Đọc Di Cảo Lê Bầu

Một hòn đá lăn xuống biển là Châu Âu đã bé đi một tí. Mỗi người là một bộ phận của toàn thể nhân loại. Một nhà thơ Anh đã viết như vậy. Điều ấy càng cụ thể hơn khi những người thân thiết của mình ra đi.

Tôi có mười người bạn gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ, cùng nhau trải qua bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn và không ít hiểm nguy. Như bố mẹ vợ con anh em trong gia đình, những người bạn ấy là một phần cuộc sống của tôi, làm thành cuộc đời như vốn có của tôi. Khi viết những dòng này, năm người không còn nữa. Theo thứ tự thời gian: Hứa Văn Định, Lê Mạc Lân, Nguyên Bình, Vũ Bão, Lê Bầu. Mỗi người đi đều mang theo một phần tôi. Những phần tôi bạn mang theo ấy có những sắc thái khác nhau tùy theo tính cách từng người, dấu ấn từng thời gian trong cuộc đời  hạnh phúc ngắn ngủi và nhiều gian lao của tôi..

Lê Bầu đi mang theo cái phần riêng của anh. Đó là mái đình làng Xuân La huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, nơi trường Hàn Thuyên sơ tán đầu những năm 50 thế kỷ trước, tôi ngồi lớp đặt ở bên này giải vũ, anh ngồi giải vũ bên kia, cách nhau một cái sân đình ngày ấy là mênh mông. Là những buổi tối sinh hoạt văn nghệ, Lê Bầu với bộ quần áo nâu, chít khăn đầu rìu buông quần lá tọa, đứng trên sân khấu, chiếc cuốc trên vai, nháy nháy bộ râu bôi bằng nhọ nồi, đen sẫm kiểu Hít le làm tất cả cười bò. Là bài báo tường Mái gà xuống ổ hôm rằm/ Con chui dưới bụng con nằm trên lưng/ Vui chân chạy nhẩy tứ tung/ Mẹ lo nghển cổ trong lồng gọi con khiến chúng tôi phục lăn (và thuộc cho đến bây giờ, sau hơn 60 năm vẫn nằm trong bộ nhớ). Là những đêm khuya tan học, đèn dầu lập lòe, cùng nhau cuốc bộ từ trường về Lang Tạ xa 7 cây số, tới đó mỗi thằng một ngả, Bầu về ấp Núi Dài, tôi về Phú Mỹ. Là niềm vui tràn ngập khi ký tặng nhau tác phẩm đầu tay cùng được nhà xuất bản của Hội Nhà văn in năm 1962, Bầu tập Thông Reo, còn tôi tập Đêm Tháng Mười. Là những bữa cơm với món bí đỏ nửa canh nửa xào của anh khi tôi lên Hà Nội, đâm đơn kêu oan. Là căn buồng hẹp 105 phố Phùng Hưng, nơi không lần nào tơi thủ đô tôi không đặt chân tới, kể cả ngủ lại. Là bữa bia, anh nhân danh trại trưởng, chiêu đãi cả trại sáng tác Đại Lải khi tôi từ Hải Phòng túi tắm lên dự trại…

Anh, người bạn lâu năm nhất của tôi. Khó mà kể hết Lê Bầu đã mang theo những gì trong tôi về thế giới bên kia.

Tôi gọi anh là Người hiểu giá trị của thời gian. Anh có sức khỏe. Anh làm việc như một con ngựa. Không chỉ vì cuộc sống khó khăn, trách nhiệm của người con, người chồng, người cha và cả người ông nữa trong gia đình khiến anh không được lười biếng, mà cái tính anh nó thế. Con ngựa già sinh đúng năm 1930 thế kỷ trước sang tới đầu thế kỷ này cứ phải dậm chân, gõ móng, lắc bờm không thể đứng yên một chỗ. Đi. Viết. Và dịch. Tôi luôn giục anh khi hai chúng tôi đều đã trên dưới 70:

– Nhớn tướng rồi. Cổ lai hy rồi. Viết hồi ký đi là vừa ông ạ.

Tôi đã có hai tập hồi ký được in và rất muốn anh cũng có hồi ký để hoàn chỉnh thêm bức tranh cuộc sống của mấy đứa chúng tôi. Thế là anh kể về những ngày thơ ấu của anh. Thời còn đi học, chúng tôi thường đùa anh, đọc to như kiểu đọc chính tả để anh cứ thế mà viết kê khai lý lịch.

