Nhớ Tấn

vth

NHỚ TẤN

Vũ Thư Hiên

Một thế hệ có thể làm nên tất cả. 

Một thế hệ vàng ròng nhưng đã bị làm hỏng và cũng đã góp phần làm hỏng một thế hệ khác. (Dương Tường)

Từ Hà Nội, Dương Tường gọi tôi: “Tấn đi rồi, Hiên ơi, sáng nay, lúc 6 giờ 15. Buồn quá!”

Buồn, chứ lại không ư? Còn hơn thế, Tấn đi. để lại cho mấy thằng bạn còn lại biết bao hụt hẫng, biết bao nuối tiếc.

Tôi muốn khóc, mà không còn nước mắt.

Bấm tay tính lại số bạn bè ngày ấy, thấy chỉ còn vài đốt nữa là hết. Mà tưởng chừng mới đây thôi, lũ chúng tôi, những đứa con của cách mạng, và cũng là những nghịch tử mà đảng muốn thịt bằng hết, không có đủ đốt tay để mà đếm.

Có trời biết vì sao lại rơi vào trong lũ đầu bò đầu bướu chúng tôi ngày ấy một anh chàng củ mỉ cù mì, hiền lành rất mực, là Bùi Ngọc Tấn. Chỉ có thể giải thích theo lý lịch: lũ chúng tôi hầu hết xuất thân tiểu tư sản, nếu không tệ hơn, còn Tấn lại thuộc thành phần nông dân, là thứ được đảng cộng sản coi là quân chủ lực (của đảng, tất nhiên).

Phải nói thêm một chút cho khỏi có sự hiểu nhầm về ngữ nghĩa: cái lối gọi lái “tạch tạch sè” (tiểu tư sản) ở đây hoàn toàn không có nghĩa người có tư sản nhỏ, xí nghiệp hay là tiệm buôn, mà là cái biển tên khinh bỉ được cách mạng gắn cho những kẻ trót dại sinh ra ở thành phố, nhất là những tên có nước da trắng trẻo, lại còn đeo kính trắng.

Đời Bùi Ngọc Tấn nhiều nghịch lý. Điều tôi vừa kể là chỉ là nghịch lý lớn nhất. Tưởng chừng cái nghiệp cầm bút của anh tự nhiên phải gắn liền với thành phần xuất thân của anh. Đi với cách mạng, được cách mạng đào tạo, anh ắt phải trở thành một nhà văn cung đình như những người cùng gốc gác, hoặc những người kiên quyết từ bỏ gốc gác để một lòng theo cách mạng. Những người này hợp thành đội ngũ văn nô chuyên viết tụng ca rổn rảng hoặc tiểu sử hoành tráng đầy chiến công thấn xuất quỷ nhập của các “lãnh tụ” cách mạng…

Giống anh về thành phần, cũng trong lũ chúng tôi, chỉ có Phù Thăng, tác giả cuốn Phá Vây nổi tiếng với những dòng văn bộc trực chống chiến tranh giữa thời thịnh trị của đường lối cách mạng bạo lực, làm cho tướng Nguyễn Chí Thanh, người mưu toan chỉ huy cả đội quân văn chương vô sản, phải nổi điên để ra lệnh cấm.

Người bạn thân nhất của Bùi Ngọc Tấn là Hứa Văn Định. Cũng lại là một tình bạn tréo cẳng ngỗng, một nghịch lý nữa, có thể nói như thế. Hứa Văn Định là một nhà văn tài ba và ngang tàng, tiếc rằng được rất ít người biết đến. Trong khi Bùi Ngọc Tấn chăm chỉ viết những bài báo đầu tay theo văn trào người tốt việc tốt thì Hứa Văn Định đã có những truyện ngắn ngang ngược, bút pháp sỗ sàng, may mà không ai dám in, vì thế mới không bị đánh. Những tác phẩm được xuất bản Định gọi là “thứ văn chương vằn vện ấy mà”, còn những gì không thể in được anh xếp xó, chỉ để cho bè bạn thân thiết đọc. Hơn bè bạn ở chỗ có phòng riêng để ở, khi Tấn mới có tình yêu trong cái thời tình yêu bị dính liền với tội “hủ hoá”, Định nhường chỗ ở của mình cho Tấn và Bích gặp nhau để lang thang nhà này nhà khác, bạ đâu nằm đó.

Tôi quen Tấn là qua Hứa Văn Định, trong ngôi nhà khang trang đường Điện Biên Phủ, được bọn thanh kiếm và lá chắn của đảng tuyên xưng là “câu lạc bộ Pê-tô-phi” của Hà Nội.

Oan cho chúng tôi, vì trong những người thường xuyên lui tới nhà Định không phải chỉ có lũ đầu bò, mà có cả những người về sau này trở thành vai vế trong làng văn chính thống. Đến khi Liên Xô Trung Quốc chửi nhau như mổ bò, thậm chí còn giã nhau ở biên giới, thế giới cộng sản tan thành hai mảnh, mùi binh đao vừa mới phảng phất là những người này biến ngay lập tức, cứ như thể họ chưa từng có mặt.

Còn lại là những kẻ không biết sợ: Kỳ Vân, Mạc Lân, Vũ Huy Cương, Châu Diên. Dương Tường, Phù Thăng, Từ Chi, Tuân Nguyễn, Hoàng Tiến… Mà cả những tên bị coi là đầu bò này cũng chả có gì đáng được coi là có hoạt động chính trị đúng nghĩa. Chẳng qua vì bực mình trước những ngang tai chướng mắt bề bề mà bật ra những lời nói ngược với xã luận báo đảng mà thôi. Gọi là chính trị là cái đó, chứ không phải cái nào khác.

Bùi Ngọc Tấn tránh xa cả cái chính trị vô hại ấy. Anh là người biết sợ. Và biết né. Trong anh không bao giờ có nhu cầu làm người dũng cảm, hoặc ít hơn, người ngang ngạnh. Anh rón rén từng bước trên đường sáng tác để không chạm vào những cấm kỵ, anh lẩn tránh những thứ “có vấn đề” bằng nụ cười hiền hậu, bằng giọng nói rụt rè, dành say mê cho những “con chữ” (nói theo cách Dương Tường). Chẳng bao giờ Tấn khoe với chúng tôi những gì anh đang viết. Chúng tôi chỉ được biết anh viết gì khi sách đã in ra. Văn anh hiền lành như người anh vậy. Thứ văn ấy chúng tôi không đánh giá cao, chỉ mỉm cười khích lệ. Mà Bùi Ngọc Tấn cũng nhút nhát lắm khi nào không thể tránh phải nói về mình trước những ông bạn bặm trợn một khi đã bốc lên rồi thì trời cũng bằng vung.

