Bùi Ngọc Tấn và khối u

Xang Hứng

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.

Tết  Giáp Ngọ 2014 lão Bùi Ngọc Tấn vui lắm.

Bước qua tuổi 80, gánh hành trang lão mang theo nhẹ tênh. Thời gian đã cất khỏi vai lão cả những tốt đẹp và thối nát, những chân thành và giả dối, những tiếng cười đắng cay, những hy vọng và tuyệt vọng, cả “5 năm tù dài hơn 1 kiếp người”.

“Thật may, lão cũng còn vớt vát lại chút ít. Rất ít. Trong tiểu thuyết và mấy truyện ngắn. Hy vọng nó sẽ là một cái bong bóng nhỏ cùng với nhiều bong bóng khác nổi lên trên mặt hồ tĩnh lặng của ký ức dân tộc về một thời mọi người đều có thể bị biến đổi gien.”*

Hai cái đầu gối, “một bộ phận không nhỏ” trong cái thân thể nhỏ bé của lão bỗng như hết đau, hồi sinh khi bạn bè đến thăm và chúc Tết gia đình họ. Vợ lão, người đàn bà nhỏ thó nhưng rất mạnh mẽ, can đảm, thủy chung, cả đời chỉ biết đau cùng nỗi đau, hạnh phúc cùng niềm hạnh phúc của chồng. Trên môi bà luôn nở nụ cười, nụ cười đã giúp cho lão tồn tại, rồi hồi sinh trở về từ ngục tối.

Cái Tết vừa đi qua, lão sững người ngạc nhiên khi biết Nhà xuất bản Trẻ đề nghị in những tác phẩm của lão thành “tuyển tập”. Vui thì có vui nhưng đêm nằm lão nghĩ, làm chó gì có nhiều niềm vui đến cùng một lúc như vậy. Quả là một sự vô lý vĩ đại, quá sức tưởng tượng của “Người chăn kiến”: Bùi Ngọc Tấn!

Lão đã vào tù bằng cái tội danh bị “người ta” gán cho. 46 năm trước, thứ sáu, mùng 8 tháng 11 năm 1968, khi tỉnh dậy trên giường vẫn còn là người tự do. Vài giờ sau, lão đã được nhận suất cơm tù lạnh ngắt đặt ngay dưới đất, cùng phần nước uống đựng trong cái bô sắt han rỉ.

5 năm sau ra tù, lão “tự thú” bằng cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000″. Đứa con tinh thần của lão chưa đầy tháng thì nó lại bị người ta bỏ tù.

Những tưởng đến cái tuổi này thì chẳng còn gì làm lão ngạc nhiên, ấy thế mà khi đối diện với những niềm vui đến liên tiếp, lão đã sướng đến mất ăn mất ngủ. Rít thuốc lá cả ngày, nghĩ ngợi cả ngày, phải có nguyên cớ gì chứ, lão cố tìm hiểu.

Thế rồi lão phát ho phét hen. Ho sù sụ, ho như cuốc, ho ngày, ho đêm. Bao nhiêu thuốc Đông, thuốc Tây, thuốc lá, rồi cả chữa mẹo cũng không làm cơn ho buông tha lão. Suốt mấy tháng ròng, vợ con đưa lão đi khám khắp các bệnh viện, nghe ngóng ở đâu có bác sỹ giỏi là đến ngay. Cuối cùng, có anh bác sỹ đề nghị lão đi chụp CAT (Computed Axial Tomography) phổi.

Vừa đặt lưng trên CAT, lần đầu tiên sau nhiều ngày thức trắng, lão ngủ, ngủ say. Hôm đó là tháng 5/2014.

Cầm tấm phim và tờ kết quả, cô con gái lớn của lão khóc ngất: “Trên cửa sổ trung thất: Tổn thương nốt đơn độc đỉnh phổi trái KT 18,5 x 18,3mm, bờ đều, ranh giới rõ, tỷ trọng mô sau tiêm thuốc cản quang khối ngấm thuốc khá mạnh…”. Gần đây, Hải Yến, con gái lão mới tâm sự: “Hai năm ăn kiêng không làm con giảm được cân nào, thế mà cái khối u trong phổi bố giúp con giảm 4 kg trong vòng chưa đến 1 tháng”.

Thêm một lần nữa, bà vợ chung thủy, nhỏ thó lại đồng hành với lão trong biến cố mới.