Họ và tên khai sinh: Lê Bầu.

Họ và tên bố: Lê Bí.

Họ và tên con: Lê Thị Mướp Hương.

Hôm ấy nghe anh, mới biết tên ông thân sinh ra anh chính là Lê Bý!

Bầu cười lớn:

-Tên bố tôi là từ tên tôi mà ra đấy chứ. Tên bố có sau, tên con có trước. Tên bố dựa theo tên con. Ông già mình không có tên, cứ gọi là bác Cu, anh Cu. Thế rồi ông chú mình không biết làm điều gì đó bị Pháp truy nã phải trốn lên Tinh Túc. Sợ Pháp bắt nhầm, cụ vội đi làm giấy khai sinh. Lấy tên gì bây giờ. Tên Bý. Con Bầu, bố Bý. Còn cái tên Bầu của tôi là thế này: Lúc còn bé, mẹ tôi mang theo ra chợ, vừa trông con vừa bán hàng. Bạn hàng của cụ mối người kéo vào bế một tý, hết bà này đến bà khác. Tôi khỏe mạnh, bầu bĩnh, béo tốt, bà nào cũng thích bồng bế, nên các bà gọi tôi là thằng Bầu. Thế là có tên Lê Bầu…

Chỉ riêng lai lịch tên anh và tên ông già anh viết ra cũng đã thú vị rồi. Nhìn đôi mắt long lanh, nghe giọng nói sôi nổi của anh, tôi tin anh sẽ viết hồi ký. Tôi nói thêm:

– Viết ngay đi Bầu ạ. Sống chết chẳng biết thế nào. Có khi ông giời còn cho sống, nhưng không làm việc được nữa.

Anh lắc đầu, rất tự tin:

-Yên tâm. Còn khỏe.

Và cười lớn nói về một ông nhà báo nào đó viết sức khỏe nhà văn Lê Bầu rất tốt dù đã ngoài bảy mươi, sáng nào cũng tập thể dục đều:

– Tôi bảo nó: Ông Lê Bầu chưa hề tập thể dục bao giờ!

Tôi cũng cười nhưng rồi nghĩ đến Nguyên Hồng qua đời đột ngột ở tuổi ngoài 60 trong khi còn bao dự định chưa thực hiện:

– Huyết áp ông thế nào?

-Tốt. Thường là 140 trên 90. Cũng có lúc 150.

Tôi nghĩ thầm tuổi 70 thế là được. Còn đủ thời gian, sức khỏe viết hồi ký. Cuộc đời anh cũng long đong chẳng kém tôi, chắc chắn sẽ có một tập sách hay, ghi lại một vẻ mặt của lịch sử mang nhãn hiệu Lê Bầu.

Những lần gặp sau, hỏi anh về hồi ký, có vẻ như anh chưa đả động gì đến. Khi là kể về chuyến đi Cao Bằng cùng với mấy nhà báo, khi anh kêu ca về chuyện hình như bị tiền đình hay sao ấy, nhiều lúc choáng váng rất khó chịu.

Rồi từ Hải Phòng gọi điện giục thì anh nói sắp đi Trung Quốc “với mấy thằng nữa. Chúng nó rủ đi, chỉ mấy ngày thôi”. Tôi kêu lên:

-Sức khỏe thế đi Trung Quốc làm gì? Ông Vũ Bão đấy. Dự hạp long cầu Bãi Cháy rồi đi luôn.

– Dạo này khá rồi. Chứng tiền đình không còn nữa. Với lại đi sang ngay bên kia biên giới thôi. Có một làng toàn người Việt Nam. Thú vị lắm. Cũng muốn mua thêm mấy tập truyện Trung Quốc. Mang về xem có dịch được không.

Ít ngày sau lên Hà Nội, nhìn anh đang đánh vật với tập tiểu thuyết tiếng Tầu như một cục gạch.

-Quyển gì mà dầy thế này?

– Tần Xoang. Điệu Tần của Giả Bình Ao. Thú lắm.

Bầu rất thích Giả Bình Ao. Trần Đình Hiến nói dịch Giả Bình Ao chỉ có Lê Bầu là đạt nhất.