Đảng cộng sản đã biến con người hiền lành ấy thành cái gì thì giờ đây ai cũng biết.

Bỏ Bùi Ngọc Tấn vào tù, đảng được “Chuyện kể năm 2.000” để phải cấm, phải tiêu huỷ. Rồi khi Bùi Ngọc Tấn nằm xuống thì phải sai lâu la đi giật băng tang trên vòng hoa của những người ái mộ.

Những nhà văn được đảng tống vào tù như Bùi Ngọc Tấn rồi cũng sẽ lại quả cho đảng những món quà đắng.

Xem ra thành công lớn hơn cả của đảng cộng sản là xây dựng rất tốt nền công nghiệp chế tạo kẻ thù.

Bùi Ngọc Tấn vào hồi ấy hiền lành là thế, cho nên khi tôi rơi vào tù rồi, ngồi ngẫm xem ai trong bạn bè có thể cùng chung số phận với mình, thì Bùi Ngọc Tấn là người bị tôi loại ra đầu nước. Thế mà rồi người ta cũng bắt anh đi tù, mới lạ. Mà chẳng nói chắc được anh bị bắt vì cái gì. Biết đâu, trong lúc nào đó, ở nơi nào đó, Tấn đã trót dại nghĩ to một điều gì đó. Và thế là một hồ sơ được lập. Hồ sơ của công an có một đặc điểm, nó chỉ dày lên chứ không khi nào mỏng đi.

Tin Bùi Ngọc Tấn vào tù đến với tôi, cũng đang ở trong tù, rất chậm. Bốn năm sau tôi mới biết tin này.

Trong việc chọn đối tượng cho sự trấn áp, nhà cầm quyền cộng sản nào cũng thế, cũng rất khó hiểu. Nhất là ở bên Tàu. Trong cuộc Đại cách mạng văn hoá vô sản, các Hồng vệ binh đã lùng ra cả đống kẻ thù, từ những nhân vật hoạt động cách mạng trước “người cầm lái vĩ đại” Mao Trạch Đông cho tới chị nông dân sợ giết một con gà.

Có thể nghĩ lẩn thẩn rằng khi thấy trung ương bắt bọn xét lại cấp trung ương thì nhà cầm quyền cấp tỉnh hay cấp thành phố cũng thấy mình phải hối hả xách còng số 8 đi bắt vài tên xét lại địa phương. Cho nó oách.

Mà cũng có thể đoán già đoán non rằng người ta có cách tính khác, vượt xa cái đầu óc thiển cận của người bình thường như tôi. Nếu anh đoán được họ sẽ bắt ai theo một số tiêu chuẩn nào đó về kẻ thù là đúng, thì chỉ có một số nhỏ những ai tự xét thấy mình nằm trong tiêu chuẩn đó phát rét, chứ nếu người ta tóm cả những kẻ không ai nghĩ tới có thể bị bắt, thì cả xã hội sẽ sợ. Cả một xã hội sợ mới là cái nhà cầm quyền muốn có.

Vào cái thời có cuộc trấn áp “bọn xét lại chống đảng” dân chúng không nhiều thì ít đều bực bội với cách cai trị của đảng trong nhiều mặt đời sống. Đến cả Nguyên Hồng, nhà văn được coi là cốt cán của đảng, cũng rơi vào tâm trạng ấy. Tôi có ghi lại câu chuyện sau: Một hôm, Nguyên Hồng bắt gặp Bùi Ngọc Tấn đang đứng dưới tấm bảng lớn bằng cả bức tường để so vé xổ số. Nguyên Hồng thụi cho Bùi Ngọc Tấn một quả: “Cái thằng rõ ngu. Ở đời đã chán vạn cái thất vọng mà mày còn bỏ ra hai hào mua thêm một cái, đắt quá! Ngu!” Ít ngày sau, đến lượt Bùi Ngọc Tấn bắt được quả tang Nguyên Hồng cũng đang so vé số, cũng trước chính bức tường ấy. Tấn khoái lắm, đem câu nói của Nguyên Hồng hôm trước ra đay. Nguyên Hồng làm bộ sửng sốt: “Tao có nói thế à? Không có lẽ. Ở đời toàn là thất vọng, bỏ ra có hai hào mua được cả một cái hi vọng, rẻ ơi là rẻ!”.

Trong một lần ngồi cùng bè bạn, Bùi Ngọc Tấn chỉ tôi: “Tại sao tôi bị bắt á? Tại cái ông này này. Vi tôi chơi với ông ấy. Có vậy thôi. Vía ông ấy nặng lắm!”.

Tấn nói không phải không có lý. Sau này tôi mới biết từng có những lời đồn đoán rằng Hồng Sĩ bị bắt là do chơi thân với Kỳ Vân. Kỳ Vân bị bắt vì chơi thân với Hoàng Minh Chính. Hoàng Minh Chính bị bắt vì kết bè với Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang…

Nếu đúng là thế thì tôi nợ Tấn nhiều lắm.

Không hiểu sao, nhưng từ khi đi tù về, Bùi Ngọc Tấn bỏ hẳn cách mày tao mi tớ với bạn. Chừng anh sợ cả sự quen mui để lỡ lời trong xưng hô có thể mang lại hậu quả xấu. Từ trước Tấn đã không giao du tràn lan, nay lại còn kén chọn riết róng hơn nữa. Tấn không có bạn tào lao. Đến ngay bà vợ bé của “hoàng thượng”, tức tổng bí thư đảng, cùng làm việc với Tấn trong toà soạn tờ Hải Phòng Kiến Thiết, cũng không được Tấn coi là bạn, cho dù sự kết thân ấy chỉ có lợi trở lên.