Thì ra nguyên nhân là đây. Có thế chứ, một lần nữa lão lại phải trả giá cho đời sống, lần này thì bằng những nguy cơ có thật, cái nguy cơ có kích thước 18,5 x 18,3mm đã “hạ đặt” trái phép trong buồng phổi lão, một cơ quan có tầm quan trọng sống còn của con người. Lại thêm một lần nữa, “Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ trụ không cùng…”*

Năm 2006, sau hơn 40 năm được thoát khỏi cái “nhà tù nhỏ”, lão có dịp trở lại thăm trại Hoành Bồ, một trong những trại lão đã “sống” qua 5 năm thời trai trẻ. “Một thèm muốn, một khát khao như thèm muốn khát khao được trở lại mảnh sân, góc vườn thời thơ ấu: Ao ước được trở lại những trại giam, những nhà tù tôi đã sống. Những nơi ấy là một phần cuộc đời mình, đã góp phần hình thành mình cả về xương thịt lẫn tâm hồn, không thể thiếu, không thể tách rời. Càng về già, càng đến gần cái kết thúc tất yếu càng mong được một lần trở lại. Không phải quê hương, nhưng là một cõi, cõi mình trải qua một kiếp, để rồi sống tới đáy tuyệt vọng của một kiếp người”*

Lão đã trở về, không phải để căm hận những kẻ đã đày đọa mình, nhưng để có thể quên, để tha thứ, để xóa đi những ám ảnh tuyệt vọng khi đã về già, để tiếp tục sống bên những người thân yêu, bè bạn. Để viết, để được tiếp tục trò chuyện cùng “Chữ”, người bạn chung thủy của lão, những “chữ vô hình, những chữ hoài thai trong ngục tối, trong lao động khổ sai để rồi sinh nở trên giấy trắng mấy chục năm sau đó, một cuộc hoài thai kéo dài hơn nửa kiếp người. Chữ trò chuyện cùng tôi, động viên tôi vượt qua cái chết lâm sàng, an ủi tôi mỗi khi tôi tuyệt vọng.”*

“Có những điều hắn tưởng không bao giờ quên được. Ấy thế rồi hắn đã quên”.*

Lần này thì lão cùng gia đình có toàn quyền quyết định. Tháng 6/2014, Bùi Ngọc Tấn cùng vợ vào Sài Gòn ở với cô con gái.

Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Lão bảo với tôi: “Anh rất thoải mái trong tinh thần, được sống đến ngày hôm nay là lãi lắm rồi, cho dù có xảy ra điều gì thì anh cũng đã được sống một cuộc đời thú vị, có một gia đình yêu thương, nhiều bạn bè tốt. Khi nghe anh có khối u, bạn đọc, người thân đã tận tình giúp anh, tìm đủ mọi cách tốt nhất cho anh để chữa bệnh. Anh đã bàn với chị và các con, sẽ lại một lần nữa chung sống với cái khối u quái ác này”.

Tôi hiểu rằng lão đã chọn thái độ tiêu cực nên hỏi: “Nếu biết chắc khối u trong phổi là u lành, anh sẽ làm gì?”

Nở nụ cười hiền lành và tươi rói, lão trả lời ngay: “Anh sẽ ra Hải Phòng, và… Viết, anh có rất nhiều ý tưởng…”

Lúc này Yến, cô con gái lớn của lão bước ra tham dự buổi chuyện trò. Tôi đề nghị:

– Như anh kể, một người còn sống, còn sáng tạo được như anh sau khi phải trải qua những năm tháng mà chỉ nhớ lại thôi đã thấy khủng khiếp thì có lý do gì mà ngại ngần khi thêm một lần nữa đối diện với sự thật. Cái quan trọng của người bệnh là tinh thần, điều này anh có. Quan trọng nữa là anh có sự chia sẻ từ gia đình, mọi người luôn bên anh. Em đề nghị anh tham khảo ý kiến của những bác sỹ chuyên khoa. Nếu cần, sẽ dùng biện pháp can thiệp tích cực nhất”.

Giác quan của tôi, quan sát của tôi khi nhìn sắc diện lão cho thấy, đây cũng chỉ là một biến cố thử thách của cuộc đời. Lần này cũng chả kém gì những thử thách khắc nghiệt nhất là lão đã từng vượt qua. Lão sẽ chết, nhưng là chết già. Điều quan trọng là trước khi chết già, lão còn phải tiếp tục “lao động khổ sai” và hạnh phúc cùng “Chữ”. Lão sẽ còn được đắm đuối, cay đắng, được lặn ngụp, nhấm nháp và nghiền ngẫm “Chữ”. Được vuốt ve ngắm nghía, gọt giũa, ấp ủ trong tim, ngậm trong miệng, thì thầm và đọc to lên, “Chẳng hạn như người vô hình, mùi của trẻ thơ, góa sống, chứng say tù, độc quyền yêu nước, độc quyền nhận sai lầm, tù ngoại trú mang bản quyền Bùi Ngọc Tấn trong văn học rất rõ ràng. Mà đâu chỉ là những cụm từ. Đó là những khái niệm sống.”*

Tôi mang bệnh án của lão tham khảo ý kiến các bác sỹ chuyên khoa. Trên phim chụp cắt lớp độ dày 8mm trước và sau tiêm thuốc cản quang có thể nhận thấy một tổn thương nốt đơn độc, không có hạch to có ý nghĩa bệnh lý trung thất và rốn phổi hai bên. Khẩu kính các mạch máu lớn trong trung thất bình thường, có xơ mỡ thành động mạch chủ ngực. Không thấy tràn dịch trung thất và màng phổi hai bên. Trên cửa sổ nhu mô: không thấy tràn khí trung thất và khoang màng phổi. Không thấy hình ảnh giãn phế quản và phế nang hai bên.

Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn.  Ảnh: tác giả cung cấp.

Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Hình ảnh nốt đơn độc ở đỉnh phổi trái có thể là u phổi. Vị trí không cho phép chọc sinh thiết. Các bác sỹ thống nhất sau khi kiểm tra chức năng phổi, nâng cao thể trạng là có thể dùng phương pháp mổ nội soi lấy trọn khối u ra. Lão sẽ lại về Hải Phòng, tôi tin như vậy…

Vui mừng gọi điện cho lão, nói rõ ý kiến của các bác sỹ. Lão mừng lắm nhưng vẫn hỏi tôi một câu: “Có cách nào mà không phải mổ, chấp nhận sống chung với “Nó” cả đời không?”

Lần đầu tiên, với một người bạn, người anh lớn, một nhân cách đáng kính trọng, tôi phải gắt lên:

– Trường hợp của anh không giống như trường hợp bệnh cả dân tộc mắc phải, muốn khỏe mạnh thì bất kể loại khối u nào, dù lớn hay nhỏ, dù ác hay lành đều cần cắt bỏ, cắt tận gốc. Đây là lúc anh được toàn quyền quyết định chất lượng đời sống của mình. Hãy đau thêm một lần để có một cuộc sống trong lành cho đến…chết”.

Tôi biết, ở đầu dây bên kia, anh lại nở một nụ cười hiền và đồng ý với tôi.

Sài Gòn tháng 7/2014.

(*) Lời của nhà văn Bùi Ngọc Tấn

 

Nguồn: http://hieuminh.org/2014/07/11/bui-ngoc-tan-va-khoi-u/

Thư của những Nghiên cứu sinh viết Luận Văn về Bùi Ngọc Tấn

Lần đầu tiên được biết có sinh viên, nghiên cứu sinh làm luận văn tốt nghiệp đại học và cao học về tôi, tôi hơi bị bất ngờ, thích thú và sau đó là lo cho các bạn trẻ. Thi cử là một công việc hệ trọng của một đời người, có tầm ảnh hưởng lớn đối với tương lai của các bạn trẻ tâm huyết. Qua điện thoại cũng như email, tôi thấy cần phải nói thật với những trí thức trẻ yêu văn chương của mình về những hiểm nguy mà các cháu có thể gặp phải, không thể để các cháu vì yêu thích văn chương mình mà gặp khó khăn, hơn thế có thể chuốc lấy thất bại. Tôi đã trả lời thành thật khi các bạn trẻ gọi điện và gửi email cho tôi bào cho tôi biết dự định tốt đẹp ấy:

– Chú rất cảm ơn các cháu, nhưng chú phải nói trước là chú không thuộc dòng  văn chương chính thống đâu. Chú không phải là con đẻ càng không phải là con cưng của văn chương chính thống. Chưa bao giờ được đề cao trên những tờ báo quan trọng của Đảng và Chính Phủ. Chưa có một bài nghiên cứu nào về chú trên những báo và tạp chí của Hội Nhà văn, của Viện Văn học. Thậm chí cho đến bây giờ vẫn có tên trong sổ đen, vẫn bị theo dõi. Làm luận văn về chú có khi hỏng việc đấy, hội đồng cũng như các thầy cô có thể sẽ gây khó khắn. Hãy chọn một nhà văn được giải thưởng Nhà Nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, hoặc một nhà văn thuộc dòng chính thống, thuận lợi cho các cháu hơn.

Câu trả lời của các bạn trẻ rất giống nhau, những câu trả lời làm tôi ngạc nhiên và yêu đời lên rất nhiều:

-Chú ơi. Chính các thầy cô của cháu gợi ý đề tài cho cháu đấy chú.

Tôi cảm ơn các thầy cô đang giảng dạy ở các trường đại học đã để ý tới tôi. Vậy là văn chương của tôi, các sáng tác của tôi không nằm trong một tập sách giáo khoa nào nhưng đã thâm nhập vào các trường đại học, được các thầy cô, những người có trí tuệ, có tám lòng, những người đang dạy dỗ, hướng dẫn lớp trì thức trẻ quan tâm và đánh giá đúng mức. Không chỉ yêu mến văn chương của tôi, các thầy cô còn khuyên học trò của mình đọc tôi viết về tôi, làm luận văn tốt nghiệp về tôi, nghiên cứu về tôi để tôi có thêm những bạn đọc, hơn thế, những người tri âm mới.

Tôi trích dưới đây một bức thư của một nghiên cứu sinh làm luận văn thạc sĩ về tôi mới gửi đầu năm nay:

Đà Nẵng, ngày 12 tháng 01 năm 2013

 

Kính chào nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

 

Lời đầu tiên, xin phép nhà văn cho con được chọn cách xưng hô “con –bác” cho thân thiết theo cách gọi của người miền Trung chúng con. Con tên là Nguyễn Thị Bích Vân, 33 tuổi, hiện là phó hiệu trưởng trường THCS Nguyễn Văn Linh, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Mong bác hãy nhận bức thư này như nhận thêm một độc giả yêu quý văn chương của bác và sau đó xin bác thứ lỗi cho nếu con có làm phiền bác .