Tôi không đánh giá cao ông nhà văn này. Và bây giờ tôi ghét ông ta.

Tôi kêu lên:

– Bao giờ viết hồi ký?

– Viết được một ít rồi. Sẽ viết tiếp. Làm cái này đã. Nhuận bút dịch mà nó trả mười bốn phần trăm giá bìa cơ mà!

Anh nhìn tôi như người có lỗi. Mười bốn phần trăm giá bìa tập sách dầy khiến tôi không dám nói thêm một lời. Anh dịch Tần Xoang. Sách in xong, anh ký tặng tôi. Hai tập. Mỗi tập cả nghìn trang. Tôi hỏi anh nhuận bút.

– Mấy đứa đặt hàng nó có giả hết đâu.

– Những đứa nào? Bọn đầu nậu ấy?

– Mấy đứa ở Hội Nhà Văn.

Tức anh, tức mấy đầu nậu sách và tức Giả Bình Ao, hai tập Điệu Tần anh ký tặng, tới bây giờ tôi vẫn chưa giở đọc!

Sau đó là bệnh tật, là những lời quá mệt mỏi của anh qua điện thoại:

– Rất mệt. Đi khám thì nó bảo không biết bệnh gì.

– Bây giờ đi lại trong buồng cũng khó. Ăn kém. Lúc nào cũng buồn ngủ. Có lẽ phải bảo một cháu đến phục vụ mất thôi.

Thế rồi được tin anh vào nằm bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô. Tôi nghĩ: Ông Bầu sướng thế, ốm được vào Việt Xô. Thứ mình ốm chỉ có chết. Việc Bầu vào Việt Xô làm tôi yên tâm. Đấy là nơi chữa bệnh cho những cán bộ trung cao cấp. Anh đã vào Việt Xô một lần. Mổ thoát vị năm 2000 mà mọi người nói là làm lễ tiểu hara kiri (mổ bụng theo nghi thức võ sĩ đạo Nhật Bản) để bầy tỏ sự ủng hộ tập Chuyện kể năm 2000 của tôi bị Nhà Nước thu hồi, có mặt Hòa Vang, Mạc Lân, Vũ Bão và cả ba đều đã mất. Còn anh khỏe mạnh cho đến gần chục năm sau.

Một ngày cuối năm 2008, tôi lên Hà Nội nhận sách bản quyền tiểu thuyết Biển và Chim bói cá mới xuất bản. Tôi và Dương Tường đến bệnh viện thăm anh. Vẫn nghĩ anh không đến nỗi nào, tôi cười :

  • Chào cụ. Sách của tôi mới in đây. Tặng cụ.

Nằm trên giường bệnh, anh rút tay ra khỏi tấm chăn đắp trên người, nắm tay chúng tôi, bàn tay nhơm nhớp mồ hôi.

Lúc bấy giờ tôi mới nhìn kỹ bạn tôi. Bầu sút trông thấy. Mái tóc thưa càng thưa hơn. Trông rõ da đầu. Má hóp, mặt đen sạm. Không phải Lê Bầu tôi vẫn gặp. Anh không ngồi được nữa. Không cười. Nói khẽ. Thều thào. Vẫn không biết bệnh gì. Nó bảo nằm đây chờ xét nghiệm.

Chúng tôi ra hành lang gặp mấy người con anh. Các cháu cũng nói như anh nói: Chưa biết bệnh gì.

Về Hải Phòng tôi chưa bao giờ nghĩ Bầu sẽ ra đi.

Nhưng một cú điện thoại của con gái anh đã đuổi theo tôi:

-Bố cháu bị ung thư máu giai đoạn cuối.

Vậy là căn bệnh hiểm nghèo đã tàn phá anh từ bao giờ rồi mà anh không biết.

d 006

 Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu trên hồ Đại Lải

Lê Bầu ra đi mang theo tập hồi ký về cuộc đời long đong chưa bao giờ được viết ra của anh. Tôi trách anh. Sau này tôi biết anh dịch Tần Xoang không chỉ vì tiền (khi anh mất, con cháu ít nhiều đều được chia phần trong số tài sản còm anh để lại). Dịch Tần Xoang vì anh thích dịch Giả Bình Ao. Và nghĩ mình còn khỏe, còn thừa thời gian viết hồi ký và làm việc.