Tôi không ngờ rồi lại có cuộc gặp mặt Bùi Ngọc Tấn bên trời Tây sau một thời gian xa cách đằng đẵng. Ngồi trên giường, trong căn phòng áp mái 14 thước vuông của tôi tại Paris, nơi không có lấy một bàn trà tiếp khách, Tấn ứa nước mắt “Hề hề, đây là cái mình không ngờ. Cứ tưởng ông sang đây thì…”, Tấn nghẹn ngào bỏ lửng.

Tấn tới Paris lần này đúng vào dịp chị Hồng Ngọc, vợ anh Hoàng Minh Chính cũng từ Roma tới thăm tôi. Hai thằng cựu tù, một vợ tù, rủ nhau đi một chuyến ngao du châu Âu cho bõ những ngày khổ ải. Đó là một chuyến đi rất thú vị – ở đâu chúng tôi cũng được bạn bè đón tiếp nồng hậu. Đó là món quà có thể hình dung được nhưng luôn luôn bất ngờ của những người dân Việt xa xứ dành cho những kẻ ít nhiều dính dáng tới cuộc đấu tranh cho dân chủ hoá đất nước.

Bùi Ngọc Tấn cảm động lắm. Khi cảm động, mắt anh chớp liên tục. Ấy là cách anh ngăn cho những giọt nước mắt khỏi trào ra.

Trên đường từ Munchen đi Vienna, tôi phát hiện thêm một nét khác, hay là một nét thêm, ở Bùi Ngọc Tấn.

Đến Salzburg, thành phố địa đầu của Áo với Đức, sau khi mới đi thăm được vài thắng cảnh, viếng nấm mộ giả tưởng của Mozart, chị Hồng Ngọc bỗng lên cơn đau gì đó, mặt tái nhợt, mồ hôi vã ra. Đã định đưa chị vào bệnh viện, nhưng chị không chịu. Đành quay xe về Munchen. Thế là kế hoạch cho Tấn nghe nhạc giao hưởng ở giữa thủ đô âm nhạc thế giới không thành.

Trên đường, chúng tôi đi ven con hồ Chiemsee mênh mông đúng vào lúc hoàng hôn sắp tắt. Trên mặt hồ tràn trề ánh nắng bạc màu hồng của mặt trời đang lặn là một đàn thiên nga cả ngàn con bồng bềnh. Tấn hét lên: dừng lại!

Lập tức những con con thiên nga ở gần bay lại, ồn ào nhặt những mẩu bánh mì vừa chạm nước. Mặt Tấn rạng rỡ niềm vui kỳ lạ khi những con thiên nga dạn dĩ bơi lại gần anh, tưởng chừng có thể đưa tay vuốt ve bộ lông trắng mượt của chúng.

Bỗng tôi thấy mặt Bùi Ngọc Tấn buồn hẳn, nó xịu đi, đôi mắt lại chớp chớp. Anh lẩm bẩm nói với đàn chim trời: “Thiên nga ơi, thiên nga! Các em mới may mắn làm sao! Các em sinh ra ở phương trời này. Chứ các em ở quê anh ấy à… Thì các em vào nồi từ lâu rồi!”

Quay trở lại xe, suốt đường về, anh ngả người trên ghế, mũ úp lên mặt, không nói câu nào. Tôi chợt hiểu ra: với một tình yêu xót xa với thiên nhiên như thế, thì với con người anh còn xót xa biết bao nhiêu.

Và chỉ với một tình yêu người đau đớn đến rỉ máu, Bùi Ngọc Tấn mới có thể để lại cho chúng ta những tác phẩm đầy lòng nhân ái.

Paris 2014

Tác phẩm để lại:

  • Mùa cưới
  • Ngày và đêm trên Vịnh Bái Tử Long
  • Đêm tháng 10
  • Người gác đèn cửa Nam Triệu
  • Nhật ký xi măng
  • Nhằm thẳng quân thù mà bắn
  • Nguyên Hồng, thời đã mất, 1993
  • Một thời để mất, 1995
  • Một ngày dài đăng đẳng, truyện ngắn
  • Những người rách việc, 1996, tập truyện
  • Chuyện kể năm 2000, truyện dài
  • Rừng xưa xanh lá, 2004, ký chân dung
  • Biển và chim bói cá, 2009, tiểu thuyết

Giỗ đầu Bùi Ngọc Tấn

Phóng viên vườn

        A1

          Năm nay giỗ đầu Bùi Ngọc Tấn nhằm trúng ngày 8 tháng 12 năm 2015, và trúng cả ngày … in xong “Thời biến đổi gien”. Ông bố đẻ đã đi xa, ông bố đỡ đầu Nguyễn Chí Cư nâng niu những cuốn sách thơm phức đem về Hải Phòng thắp hương cho Tấn, và hóa vàng cả một cuốn nặng trịch, thêm một lá thư của Dương Tường gửi Bùi Ngọc Tấn “Thư gửi bạn ở Cõi-Bên-Kia – Người nhận: Bùi Ngọc Tấn – Địa chỉ: Cõi-Bên-Kia”, thêm một số tạp chí “Người yêu sách” có ảnh nhà văn họ Bùi che kín trang bìa… Chen chúc trên nấm mộ cỏ xanh rờn còn có bài báo mới của chú Thụy Kha, và hai tấm “thiệp hồng” to cỡ A4 gửi cho bạn Tấn với những lời không thể mộc mạc hơn: một tấm “VĂN VIỆT không quên Bùi Ngọc Tấn”, một tấm “VĂN VIỆT nhớ mãi Bùi Ngọc Tấn”.