Hiện nay con đang theo học lớp cao học chuyên ngành văn học Việt Nam của đại học Đà Nẵng. Con đang chuẩn bị viết luận văn tốt nghiệp vào tháng 5 này. Đề tài của con đăng ký thực hiện là: Đặc điểm văn xuôi Bùi Ngọc Tấn qua tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” và tập truyện ngắn “Người chăn kiến”. Người hướng dẫn đề tài cho con là Tiến sĩ Phan Ngọc Thu, Phó hiệu trưởng trường Đại học Duy Tân. Qua lời giới thiệu của thầy Thu con thấy thầy đã đánh giá rất cao về các tác phẩm của bác. Con vẫn nhớ những lời thầy Thu nói với con: Văn học Việt Nam hiện nay có nhiều nhà văn mới định hình những phong cách khác nhau, nhưng có được lối viết văn đẹp như Bùi Ngọc Tấn thì thật hiếm có. Thầy xem bác như một Nam Cao mới. Từ đó, mấy tháng nay con bắt đầu bước vào thế giới văn chương của bác và rất xúc động vì lối viết trong sáng, giản dị và thấm đẫm tình người trên từng trang văn ấy. Con đang cố gắng để viết một luận văn thật tốt (theo tất cả  khả năng và sự nổ lực) về văn chương của bác như được đóng góp thêm một cái nhìn kính trọng, tri ân về những đóng góp của bác cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Bác ạ, hiện nay con đang tìm đọc các tài liệu tham khảo gồm các tác phẩm của bác, các bài nghiên cứu về tác phẩm của bác… nhưng việc tìm tài liệu của con vẫn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu vẫn là các bài viết trên mạng internet. Vì thế, con viết thư này để chia sẻ với bác, mong bác có thể giúp đỡ con trong việc sưu tầm tài liệu. Nếu được, con xin bác hãy cho con sao chép một số bài báo, bài nghiên cứu trên báo chí viết về bác mà bác có được hoặc bác có thể cho con thông tin về bài viết như: tên bài viết, tên tờ báo, số xuất bản, thời gian xuất bản … kể cả các bài viết của các tác giả được đăng trong các cuốn sách nghiên cứu văn học nữa (bác có thể cho con tên sách, tên NXB, năm xuất bản để con tìm được dễ dàng hơn).

Kính thưa bác Bùi Ngọc Tấn.

Con tự cho mình là một người may mắn vì có thể gặp mặt để thăm hỏi và trao đổi trực tiếp với tác giả mà mình đang nghiên cứu. Hải Phòng và Đà Nẵng là hai thành phố kết nghĩa từ rất lâu, nên trong suy nghĩ của con khoảng cách địa lý xa xôi kia dường như cũng như ngắn lại, nhà con cũng nằm trên con đường mang tên Hải Phòng đấy bác. Con vẫn mong một ngày gần nhất sẽ được ra thăm Hải Phòng, được đến thăm bác. Rất mong bác tạo điều kiện giúp đỡ con, con chân thành cảm ơn bác.

 

Đây là lần đầu tiên con có sự giao tiếp trực tiếp như thế này với một nhà văn. Đứng trước bác, con là một người thật nhỏ bé nên mong bác hãy lượng thứ cho con nếu ngôn từ trong thư có gì sai sót. Kính chúc bác và gia đình được nhiều sức khỏe.

(…)

Nguyễn Thị Bích Vân

 

Đầu tháng 6 vừa qua, Bích Vân gọi điện ra cho tôi, giọng Vân đầy ắp niềm vui: “Con đã bảo vệ thành công luận văn của con về bác. Luận văn của con được Hội đồng đánh giá là xuất sắc, được 9 điểm rưỡi. Thiếu mất nửa điểm vì con không có bài viết trên báo. Con sẽ viết bài về bác gửi đăng báo. Không phải để có thêm nửa điểm đâu, bởi việc bảo vệ đã xong. Đây là tình cảm của con, của một nghiên cứu sinh đối với bác, của một bạn đọc đối với nhà văn mà con yêu quý. Con cảm ơn bác rất nhiều…”

Thư Bích Vân viết cho tôi khi bắt tay làm luận án. Còn dưới đây là thư của Phan Thuý Hằng viết cho tôi khi cô đã hoàn thành luận văn thạc sĩ có nhan đề Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Bùi Ngọc Tấn.

Chú Bùi Ngọc Tấn kính mến!

          Cháu đã hoàn thành luận văn của mình với sự giúp đỡ của nhiều người, trong đó có chú. Cháu xin chân thành cảm ơn chú rất nhiều.