Anh không nghe tôi, không chịu rút kinh nghiệm Nguyên Hồng. Tôi luôn sợ cái chết cắt ngang và dành ưu tiên số một cho những điều cần phải viết. Ngoài ra, tất cả đều là thứ yếu.

Đã hơn bốn năm qua từ khi anh mất. Tôi không nghĩ đến quyển hồi ký lẽ ra được đọc của anh, cũng không trách gì anh nữa. Chỉ thỉnh thoảng nhớ anh, nhớ tiếng cười của anh. Tiếng cười giải tỏa những mệt mỏi căng thẳng của tôi, tiếng cười mà Lê Thị Oanh, phóng viên bào Hàng Không nhận xét: “Anh Bầu cười mới thích chứ. Anh ấy không cười thế thì anh ấy chết. Anh ấy khổ quá”.

Thì một người bạn không hề dính dáng đến văn chương chữ nghĩa mang đến cho tôi một chiếc phong bì:

-Đố ông biết tôi mang đến cho ông cái gì đây?

Tôi đỡ chiếc phong bì khổ lớn phồng phồng. Chiếc phong bì giấy giang quen thuộc mầu nâu cứng cũ sờn của Tạp Chí Nhà Văn có ghi dòng chữ Kính gửi đồng chí Lê Bầu. Và rút cái ruột ở bên trong. Một xếp giấy đánh máy. Người Dưới Bãi. Vẫn còn một xếp nữa mỏng hơn: Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng. Hồi ký Lê Bầu! Di cảo của anh! Dù cà hai cộng lại chỉ hơn trăm trang đánh máy.

Cầm xếp bản thảo như gặp lại bạn mình. Như có anh đang ngồi trước mặt. Những tờ pơ luya nội hóa màng màng có thể nhìn xuyên qua. Những hàng chữ chỗ rõ, chỗ nhòe, chỗ mờ. Tôi nhớ anh thường xin mực in nhuộm lại ruy băng đã cũ nhầu để dùng. Cũng nhớ anh chuyên dùng pơ luya và giấy than nội, có ram pơ luya ngoại để dành thì bị mối xông.Và đây, những chữ viết tay nét chữ quen thuộc anh ghi thêm bên lề.

Vậy là đúng như anh nói cùng tôi: Anh đã viết hồi ký.

Tôi đọc. Một Lê Bầu của tuổi thơ. Lê Bầu một thời thơ ấu. Đến bây giờ tôi mới hiểu cái tuổi ngọc ấy của anh. Một “tuổi ngọc” dành riêng cho những trẻ con nhà nghèo suốt ngày lo lắng miếng ăn. Những đứa trẻ sống tự nhiên như “những con hươu con nai trong rừng”, gần như không có người trông nom kèm cặp dạy dỗ, ngoài lời đe duy nhất của bố mẹ và những người phu khuân vác bạn của bố yêu cậu bé Bầu: Không được chầu mồm! Nghĩa là không được nhìn mồm người ta khi người ta đang ăn! Đi học, bơi sông, đánh đáo, đánh khăng, đứng quanh đám chèo, đám xẩm, xem, nghe, bàn chân lúc nào cũng dẫm lên nền đất ẩm phù sa sông Hồng. Có đi lên phố cũng là đi xem bọn lưu manh giở mánh lừa đảo người nhà quê lên Hà Nội.

Bầu là trẻ con bãi Phúc Xá Hà Nội. Thế mà tôi cứ tưởng ở Bắc Giang. Một Hà Nội những năm 30 của thế kỷ trước với những người dân dưới bãi, không phải ngoài bãi đâu mặc dù Phúc Xá nằm ngoài đê. Dân  dưới bãi vừa chỉ đúng độ cao của bãi bồi so với phố phường nội thành Hà Nội, và cũng chỉ đúng nấc thang xã hội của những người sống ở đó.