         IMG_1651 (1)

         Không ai quên Tấn! Và không ai quên chào chị Bích, người từng lặn lội (cùng Nguyên Bình) thăm nom Tấn không ngơi nghỉ – chị Bích bị đột quỵ từ năm ngoái, hôm nay ngày giỗ, không ra thăm mộ Tấn được, nhưng con trai, con gái, con rể, con dâu, ba ông bạn già từ Hà Nội xuống sớm, Nguyễn Xuân Khánh, Dương Tường, Châu Diên, vừa đến đất Cảng đã gặp ngay Đào Trọng Khánh và Lê Đại Chúc, hòa vào một đoàn kéo nhau ra nghĩa trang. Khi đem “hóa” cuốn tiểu thuyết mới in, Châu Diên hơi tiếc, khẽ nhắc “đừng đừng…”, cháu Yến vội chạy lại, an ủi, “bác Cư muốn thế, gửi đi cho bố cháu vui”. Ờ thôi cũng được, chiều lòng người sống, chiều lòng người bạn chân tình của người … nhanh thế đấy, mới hôm nào còn nhăn nhó kêu đau, thế mà đã ra đi trọn một năm …

        DSC_0094

           Mọi người không quên người bạn cao niên của Bùi Ngọc Tấn cũng nằm chung nghĩa trang. Anh em kéo nhau qua thắp hương cho ông Lê Đại Thanh. Châu Diên đọc to một câu thơ của Lê Đại Thanh, và bình “Kháng chiến trường kỳ, tôi ngủ dưới rừng bương” … hề hề, ông ấy chẳng khoe công trạng, ông ấy chỉ khoái chí phô trương gì chuyện ông ngủ dưới rừng bương” … Và Châu Diên nói thêm: “Lời bình thơ Lê Đại Thanh mình vừa nhắc lại là của con rể xứ Cảng, đạo diễn Nguyễn Tự Huy – anh cũng vừa nằm xuống mùa hè vừa rồi, đi chợ về, ăn cơm xong, nằm nghỉ, và đi luôn, nhẹ nhõm như tấm thân gày gò chở những bộ phim nặng trịch của anh: Làng Vũ Đại ngày ấy, Núi tương tư, Người trở về… Đất Cảng nhiều người tài: đang chuyện điện ảnh, bà con ta vây lấy Đào Trọng Khánh, người lĩnh ngót nghét chục giải thưởng, “ba mươi năm làm phim, trung bình ba năm một giải”… Rồi lan man sang những thân phận nghệ sĩ đất Cảng. Không biết vì sao, câu chuyện dừng lại ở Tường Vân, người được quy kết là bị tâm thần và được chết trong một cái chuồng gà công nghiệp … người đã nằm gọn trong tiểu thuyết mới nhất của Nguyễn Khắc Phục, cũng lại là một người đất Cảng…

DSC_0145a

          Sáng hôm sau … Bè bạn kéo về đông vui. Một số phận gian nan đã kêu kéo bè bạn tụ tập về thành một niềm an ủi không dễ mà mua được mà tranh mà giành được… Giáo sư Vật lý Phạm Duy Hiển với họa sĩ Tạ Chí, đôi bạn thơ được ghép và tự ghép Tạo Kha, họa sĩ Đinh Quân và chú Vũ “thợ ảnh”, … kể sao cho đủ. Nhưng đây là điều phải kể: mọi người cùng nhớ ra, ngày giỗ Tấn hôm nay, ngày mai là giỗ Vũ Huy Cương đấy – đôi bạn từ thời báo Tiền Phong những năm 1950 và cũng là đôi bạn cùng Vũ Thư Hiên lang bạt qua những Quảng Nạp, Phong Văn, Phố Lu … những tên người tên đất không thể nào hủy hoại!

IMG_1620 (2)

        Toàn bộ cuộc bè bạn Tấn hạnh ngộ hôm nay chỉ có một dấu hiệu buồn… Và Dương Tường chính là người nhìn ra điều u sầu đó. Tường nói khẽ bằng cách nói thủ thỉ vốn có của nó:

          – Tao cứ nghĩ mãi, hình như có quên điều gì đó, bây giờ mới nhớ ra, tức ghê, hóa ra là quên Bùi Văn Ngợi.

          Phải dỗ Tường: thôi đừng nói ra, về Hà Nội lẳng lặng chữa cũng được…

        Hôm nay quên không nhắc gọi Bùi Văn Ngợi, giám đốc nhà Thanh Niên, người đã ra tay đỡ đầu cho Chuyện kể năm 2000 chào đời …

       Cuộc vui nào thì cũng có những phút ngậm ngùi. Câu thơ vận vào cái số thằng Tường đấy mà, Tôi đứng về phe nước mắt.

Thư gửi bạn ở Cõi-Bên-Kia

Nhân giỗ đầu nhà văn Bùi Ngọc Tấn

 

Thư gửi bạn ở Cõi-Bên-Kia        

 

Người nhận: Bùi Ngọc Tấn

Địa chỉ: Cõi-Bên-Kia

 

         Mình đang đi trên một con phố mới, hình như ở Hải Phòng. Lạ hoắc song lại có nét gì quen quen mà không tài nào xác định nổi. Giống như khi ta cố nhớ ra một cái tên rất thân quen, chắc chắn nó ở quanh quanh đâu đây trong bộ nhớ, chỉ dấn chút xíu nữa là “bắt” được mà nó vẫn vuột mất để rồi đến một lúc thôi không  cố nhớ nữa thì nó lại bất ngờ hiện ra. À, đây rồi cái biển tên phố gắn trên một cột đèn. Mình tiến lại và đọc thấy: BÙI NGỌC TẤN…

           Thế là mình thức giấc. Và ngồi viết thư cho Tấn đây.

          Ờ, thế mà đã sắp một năm chúng mình xa nhau rồi đấy nhỉ. Chiều qua, Vũ Thư Hiên từ Paris gọi điện về hỏi ngày giỗ đầu Tấn và số điện thoại của Bích, mình nói là từ khi Tấn đi, Bích vẫn dùng cái mobile cũ Tấn để lại. Có lẽ đó là những tiền đề dẫn tới giấc mơ này. Mình nhớ cách đây dăm bảy năm, nhân một chuyến xuống Hải Phòng thăm Tấn, mình nhảy xe ôm đến phố Văn Cao hồi đó vừa mới mở. Mình trả tiền xe và thả bộ dọc phố. Ở đây, ngay từ đầu, đã có qui định: không nhà nào được thấp dưới ba tầng. Chợt hiện lên trong trí nhớ mình  cái vẻ bí bí mật mật song không khỏi lộ niềm hân hoan khó kìm nổi của chị Thúy Băng, Văn Cao phu nhân, một hôm mình ghé thăm anh chị vào đầu những năm 1990, khi mình vừa bước chân vào nhà. “Tôi cho anh xem cái này”, chị nắm tay tôi kéo ra cuối hành lang căn gác hai nhà 108 Yết Kiêu. Hẳn phải là một sự kiện gì đặc biệt đây, mình nghĩ thầm. Té ra chỉ là một buồng vệ sinh không rộng hơn 4 mét vuông với thiết bị Nhật Bản trắng toát. Mình nói đùa mà suýt trào nước mắt: “Tưởng gì chứ bảy mươi tuổi mới được ị cho tử tế mà cũng khoe”.  Ấy đấy sinh thời Văn Cao sinh hoạt trong những điều kiện như thế, mà giờ đây khi anh không còn thì con phố mang tên anh laị thuộc loại sang nhất, đẹp nhất Hải Phòng và được coi là tuyến đường qui hoạch tốt nhất của thành phố, không cho xe tải qua.

          Đây không phải lần đầu mình viết thư gửi về Cõi-Bên-Kia. Khoảng 25, 26 năm trước, nghỉ đêm lại ở thành phố quê hương của Hồ Biểu Chánh, mình đã viết cho Nguyễn Tuân, một năm sau khi ổng ra đi. Bức thư ấy, chắc Tấn còn nhớ, được đăng trong cùng một số tạp chí Cửa Biển với đoạn hồi kí của Tấn về Nguyên Hồng. Hà Nội đã có những đường phố mang tên Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng …, những điểm son của văn học Việt Nam. Thế còn bao giờ Nam Định có phố Trần Dần, Bắc Ninh có phố Hoàng Cầm, Thanh Hóa có phố Hữu Loan, Yên Bái có phố Lê Đạt, Thừa Thiên-Huế có phố Phùng Quán?  Và Hải Phòng có phố Bùi Ngọc Tấn? Một dự cảm tâm linh nói với mình: rồi những giá trị đích thực sẽ được trả về đúng vị trí. Con đường mình vừa dạo chơi trong mơ – đường Bùi Ngọc Tấn – rồi sẽ thực sư có trong thực tại. Và biết đâu đấy, mình lại có dịp thả bộ trên con đường ấy, như đã thả bộ trên đường Văn Cao dăm năm trước, như vừa làm thế trong giấc mơ, thầm thì trò chuyện với Tấn trong rì rào những tán lá non của hàng cây mới trồng, nếu như mình còn ở trên cõi đời tạm trú này…

          Thư ngắn tình dài

          Hẹn gặp lại

          DƯƠNG TƯỜNG

BÁI BIỆT NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN

LỜI ĐIẾU ĐỌC TRONG LỄ TANG NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN

(10 giờ sáng 20/12/2014)

Thưa…

Tôi được tang quyến tin cậy uỷ thác cho trọng trách đọc lời điếu trong lễ tang này.

Hôm nay, chúng ta tiễn đưa một con người mà sự ra đi không chỉ là một mất mát không gì bù đắp nổi đối với gia đình, người thân và bạn bè, mà còn để lại một trống vắng mênh mông trong địa lý văn học nước nhà. Người mà chúng ta vĩnh biệt hôm nay là công dân Bùi Ngọc Tấn, một người con đáng tự hào của Hải Phòng, hội viên danh dự hội Văn Bút quốc tế, từng đoạt 2 giải Văn chương quốc tế có uy tín.Với tư cách là con người, Bùi Ngọc Tấn đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho cách mạng, mặt khác, cay nghiệt thay, đã trải mọi trầm luân của kiếp nhân sinh, đã uống đến tận cặn ly đắng cuộc đời, đã kiên cường vác cây thập giá của mình chứ không kéo lê nó. Với tư cách là kẻ sĩ, Bùi Ngọc Tấn đã dùng ngòi bút thiên tài, trung thực và từ tâm của mình đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm để đời, những trang viết làm lay động hàng triệu trái tim độc giả, xứng đáng được xếp vào hàng những tác giả lớn mà cả một thế kỷ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Vâng, Hải Phòng có người con như thế đó.

Vòng hoa của Diễn Đàn (Paris) viếng nhà văn Bùi Ngọc Tấn mang dòng chữ Tiễn Người Về Vũ Trụ Không Ngừng (tên một truyện ngắn của anh). Sáng 19.12.2014 tại nhà lễ tang, "cơ quan chức năng" đã giật hàng chữ đó, cũng như họ đã giật băng giấy của Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam và của Câu Lạc Bô Lê Hiếu Đằng. Ảnh VHN

Vòng hoa của Diễn Đàn (Paris) viếng nhà văn Bùi Ngọc Tấn mang dòng chữ Tiễn Người Về Vũ Trụ Không Cùng (tên một truyện ngắn của anh). Sáng 19.12.2014 tại nhà lễ tang, “cơ quan chức năng” đã giật hàng chữ đó, cũng như họ đã giật băng giấy của Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam và của Câu Lạc Bô Lê Hiếu Đằng. Ảnh VHN

Hải Phòng từ nay vắng đi một trong những niềm tự hào của mình, mặc dầu nhiều người chưa hiểu điều đó. Lịch sử công minh, sớm muộn, sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử.

Hôm nay, đi sau linh cữu Bùi Ngọc Tấn, tôi tin rằng cùng với chúng ta bằng xương bằng thịt, còn có cả một dòng sông vô hình hàng triệu độc giả trong và ngoài nước tiễn biệt nhà văn yêu thương. Và rồi đây, ở nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà văn, những ngày tới, những tháng tới, những năm tới, sẽ còn những người từ xa tới đặt hoa tưởng niệm, như khách bốn phương khi đến Paris vẫn thường tìm đến nghĩa trang Père-Lachaise đặt một bông hồng lên mộ Hugo, Balzac hay Flaubert…

Dương Tường

BÁI BIỆT NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN

Bùi Ngọc Tấn là một trong số không nhiều cây bút Việt Nam đương đại chiếm trọn lòng yêu quý và kính trọng của giới cầm bút cũng như bạn đọc người Việt trong, ngoài nước. Là một hình ảnh tiêu biểu cho các nạn nhân của chế độ toàn trị, ông đã sống gan góc, âm thầm biến những trải nghiệm đen tối của riêng mình thành những dòng viết tỏa ánh sáng nhân văn đến mọi người. Những trang viết trữ tình thâm thúy, hài hước đến cười ra nước mắt đã vượt lên trên mọi giá trị thông thường – sự điềm tĩnh kỳ lạ chứa đựng trong nó một sức mạnh ghê gớm đối diện với toàn bộ thiết chế của “cái Ác” trên đất nước ta, đạt tới cõi cao xanh là lòng yêu cuộc sống, yêu con người, yêu cái Đẹp đến đắm say.