Đề tài luận văn của cháu không thiên về nội dung mà chủ yếu khai thác về nghệ thuật thể hiện trong các tác phẩm của chú. Tuy nhiên để làm được điều đó cháu phải đọc tất cả nội dung của từng cuốn sách. Cho nên ấn tượng đầu tiên đối với cháu lại không phải là những vấn đề mà cháu đang nghiên cứu mà chính là nội dung, tư tưởng của từng tác phẩm.

Chú biết không, thực sự cháu phải cảm ơn cô giáo của cháu vì đã cho cháu nghiên cứu đề tài này. Và đặc biệt cảm ơn chú vì đã đưa đến cho những độc giả  như cháu những tác phẩm thực sự giàu ý nghĩa nhân sinh. Cháu có đọc một bài phỏng vấn về chú, trong đó có chi tiết phóng viên hỏi chú “Trong tất cả những tác phẩm từng đoạt giải thưởng, nhà văn tâm đắc tác phẩm nào nhất?”  thì cháu thấy chú trả lời “Tác phẩm tôi tâm đắc không nằm trong số những tác phẩm đoạt giải”. Và cháu nghĩ  đó chính là tác phẩm “Chuyện kể năm 2000″ phải không chú?

           Thực sự khi đọc những tác phẩm của chú, “Chuyện kể năm 2000” là tác phẩm cháu tâm đắc nhất, hay nhất và làm cho cháu xúc động nhiều nhất. Cháu nghĩ nếu là một người bình thường không thể vượt qua sóng gió với một thái độ khiêm nhừơng đến như vậy. Một con người khi trải qua khổ đau quá lớn thường căm hận những kẻ đã gây đau khổ cho mình và không thể nghĩ đến nỗi đau khổ của người khác. Nhưng khi đọc tác phẩm này cháu nhận thấy nhân vật chính thực sự có một tấm lòng cao cả, yêu thương gia đình, người thân và cả những người đau khổ như mình ngay khi mình đang chịu đọa đầy như họ. Đặc biệt nhân vật có một cái nhìn và thái độ bao dung với chính những kẻ gây ra bất hạnh cho mình. Phải là một người quảng đại mới có cái nhìn bao dung và độ lượng như thế. Phải chăng vì cách nhìn đời và nhìn người như vậy cho nên  tác phẩm dù bị cấm đoán vẫn có một sức sống lâu bền đến như vậy. Cháu là một người lần đầu tiếp xúc với tác phẩm của chú nên chắc chắn sẽ có cái nhìn chủ quan. Nếu chú đọc luận văn của cháu có chỗ nào không vừa ý mong chú bỏ qua cho cháu.

           Trên thị trường bây giờ có quá nhiều sách báo cho nên người đọc không biết nên chọn sách nào. Không biết sách nào hay, sách nào dở. nhưng quả thực bây giờ mới đọc tác phẩm của chú cháu thực sự rất tiếc, giá cháu có cơ hội tiếp xúc sớm hơn cháu sẽ biết chú sớm hơn và cũng có cơ hội giới thiệu với bạn bè về tác phẩm của chú. Nhưng cháu cũng rất vui vì trong đợt bảo vệ lần này cháu là người có một tiếng nói khác so với mọi người vì cháu nghiên cứu một tác giả có một “phận người và phận văn đặc biệt” và cách nhà văn vượt qua mọi sóng gió trong cuộc đời cũng vô cùng đặc biệt. Cháu kính trọng và tự hào về điều đó.

Cháu sẽ gửi qua mail cho chú một bản và gửi tặng chú một cuốn luận văn của cháu. Cháu muốn trực tiếp gửi tặng chú nhưng cháu sẽ dành vinh dự này cho cô giáo của cháu. Vì ít hôm nữa cô giáo của cháu ra Hà Nội dự hội thảo nên sẽ mang ra Hà Nội gửi bác Phạm Xuân Nguyên (hay cô gửi trực tiếp cho bác cháu cũng không biết nữa). Ngày 30 tháng 10 cháu sẽ bảo vệ. Bảo vệ xong cháu sẽ báo tin cho chú biết. Một lần nữa cháu xin chân thành cảm ơn chú. Chúc chú dồi dào sức khỏe và có một tinh thần thật thoải mái và vui tươi. Chú cho cháu gửi lời hỏi thăm đến bác gái. Đọc xong “Chuyện kể năm 2000” và trên báo chí cháu biết chú có một người vợ vô cùng tuyệt vời. Cháu kính trọng cả hai người như nhau.

           Kính thư!

Cháu: Phan Thúy Hằng

Phan Thuý Hằng đã bảo vệ xuất sắc luận án của mình cách đây mấy năm. Tôi và Hằng vẫn giữ liên lạc thường xuyên, khi là điện thoại khi bằng mail.

Phan Thuý Hằng luôn nhắc lại lời mời tôi vào Nha Trang nơi chị đã chuyển từ Huế vào dạy học. Và tôi rất vui vẻ nhận lời. Nhưng với hai đầu gối bị đau vì “thoái hoá bién chất” không biết khi nào tôi mới đến được Nha Trang gặp Hằng, gặp Nha Trang, một trong những vùng biển đẹp nhất thế giới?