Đọc di cảo Lê Bầu, tôi không chỉ được sống với tuổi thơ anh, mà còn được sống với Hà Nội non thế kỷ trước. Từ việc chia lô, cách chia lô khu đất bồi tới những gia đình phiêu dạt từ các miền quê về tụ trên mảnh đất. Chồng theo, vợ theo. Không cưới xin. Lẳng lặng mà về. Đến lúc bỏ nhau lẳng lặng mà đi. Chính bố anh trong thời gian làm bột cũng có một bà vợ theo mà Bầu không biết bố đã “tán” mẹ thế nào để bà chấp nhận: Dì Cơi! Tuy nhiên, nhiều trưa Bầu vẫn phải đi làm nhiệm vụ do thám Dì Cơi và bố trên xưởng bột rồi về báo cáo với mẹ.

-Bố mày có ngủ không?

-Bố con đi đưa (giao) bột!

-Di Cơi mày có ngủ không?

-Dì Cơi xay bột!

– Dì Cơi có cho mày ăn gì không?

– Dì Cơi cho con ăn tào phớ!

– Tiền đâu mà ăn?

-Con không biết!

-Còn ăn gì nữa không?

-Không ăn gì, nhưng dì cho uống xích tông ca la đinh!

Khi xưởng bột của bố đóng cửa, dì Cơi ra đi, không bao giờ gặp lại nữa như mọi người vợ theo, chồng theo “dưới bãi”.

Tập hồi ký ngắn của anh có Tý Bủng, cầm đầu bọn anh chị bến ô tô Chợ Nứa (sau gọi là Bến Nứa) vói cách đánh vợ chửa lạ đời: Lấy xẻng khoét một cái hố giữa nền nhà rồi bắt vợ nằm sấp úp bụng vào hố và đánh vào đít đúng mười roi! Có bà Cau, bán nước ở ngã tư đường Bờ Sông đối diện với ngã tư Hàng Đậu, hiền như bà bàn nước trong cổ tích, trông thấy Bầu đi lang thang lên bến ô tô, ra ga xem chị em Bính Lớn, Bính Con lừa người nhà quê kiếm tiền là dặn: ‘Đứng xa xa chúng nó ra. Hỏng việc của chúng nó, chúng nó đánh chết.” Rồi hỏi: “Cháu bà học đến đâu rồi?” Có vợ chồng anh cả Mốc, có thầy cút lít, có cột đồng hồ trên đường vằng người, bọn cướp hay hoạt động…

Những tên phố, tên đường gợi một Hà Nội xưa, Nghĩa Dũng, An Dương, Tứ Tổng, Chợ hoa Cổng chéo Hàng Lược, dốc phố Hòe Nhai, hãng ô tô Con Thỏ của Lê Hữu Giai, Nhà Thương làm phúc, Chợ Nứa, Cổng đình Hàng Khoai, công Ty phú Hưng Thành…, cùng những tên người: Dì Ếch, Dì Cua, vợ chồng anh cả Mốc, Bác Bính kem… với những phương cách mưu sinh, kẻ bất lương, người lương thiện… đã cuốn hút tôi.

Tôi nghĩ những người thích tập hồi ký mỏng này của Lê Bầu sẽ không chỉ là trẻ em, mà cả người lớn, những người thích tìm hiểu Hà Nôi, kể cả những nhà Hà Nội học.

Là người đọc và nhuận sắc tập di cảo này, tôi khá vất vả vì nó. Rõ ràng anh mới nháp lần đầu. Khi hết một ý, anh đánh dấu phẩy, chờ những ý rồi sẽ đến. Những dấu phẩy cứ thế kéo theo nhau, có khi đến cả trang. Và khi hết “dấu phẩy”, trước khi xuống dòng, anh đánh dấu chấu chấm lửng (…) nghĩa là rồi sẽ được bổ sung thêm. Tôi dọn dẹp những chỗ đó, sao cho vãn giữ nguyên giọng văn của Lê Bầu.

Hai phần hồi ký với hai tên riêng cho từng phần. Nghĩa là sẽ còn những phần tiếp theo và tất cả sẽ được đặt dưới một tên chung.

Chúng tôi tạm để lại phần “Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng” và xin được đặt tên mới cho tập sách.

Và bây giờ, mời các em, mời các bạn đến với tuổi thơ Lê Bầu, đến với dân dưới bãi của Hà Nội ngày xưa.

d 007

Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu tại Đại hội Nhà văn lần VI Hội trường Ba Đình

Hải Phòng 2-11-2013

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Advertisements
%d bloggers like this: