chuyện kể năm 2000 dịch sang tiếng Pháp

Tiếp theo việc dịch và in 2 tập sách của Bùi Ngọc Tấn (tập truyện ngắn Une vie de chien và tiểu thuyết La Mer et le Martin-pêcheur, giải thưởng lớn Henri Queffelec), nhà xuất bản Aube đã in và phát hành tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 với nhan để Un conte pour les siècles à venir (Chuyện kể cho những thế kỷ mai sau), cũng do dịch giả Tây Hà dịch. Sách dầy 736 trang.

Dưới đây là lời giới thiệu in ở bìa 4 tập sách.

Tuấn, một ông già dầy dạn cuộc đời nhớ lại những kỷ niệm gần 30 năm trước. Đang thành công may mắn trong sự nghiệp làm báo và viết văn thì ông bị bắt, coi như phần tử nguy hiểm đối với cách mạng và bỏ tù 5 năm ròng không xét xử.

Điều khiến người đọc câu chuyện (có tính chất tự truyện) này là những năm tháng khổ đau ấy được kể lại thật thanh thản. Không chút hận thù. Trái lại, rất nhiều chỗ dành cho chất thơ như bay bổng bên trên sự tàn ác của con người. Cánh rừng cổ đại bao quanh trại giam được miêu tả trong vẻ đẹp kỳ vĩ của những con chim lạ cất tiếng hót với những âm sắc người. Hình ảnh một dòng suối trong vắt với một con tôm trắng tung tăng đùa trên nền cát trắng, đưa ta tới tiên cảnh. Cuốn sách cũng dành chỗ cho tình yêu: Đêm đầu tiên của Tuấn và Ngọc cũng như đêm gặp lại sau những tháng năm tù, thật tuyệt vời nhục cảm, ngời ngời một vầng trăng đồng lõa.

Cuốn sách mênh mông này, tác giả đề tặng con gái mình để truyền đạt lại ký ức của thế kỷ và để một số bi kịch khỏi lặp lại. Chúng ta đi xuyên qua Lịch Sử -lịch sử lớn và lịch sử riêng tư sâu kín- trong một bức tranh hoành tráng bậc thầy.

 

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Nguyên bản Tiếng Pháp

Un vieil homme marqué par la vie, Tuấn, se remémore des souvenirs qui remonte à près de trente ans. Il connaissait une heureuse réussite dans sa vie de journaliste et d’ écrivain quand il fut arrêté comme élément dangereux pour la Révolution et emprisonné sans jugement pendant cinq longues années.

Ce qui étonne quand on lit ce récit (autobiographique), c’est la sérénité avec laquelle sont décrites ces années de souffrances. Aucune haine. Au contraire: une grande place est laissé à la poésie qui semble voler au-dessus de la cruauté des hommes. La forêt antique qui environne le camp ét décrite dans sa beauté grandiose; d’étranges oiseaux y font entendre leur chant aux accents humains. On atteint à la féerie avec l’évocation d’un ruisseau où une blanche crevette s’ébat sur fond de sable blanc. L’amour a également sa place; la première nuit de Tuấn et de Ngọc comme  celle de leurs retrouvailles après la prison sont merveilleusement sensuelles, éclairées par une lune complice…

Cet immense livre ét décidé par l’auteur à sa fille pour lui transmettre la mémoire du xxe siècle et éviter que certains drames ne se repètent. Nous traversons avec lui l’Histoire – la grande et l’intime – dans une fresque magistrale.

Cùng với việc in Un conte pour les siècles à venir, Aube cũng tái bản tập La Mer et le Martin-pêcheur (Biển và chim bói cá) xuất bản lần đầu năm 2012 dưới dạng bỏ túi.

Advertisements

Chim Bói Cá & Ngư Ông và Biển Cả …

Đôi lời giới thiệu

Cuối những năm 1960, nhà văn Bùi Ngọc Tấn bỗng dưng bị bắt vì tội gì chẳng rõ. Giá như ông Tấn sống vào thời nay, chắc ông sẽ bị án “trốn thuế” chẳng hạn – vì ông và đồng bọn nhà văn nhà thơ nhà báo đi bán máu nuôi thân và nuôi vợ con mà không khai nộp thuế, tội đó to lắm, vì là tội phá hoại tài sản nhân loại và dân tộc.

Không trốn thuế, cũng không có mấy bao cao su hỗ trợ pháp lý, nên thời đó, tuy không là đảng viên ĐCSVN, Bùi Ngọc Tấn được hân hạnh ghép vào cái án “chống Đảng” như các ông đảng viên sừng sỏ cỡ Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh, và vô số ông (bà) khác trong một vụ án rất đông tội đồ không cần qua xét xử. Đó là thói quen trị nước của một Đảng cầm quyền tuyệt đối (bây giờ người lịch sự gọi là chế độ toàn trị, người ưa nôm na thì gọi là độc tài hoặc phát xít).

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn rồi cũng bỗng dưng được cho ra tù – và anh chấp nhận “được tha” – không sẵn dũng khí như ông nhà văn Vũ Thư Hiên đòi xét xử tử tế trước khi ra tù, thì liền được cho “lưu ban” thêm hai năm nữa, rồi cũng bị tống về nhà với vợ con.