 BNT

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chụp ảnh kỷ niệm với các học viên cao học trường Đại học Sư Phạm thành phố HCM sau buổi nói chuyện.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chụp ảnh kỷ niệm với các học viên cao học trường Đại học Sư Phạm thành phố HCM sau buổi nói chuyện.

Bui Ngọc Tấn và tiến sĩ Trần Thị Hạnh

Bui Ngọc Tấn và tiến sĩ Trần Thị Hạnh

 

Sách và vườn

 Sách và vườn

Trong những ngày ở Ottawa, tôi đi thăm những khu vườn. Tôi muốn đi trong giấc mơ của tuổi già, tìm về “bản hòa âm điền dã” thời thơ dại.

Nhưng sau khi “đọc” mải mê ký tự của Trời, tôi lại nhớ đến ký tự của Người. Và tôi tìm đến những nơi có sách.

Sách, trong một xã hội tiêu thụ, giàu cây cối (đặc biệt là cây thông) và sử dụng song ngữ Anh Pháp như Canada, quả thật là một thế giới lý tưởng cho những con mọt sách.

Ngày đến tòa nhà Quốc hội (Parliament of Canada), sau khi ghi hình thoải mái các phòng họp nghị viên, các vòm cửa, trần nhà cổ kính, nơi tôi bị nhắc nhở  “no picture” lại là thư viện. Một thư viện không lớn lắm, nhưng cực kỳ tráng lệ. Các tia nhìn như bị hút vào cái sắc màu trầm sâu của gỗ tủ và bìa sách. Những tủ sách trang nhã cao kín tường, những bìa sách giấy cứng mạ chữ vàng được sắp xếp thật trân trọng. Tự dưng vào đây, không ai nói một lời. Người hướng dẫn im lặng như muốn để cho du khách lắng nghe tiếng nói u trầm vang lên từ trang sách. Một cuộc đối thoại vô thanh thành kính như khi người ta bước vào Phật tự hay Thánh đường.

Nhưng các thư viện công cộng nằm ở từng khu phố của Ottawa thì dân dã và cực kỳ giản dị, nó tạo cho mọi người cảm giác là ai cũng có thể vào ra thoải mái nơi ấy. Trước 9 giờ sáng đã thấy các ông bà trung niên đủ các màu da sắp hàng chờ. Thẻ thư viện chỉ để mượn sách (không phí) còn ai cũng có thể vào đó để đọc. Thư viện chỉ có một vài nhân viên, lặng lẽ mà rất ân cần khi phục vụ. Người đọc đi lại nhẹ nhàng, có thể ngồi bàn riêng nhìn vào vách để tập trung, có thể ngồi ngả người trên các ghế bành êm ái cực kỳ thư giãn. Việc mượn sách và trả sách hoàn toàn tự động, qua máy tính. Số lượng sách cho mượn có thể vài chục cuốn trong vòng một tháng.

Và  tôi  xúc động lạ lùng khi vừa nhìn thấy tác phẩm La mer et le matin-pêcheur (Biển và chim bói cá) của Bùi Ngọc Tấn tươi rời rợi trên giá sách Nouveautés- Roman (Sách mới-Tiểu thuyết) bên cạnh bộ IQ 84 của Murakami và nhiều tiểu thuyết khác, trong một thư viện khu vực ở trung tâm Ottawa (1).

Giữa những cuốn sách bìa dày, láng, gáy tròn, nhiều màu, đứa con tinh thần của Bùi Ngọc Tấn nổi bật bởi cái bìa mỏng, mang sắc trắng đơn giản của nhà xuất bản L’Aube, Pháp. Tôi nhận ra màu bìa của tiểu thuyết này ngẫu nhiên rất gần với màu sắc thanh và dịu, phổ biến của kiến trúc Ottawa: trắng (nền/ tường), xanh (hình/ mái) và đen (chữ/ viền). Bất giác tôi nhớ đến khuôn mặt của người cha đã mang nặng đẻ đau đứa con này. Chỉ ngắm Ông trên hình, tôi tin cậy, như đã từng tin cậy Nelson Mandela, những người giản dị và lão thực.


Viết trong thế bị “dồn tới chân tường” hay là trong ước muốn được “vợi bớt” trong nội tâm mình những dung nham sôi cuộn, Bùi Ngọc Tấn bình thản đối mặt với những vây quẫn của ngoại cảnh. Một duyên lành nào đó đã đưa đẩy Hà Tây gặp Bùi Ngọc Tấn, để chọn dịch sang tiếng Pháp Biển và chim bói cá (2). Xuất bản ở Pháp năm 2011, tháng 04 năm 2012, tiểu thuyết nhận được giải thưởng Henri Queffélec (3). Với Henri Queffélec, Biển là Nàng thơ, có lẽ ông trải nghiệm Biển (La Mer) như Saint Exupéry trải nghiệm Bầu Trời (Le Ciel). Trên hành trình khám phá Biển, có lẽ Bùi Ngọc Tấn đã góp vào một hải trình riêng. Với Biển và chim bói cá, Biển là song đề (dilemme): vừa là thực thể vừa là biểu tượng. Ông trải nghiệm Biển với tâm thức của một cư dân đất nước bán đảo, một đất nước xinh đẹp bị hằn nát, bị trói buộc vì chiến tranh, vì sự vô minh của con người. Biển, với người Việt luôn là nguồn sống, là cánh cửa mở ra chân trời hy vọng. Nếu một mai nguồn sống ấy bị mất, cánh cửa ấy bị bít lại, người Việt còn biết làm gì?