Tình cảm của đồng nghiệp, bạn đọc, của giới văn hóa dành cho nhà văn đã thể hiện ở sự cưu mang tác phẩm Chuyện kể năm 2000, bất chấp những ngăn cản, sách nhiễu, trừng phạt của chính quyền; ở sự chăm sóc tận tình trong những tháng ngày ông lâm trọng bệnh.

Vòng hoa viếng của Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN bị tước băng tang có dòng chữ “ Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN Vô cùng thương tiếc”Vòng hoa viếng của Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN bị tước băng tang có dòng chữ “ Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN Vô cùng thương tiếc”

Bùi Ngọc Tấn đã sống trọn vẹn cuộc đời khổ nạn và cống hiến, ông là hình ảnh của một dân tộc bị bạo quyền vùi dập, tước quyền sống, nhưng không khuất phục, vẫn bền gan nuôi ngọn lửa tự do nội tâm và khát vọng làm CON NGƯỜI đích thực. Ông là minh chứng cho chân lý: SỰ THẬT có thể bị bóng tối che phủ một thời gian, thậm chí dài, nhưng dứt khoát sẽ có ngày bùng lên tỏa sáng; con người có thể bị nỗi sợ cầm tù, nhưng rồi sẽ có ngày vùng thoát ra được để sống hiên ngang ngẩng đầu. Yếu tố thúc đẩy cái ngày ấy đến nhanh chính là những tiếng nói chân thực nhìn suốt đến đáy tâm khảm, những trang viết vắt kiệt cùng tâm huyết, chinh phục lòng người như của Bùi Ngọc Tấn.

Anh Tấn ơi!

Từ tận đáy lòng, tất cả chúng tôi cầu mong Anh ra đi thanh thản, vì Anh đã ở cõi đời này đủ để nếm trải hết cay đắng ngọt bùi và trả xong cho đời món nợ của mình. Anh ra đi trong vòng tay của người vợ thủy chung, của những đứa con hiếu nghĩa, của bạn bè gần xa không nguôi thương tiếc Anh.

Xin Anh nhận từ những người làm và đọc Bauxite Việt Nam một nén nhang thành kính.

Bauxite Việt Nam

Tìm tác giả tấm ảnh này

bui-ngoc-tan (1)

Tôi rất xúc động khi xem bức ảnh này. Bức chân dung diễn đạt hết sức chân thực sự thắng lợi của tôi trong cuộc chiến đấu dai dẳng gần hết đời người để không bị biến đổi gien. Nhưng những dấu vết của cuộc chiến đấu vẫn in rõ trên nét mặt và cả trong tâm hồn mới ghê gớm và khốc liệt làm sao. Tôi ao ước được biết tác giả của tấm ảnh, để tỏ lời cảm ơn cũng như biết nó được chụp khi nào, ở đâu…

BNT nam1956BNT1955 Bao TienPhong

2anhem

Năm mươi năm trước, khi tiếp quản Thủ Đô rồi làm phóng viên báo Tiền Phong, chàng trai Bùi Ngọc Tấn không bao giờ nghĩ rằng rồi đây mình sẽ có bộ mặt như trên.

Bùi Ngọc Tấn và Nguyễn Quang Sáng

Đầu những năm 60 thế kỷ trước, khi chúng tôi đã chuyển từ Hà Nội về Hải Phòng, một buổi sáng Chủ nhật đầu hè có tiếng chân bước lên thang gác nhà tôi ở. Tiếng chân rón rén, rụt rè và một cô gái hiện ra trên lan can. Cô nhìn vào cửa phòng tôi để mở. Một khuôn mặt lạ tôi chưa gặp bao giờ. Có thể cô nhầm nhà hay đang tìm một ai đó. Dừng lại trước cửa, cô lễ phép hỏi tôi:

  • Thưa anh, có phải nhà chị Bích đây không ạ?

Cô gái chưa một lần đến nhà tôi. Đoán được sự phân vân của tôi, cô tiếp:

  • Chị Bích làm tài vụ ở Công ty may.
  • Thế thì đúng.

Tôi đứng bật dậy, mời khách vào. Đó là một cô gái tuyệt đẹp. Cho đến lúc ấy, tôi chưa thấy ai đẹp như vậy. Một vẻ đẹp của người vùng Vịnh với nước da nâu, đôi mắt to, cặp lông mày thanh và cong cùng nụ cười rất tươi. Mới khoảng mười bảy, mười tám, ở cô toát ra một vẻ hồn nhiên, tin cậy của tuổi trẻ. Chưa kịp giới thiệu thì vợ tôi đã xách một túi thức ăn ở chợ về.

  • Ôi! V.

Qua câu chuyện của hai người tôi biết V. là nhân viên của Sở Tài chính theo dõi về tài chính nơi Công ty vợ tôi làm. Từ đấy, cô năng lại nhà tôi và trở thành người bạn của cả nhà, nghĩa là bạn của vợ chồng tôi và hai đứa con nhỏ. Cô rất quý cháu Giáng Hương và nhiều lần xin phép vợ chồng tôi cho Giáng Hương lên phố Phan Bội Châu ngủ với cô. Giáng Hương thủa nhỏ là đứa bé rất đáng yêu và dễ hòa nhập. Sáng hôm sau hai cô cháu lại đèo nhau về nhà tôi như hai mẹ con, tươi tắn và hạnh phúc. Hai vợ chồng tôi rất quý cô và rất muốn cô sẽ là vợ của một người bạn thân thiết nào đó của chúng tôi. Tôi bí mật ngỏ ý với Đ.A.B. (hai người đã nhiều lần gặp nhau ở nhà tôi). Đ.A.B. một người có rất nhiều mối tình vắt vai nhưng chưa đứng số. Vợ chồng tôi hi vọng sự việc sẽ thành công, Đ.A.B. sẽ gật đầu sái cổ nhưng sau một đêm suy nghĩ, Đ.A.B. bảo tôi:

  • Cô ấy trong sáng quá. Em không xứng đáng.