Ra tù Bùi Ngọc Tấn viết Chuyện kể năm 2000 đầy tính nhân văn, mô tả cuộc sống trong tù mà không hề hằn học, chỉ có một giọng khi nên thơ khi hài hước đến nao lòng. Sau bản dịch tiếng Anh, bản tiếng Pháp của tác phẩm này sắp ra mắt bên Pháp, do anh Nghiêm Phong Tuấn dịch, cái tên sách dịch đã thấy hay và sang trọng rồi: Conte pour les siècles à venir – chuyện kể cho nhiều thế kỷ tới.

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Bìa Chuyện kể năm 2000 bản tiếng Pháp

Bùi Ngọc Tấn sau khi ra tù còn viết cuốn tiểu thuyết khác, Biển và chim bói cá, lấy cảm hứng từ những công nhân đánh bắt cá của cái xí nghiệp ông Tấn được vào làm việc cho tới khi về hưu. Bói cá… đã được Nghiêm Phong Tuấn dịch và tác phẩm đã được giải cao tại Hội chợ sách bên Pháp, như Bùi Ngọc Tấn đã có lời cảm ơn sau “Tôi chào mừng Đại Hội Biển vàSách. Đạt được giải Henri Queffelec mỗi năm dành cho một tác phẩm nói về biển, thật là một vinh dự lớn cho tôi, nhất là khi qua mạng internet tôi được biết trình độ rất cao của những tác giả cùng tranh cử để được giải này”.

Một bạn nhà thơ Việt Nam sống ở Pháp, ông Nguyễn Hữu Viện, đã xúc động viết đôi lời tặng dịch giả của Bùi Ngọc Tấn.

Nhân ngày Chủ nhật dẫu sao thì cũng cần thư giãn, lại được nhà văn Bùi Ngọc Tấn gửi bài tới nhờ đăng, xin có vài lời trước khi cùng bạn đọc rung đùi nhâm nhi những lời lẽ ngây thơ, yêu đời, mà trong cái đời ấy hẳn nhiên là có cả tổ quốc của chúng mình, và có cả những công trình đẹp đẽ đang đựng xây và cả những “công trình” sắp sụp đổ…

A hà hà, vui lên bạn ơi!

Phạm Toàn



Chim Bói Cá   & Ngư Ông và Biển Cả   ... 
à Anh Nghiêm Phong Tuấn, traducteur de « La Mer et le Martin-Pêcheur »...

Homme Libre, toujours tu chériras la mer !
La mer est ton miroir, tu contemples ton âme
Dans le déroulement infini de sa lame
Et ton esprit n'est pas un gouffre moins amer.
 (Baudelaire - L'Homme et la Mer de Baudelaire)
  

Chim Bói Cá   và  Ngư ông  cùng hạnh phúc chia sẻ Biển Đông 
Cho dù  ngư ông là người, Chim Bói Cá là vật 
Vì lẽ Người và chim không có lợi ích chung không biển 
 Và cả hai ngẫu nhiên cùng say sóng như nhau 
 Vì lẽ  cả hai không có lợi ích chung không cùng biển 
  Chim Bói Cá  thức dậy sớm mai
  Ngư ông  ngủ vùi sau một đêm trắng dài viết « lách »  
Chàng ngủ đến tận sáng muộn màng
Ôi Biển cả làm sao biết lòng Người lẫn lòng chim 
Nhưng cả hai đều là hai nhà đấu tranh bất tử !
 Hải Phòng -  Marseille đều cả hai  phố cảng 
Nơi ấy giấc mơ Pháp-Việt chạm đáy vô cùng 
 Không mất đi phẩm chất mộng mơ
 Vết tích ký ức trùng lập với vết hằn quên lãng 
Khẽ hở của trí nhớ là những tia chớp lân quang bừng sáng 
 Và  tia lửa này thiêu đốt tất cả những điều ghi nhớ lại 
Hà Nội – Paris  truy đời ta về nguồn cội của mình
 Tổ Quốc  chẳng qua chỉ là Mẹ hiền và Biển cả ! 
 Cả cùng hai Phap -Việt chan hòa 
  Paris  có thể  khai sinh bóng hình  Hà Nội 
 Và ngược lại  Hải Phòng  cũng có  khai sinh bóng hình  Marseille
 Vâng Nước Pháp đối với anh có gì xa lạ 
 Vì Nhà văn đã học tiếng Pháp từ thuở ấu thơ
 Thế hệ anh chứng kiến bao thăng trầm lịch sử 
 Và tác phẩm anh  lưu giữ ký ức của Dân Tộc mình
Tình yêu ấy nuôi dưỡng chúng tôi quả đầy bi kịch   đớn đau  
Uớc gì dập tắt nhiệt tình  bằng lệ biển … 
Kìa cánh buồm cuối chân trời nơi Chim Bói Cá bay lượn 
Chỉ một mình Chim Bói Cá chống chọi biển ngàn khơi 
Và sau cánh chim cả đàn chim con nhỏ đang chờ chim Mẹ 
Tôi hãy còn kỷ niệm những cánh chim biển
Trong mắt bão bất công tảo tần và bao phiêu lưu khủng khiếp
Hãy nhìn kìa !  Cuối chân trời bay lên Chim Bói Cá  Mẹ bay lên  .... 

Nguyễn Hữu Viện