Thư viện này có khoảng trên 1000 đầu sách, hư cấu, khảo cứu, dịch thuật, xuất bản trước 1975 ở Sài Gòn và sau 1975 ở Việt Nam lẫn hải ngoại. Dành cho người đọc phổ thông, thư viện này ưu tiên nhiều cho tiểu thuyết. Cầm trên tay những tác phẩm xuất hiện trong những không gian và thời gian khác nhau, tôi bồi hồi tự hỏi: Bàn tay ai đã từng chạm vào trang sách? Liệu có một người Việt nào lớn lên ở Canada, đã nhẩn nha đọc hết số sách ấy trong những thời gian rảnh và hình dung về đất Mẹ bên kia bờ Thái Bình Dương? Hình như, đâu chỉ là học tập và giải trí, đọc sách Việt ở đây có thể là hành trình trở về cội nguồn để tìm sự cân bằng (cho người trẻ) và đắm mình trong dòng sông quá khứ để làm dịu những vết thương tha hương (nơi người già).

Bỗng dưng tôi thấy mình thích viết, và ước chi mình có được một vài cuốn sách nằm lẫn lộn khiêm nhường trên các giá sách kia.

“Có một thư viện và một khu vườn, bạn không cần gì nữa cả” (4), câu nói của Cicéron tự ngàn xưa được ghi trên vách nơi đây, ngân lên trong lòng tôi những âm thanh hạnh phúc: tôi đã nhận ra, đã mơ ước, đã có và đang đi tìm cái có thể cho tôi niềm vui tự tại trong mối tương thông với Con người và Tự nhiên.

                                                                   Ottawa, tháng 7- 2012

Nguyễn Thị Thanh Xuân

(1) Ottawa Public Library, 120 Metcalfe, Ottawa, Canada.

(2) Bùi Ngọc Tấn, Biển và chim bói cá, NXB Hội Nhà văn và Công ty Nhã Nam, H, 2008, tái bản 2010.

(3) http://www.forumvietnam.fr/forum-vietnam/la-culture-le-sport-au-vietnam-t-ng-quan-v-n-hoa-th-thao/11769-un-roman-vietnamien-recompense-du-prix-henrimqueffelec.html?langid=3

(4) Trên vách thư viện ghi hai thứ tiếng: Si vous possédez une bibliothèque et un jardin, vous avez tout ce qu’il vous faut (Cicéron); Anyone who has a Library and a Garden wants for nothing (Cicero)

THƠ NHƯ ĐỐM LỬA TỪ TRÁI TIM ĐAU

(Có một Bùi Ngọc Tấn viết thơ)

Phùng Văn Khai

 Vì những lý do khác nhau, ít người biết đến những sáng tác thơ của nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Thơ Bùi Ngọc Tấn, trong trường ca Đầu cầu có những đoạn mô tả con người trong chiến tranh rất khác ngay từ những năm 1960:

Đầu cầu xe về

 Nước sôi trong két

 Anh lái xe mắt xếch

 Tắt máy chờ qua sông

 Đầu gục vô lăng

 Tranh thủ

 Ngủ

 Giấc ngủ treo bao ngày đêm mỏi rời mi mắt

 Giấc ngủ đợi chờ vụt biến đi đâu

 Khi đến đây đầu cầu

 Đáy vực không gian sâu thăm thẳm

 Sương rơi nắp ca pô

 Sương rỏ giọt ngoằn ngoèo kính cửa

 Sương Hải Phòng ướt bụi Trường Sơn

Sương buông thanh bình như ngàn năm trước sương buông

 Anh lái xe dựa vô lăng nghe đất trời yên lặng

 Nghe máu mình khe khẽ thái dương

 Dốc cầu

 Còi

 Hiệu lệnh

 Lên đường!

 Những câu thơ này, Bùi Ngọc Tấn viết ở độ tuổi ba mươi. Ngày ấy, chắc hẳn khó nhận được sự đón chào vì thơ ca lúc ấy biểu hiện khác cách thể hiện của ông. Người ta không đến mức dị ứng nhưng cũng không đón đợi giọng thơ như vậy. Dù bây giờ, có thể những người thể hiện sự không ưa thích ngày trước đã nhận ra sự mới mẻ, sức nặng của những câu thơmà chỉ những người sống hết mình, hoà đồng với người lao động mới cảm nhận và viết ra những dòng thơ ấy.