Ít ngày sau, Nguyễn Quang Sáng từ Hà Nội về và gặp V. ở nhà tôi. Sáng nhận xét:

  • Một vẻ đẹp hoàn chỉnh, tiêu chuẩn hóa. Từ dáng người đến mái tóc, cách nói chuyện và nhất là sự trong sáng của một thiên thần.

Tôi ngỏ ý với Sáng là muốn được giúp đỡ anh nếu anh có ý định nào đó… nhưng anh lắc đầu:

  • Chậm rồi, tháng sau đi B rồi. Còn thời gian đâu mà gặp gỡ tìm hiểu nhau. Chỉ mong cô ấy lấy được người chồng xứng đáng.

Từ chuyện làm mối se duyên không thành ấy, tôi đã có bài thơ mười câu không có đầu đề:

Gặp em chậm như bao việc trên đời này chậm

Khi chưa có em đời là khát vọng.

                     ***

Lẽ ra tình chúng ta cháy bùng ngọn lửa đại dương

Giữa trời xanh một cây xanh rợp lá

Không được nảy mầm trọn đời hạt nằm trong vỏ

Ai biến lửa nhà chài thành lửa hải đăng.

                    ***

Khát vọng hóa thành em thế cũng đủ rồi

Anh chỉ xin em một chút buồn mỗi lúc em cười

Cầu em đi trọn đường em hạnh phúc

Có không em cuộc sống lần hai.

Gần bốn mươi năm sau gặp Nguyễn Quang Sáng ở Đại hội Nhà văn, anh vẫn nhớ chuyến về Hải Phòng ngày ấy và cười, nói theo kiểu rất “anh Hai Nam Bộ”:

  • Dạo ấy thấy gò má cô ấy có một nốt ruồi. Mình lại sắp đi vào vùng bom đạn, nên sợ. Như bây giờ vào hiệu, tẩy một cái là xong.

Tôi không cãi lại anh, không đính chính rằng cô V. không có một nốt ruồi nào ở gò má cả. Nếu có thì ở trên má của một cô nào khác chứ không phải của cô bạn vợ chồng tôi.

14

Ảnh Bùi Ngọc Tấn và Nguyễn Quang Sáng đăng trên báo Ẩm thực Việt Nam

14

Từ trái sang: Nguyễn Quang Sáng, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Trọng Chức, chủ nhà Nguyễn Duy và Nam Dao.

ĐỌC “TUỔI THƠ HÀ NỘI NGÀY XƯA” TƯỞNG NHỚ NHÀ VĂN LÊ BẦU

Tuoi tho Ha Noi ngay xua

 Sau khi công bố Di cảo Lê Bầu, chúng tôi đã nhận được thư của nhà văn Phan Duy Kha viết Đọc “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” tưởng nhớ nhà văn Lê Bầu. Xin được trích dẫn tại đây để cung cấp thêm tài liệu cho những ai muốn biết thêm về nhà văn Lê Bầu yêu quý của chúng ta.
Tôi quen biết nhà  văn Lê Bầu từ dạo ông còn ở số nhà 105 phố Phùng Hưng. Đó là một căn phòng rộng chừng 12 mét vuông, được ngăn đôi bằng cót ép. Ông một nửa, nhà thơ Huyền Tâm tác giả “Lúa tháng năm kén tằm vàng óng” một nửa. Nhà không có  buồng tắm cũng chẳng có khu vệ sinh. Ngoài chiếc giường đơn và cái bàn làm việc chất đầy sách báo thì không gian trong nhà chỉ còn đủ để giải một chiếc chiếu đôi. Bạn bè khách khứa đến chơi, ông đều tiếp trên chiếc chiếu đôi này. Nghe nói có lần cơ quan nọ tặng ông một chiếc quạt cây, nhưng nhà chật, để trong nhà thì quạt thốc hết gió ra ngoài, ông phải để ngoài hè phố Phùng Hưng cho thổi thốc vào.Thấy bất tiện quá, một thời gian sau lại phải gửi về quê. Ít lâu sau, khu nhà 105 Phùng Hưng được nhà nước lấy lại để làm bảo tàng hay di tích cách mạng gì đấy (Nhà 105 nguyên trước đây là Trụ sở báo Tin tức, cơ quan ngôn luận của Đảng thời kỳ trước cách mạng), ông được phân một căn hộ ở tầng 2, khu tập thể phố Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng. Căn hộ rộng đến 50 mét vuông, đối với một hộ độc thân như ông thì quả là rộng. Từ khi ông về khu tập thể phố Thanh Nhàn, tôi hay đến thăm ông hơn. Ông vẫn cứ  lọ mọ một mình, nấu một bữa, ăn cả ngày. Tự đi chợ mua lấy rau, dưa, gạo thịt …cho mình. Có một lần tôi hỏi:
– Sao nhà rộng thế này mà anh không đón một hai cháu đến đây ở với cho vui, nó phục vụ cơm nước cho?
Ông trả lời:
– Nó phục vụ mình, hay rồi mình lại phải phục vụ lại nó. Tôi quen sống một mình từ xưa rồi, tự mình phục vụ lấy mình thôi.

PhanDuyKha

Biết rằng, mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, chẳng ai giống ai, tôi không hỏi gì thêm.
Nhà văn Lê Bầu là người của công việc. Lần nào đến chơi, tôi cũng thấy ông ngồi bên chiếc máy chữ cổ lỗ. Sau này, khi về KTT Thanh Nhàn ông được bạn bè tặng cho một chiếc máy vi tính, ông bắt đầu làm quen với vi tính, nhưng máy cũng trục trặc hỏng hóc luôn. Dù rất bận công việc, nhưng mỗi khi có bạn bè đến chơi, ông đều xếp công việc lại, “làm chén nước đã” . Ông có thói quen uống trà  đặc,  pha trong chiếc ấm da lươn bé tí, còn chén thì bằng cỡ “hạt mít” . Cứ thế, anh em ngồi đối ẩm hàng tiếng đồng hồ. Ông thường bảo, cứ thong thả, công việc thì hàng ngày, lúc nào mà chẳng được. Ông có giọng nói sôi nổi, trẻ trung như của tuổi thanh niên, với cái cười rất hào sảng. Có một lần, tôi đang ngồi đối ẩm với ông thì có chuông điện thoại. Ông xin lỗi, rồi bắt máy, trả lời. Chỉ thấy ông thoải mái “Không sao, không sao!”, chả hiểu chuyện gì. Nói chuyện xong, ông mới nói lại với tôi. Chả là, có một tờ báo trong Nam đăng một bài viết của ông. Họ muốn đăng ảnh ông kèm với vài dòng “Lý lịch trích ngang”, mới hỏi ông về năm sinh. Ông nói ông sinh năm 1930, nghe xong cô biên tập viên, là một nhà báo trẻ mới ồ lên sửng sốt: Thế thì bác ngang tuổi ông nội cháu, thế mà cháu không biết lại gọi bằng anh. Cháu xin lỗi bác nhé. Cái câu “Không sao, không sao” là ông trả lời cho lời xin lỗi này. Ngồi nói chuyện với nhà văn Lê Bầu, ai cũng lây cái thoải mái, vui vẻ, cởi mở, sảng khoái của ông. Cứ tưởng chừng như mọi khó khăn, rắc rối, phức tạp trong cuộc sống đời thường không mảy may ảnh hưởng đến ông.
Một lần, chúng tôi được Tòa soạn Tạp chí TGTT bố trí cho đi du lịch Hà Khẩu (Trung Quốc). Chúng tôi đi chơi là chính. Riêng tôi mua được một chiếc đài Tàu, to bằng cái bật lửa ga, dùng pin, giá đâu 10 tệ (Khoảng 20 ngàn tiền Việt), về cắm vào tai nghe được mấy ngày thì vất. Các anh giỏi tiếng Trung như Lê Bầu, Dương Danh Di, Nguyễn Hải Hoành, Thái Hư thì đi lùng mua sách. Lê Bầu cõng về một ba lô đầy sách, mua hết đâu 600 tệ (khoảng một triệu hai trăm ngàn đồng tiền Việt, một khoản tiền lớn lúc ấy). Ông bảo đây là lương khô, dùng để “bán ăn dần”. Tất nhiên,  không phải là về đem sách ra chợ  trời bán, mà là đem về đọc, tìm nhặt trong đó những truyện ngắn hay, những bài viết lý thú  thì dịch gửi cho các báo, tạp chí mà ông cộng tác. Văn hóa văn nghệ thì không bao giờ cũ. Với số sách đó, ông có thể để dành, dịch trong hàng chục năm. “Bán ăn dần” là như thế (trong bài Thay lời giới thiệucủa nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết cho cuốn Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa, Bùi Ngọc Tấn có nhắc đến một chuyến đi Trung Quốc của Lê Bầu, thì chính là chuyến đi này).
Cuộc đời Lê Bầu có nhiều long đong, trắc trở. Bạn bè một thuở của ông, những Lê Mạc Lân, Hứa Văn Định, Nguyên Bình, Vũ Bão, Bùi Ngọc Tấn, Dương Tường, Châu Diên… một lớp nhà văn, nhà báo tài hoa, nhưng chẳng ai được suôn sẻ. Thậm chí có người như Bùi Ngọc Tấn còn bị ngồi tù đến mấy năm trời, tù không án, bản thân người trong cuộc cũng  chẳng biết vì tội tình gì mà bị tù giam cả. Có người phải bán máu để duy trì cuốc sống (bán máu theo đúng nghĩa đen của từ này). Lê Bầu thì có lần bị người ta bí mật khám xét chỗ ở (lúc ông tá túc ở đền Ngọc Sơn), vì tình nghi ông dính líu chính trị chính em gì đấy. Ở một đất nước mà nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, ở đâu cũng có thế lực thù địch thì những nhà văn, nhà báo không chịu nịnh hót, quỵ lụy cấp trên, những người dám nói thẳng, nói thật như các ông, thường bị  vu khống, chụp mũ này nọ là điều không tránh khỏi. Trong những chuyến đi tập thể, những lúc rảnh rỗi, trà dư (chứ không có “tửu hậu”) Lê Bầu thường kể chuyện mình, chuyện bạn, những câu chuyện về nhân tình thế thái, lắm khi cười ra nước mắt. Chúng tôi thường khuyên ông: Cuộc đời anh có nhiều câu chuyện lý thú lắm, ý nghĩa lắm, anh phải viết Hồi ký đi. Ông bảo, mình cũng có ý định đó. Đang chuẩn bị. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Hồi ký của Lê Bầu, đọc sẽ thú vị lắm đây.
Chờ mãi mà không thấy Hồi ký Lê Bầu trình làng. Không phải ông lười viết mà vì ông quá bận. Bận dịch sách, viết báo trang trải cho cuộc sống hàng ngày. Ông nặng gánh lắm. Bạn bè  thân thiết ví ông như một cái đầu tàu, ì ạch kéo đến 12 toa tàu. Tôi là thế hệ sau, nên không dám hỏi ông những điều có tính chất tò mò đời tư  ấy. Nhưng chỉ biết rằng, ông làm việc, viết lách là để đảm bảo cuộc sống, cho sự tồn tại của  12 con người, gồm mẹ ông, vợ con ông và các cháu nội ngoại, hiện đang sinh sống ở vùng quê Bắc Giang. Ông làm cật lực, làm không kể giờ giấc, vì 12 con người ấy. Viết hồi ký đối với ông như là chơi bời, khi nào rảnh mới làm. Thế rồi ông bất ngờ bị bạo bệnh (bệnh ung thư máu) không kịp hoàn thành hồi ký. Cuốn Hồi ký cuộc đời của ông, mới chỉ viết được phần đầu. Đó là phần viết về tuổi thơ ấu của ông, có nhan đề là “Dân dưới bãi” mà năm năm sau khi  Lê Bầu mất,  Nhà xuất bản Kim Đồng in ấn mới đặt tên là “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”.(1)

(1) : Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa (Lê Bầu, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2014)

Ảnh trong bài: Nhà văn Lê Bầu (bên phải) chụp ảnh cùng tác giả Phan Duy Kha tại nhà riêng, khu tập thể Thanh Nhàn, tháng 3.2007.