Đầu gối lên cùm sắt gỉ han

Nghĩ  tóc em xanh mười chín tuổi

 Mát sương đêm những vì sao Hà Nội

Trong nhật ký anh

Tóc em xanh trang nhật ký…

(Không đề)

Đó là một khả năng cảm nhận và thể hiện tinh tế của một tấm lòng yêu đến tận cùng. Những đoạn thơ lẻ hoặc trường ca Đầu cầu cho thấy sự đồng điệu kỳ lạ giữa Bùi Ngọc Tấn và Nguyên Hồng, một người thầy, một người bạn vong niên của ông. Bùi Ngọc Tấn rất gần gũi với Nguyên Hồng, cả trong đời sống lẫn cá tính sáng tác. Hai ông đều yêu người lao động lầm than đến kiệt cùng và sẵn sàng vì họ mà vứt bỏ tất cả. Cuộc đời Nguyên Hồng cũng rất nhiều thăng trầm nhưng văn chương ông thì tuyệt nhiên trong sáng. Nguyên Hồng từng làm thơ, trong những sáng tác thơ ít ỏi của mình, ông đã để lại dấu ấn rất đặc sắc, đó là bài thơ dài Cửu Long giang ta ơi với những câu thơ kỳ vĩ:

 Ta đi

 Lan hoang dứa mật, thông nhựa lên hương

 Những buổi chiều ngun ngút nắng Trường Sơn

 Ngẫm nghĩ voi đi

 Thác Khôn cười trắng xoá

…..

 Mê Kông quặn đẻ

 Chín nhánh sông vàng

 Sông mang tên là Cửu Long gíang

Như những Động Đình, Tây Du, Thuỷ Hử

 Những tên tuổi đã đi vào lịch sử

 Những tên tuổi của muôn đời bất tử…

Thơ Bùi Ngọc Tấn phảng phất phong vị thơ của Nguyên Hồng. Tâm hồn và phong cách của hai nhà văn rất gần nhau. Và cũng có thể nói rằng, Nguyên Hồng và Bùi Ngọc Tấn không những có giọng văn riêng biệt mà những tác phẩm thơ của các ông cũng không giống người khác.

Khi biết tôi muốn sưu tầm những vần thơ của ông, những vần thơ không phải ai cũng biết đến, ông im lặng. Im lặng rất lâu rồi cười hiền bảo: Thơ mình chả ra sao. Tuổi trẻ ấy mà. Mà cũng thất lạc rồi. Ngày xưa bị thu sau không thấy ai trả lại. Mình cũng không biết hỏi ở đâu. Tôi rơi vào im lặng và linh cảm một điều những vần thơ vẫn nằm trong trí nhớ của ông chứ không thể khác. Tôi xuống Hải Phòng bao giờ cũng đến thăm ông đầu tiên. Tôi biết ông còn nhiều điều muốn nói và nhiều điều dường như phân vân có nên nói ra với những người trẻ tuổi hay không. Nói để làm gì? Có giải quyết được gì không hay lại làm tốn phí thời gian vô ích. Thời gian đang chầm chậm vây bủa lứa các ông và ông tiếc thời gian cho chính mình, cho chúng tôi là một điều chính đáng.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Chúng tôi nói nhiều chuyện về văn nghệ, về đời sống và đặc biệt là về sáng tác. Bẵng đi một thời gian, khi chính tôi đã bắt đầu lãng quên việc tìm những vần thơ của ông thì thật bất ngờ, ông gửi cho tôi một thư điện tử với những vần thơ theo trí nhớ, nội dung bức thư như sau:

“…Biết Khai đang viết về chú, có viết cả về thơ nữa, chú cung cấp mấy chi tiết về thơ của chú. Ai trong đời chẳng làm mấy câu thơ. Nhất là khi người ta còn trẻ, khi người ta đang yêu.

Dưới đây là một bài thơ viết trong thời gian chiến tranh leo thang, máy bay Mỹ bắn phá. Cô và các con chú đi sơ tán hết. Một mình chú ở lại thành phố đang là mục tiêu ném bom của Mỹ (khoảng năm 1966).

Thơ đề dưới tranh Người uống rượu ngải (Le buveur d’absinthe) của Picasso

 

Anh đặt em bên Picasso một mầu cô đơn

Nụ cười em sáng một trời say đau buồn

 

Họa sĩ dạy anh yêu qua những giọt nước mắt không rơi

Cả cuộc đời anh buồn vì một lần nhìn mắt em cười

Đêm Việt Nam khuya muốn trò chuyện đôi câu

Nhưng người say không nghe mắt nhìn đi đâu.

 

Công an có thu của chú 2 tập thơ. Một tập thơ có tên là Thơ Xanh làm thuở học trò.

Một bản là trường ca Đầu Cầu, có trích trong Chuyện kể năm 2000. Có những đoạn như sau:

Đầu cầu

Bom giết hố bom

miệng phễu

Đầu cầu

phố đổ

Cát chẩy thành thuỷ tinh

Kính trên cửa sổ xưa xanh

Vụn thành cát nhỏ….

 …

Nghìn năm nay ta vẫn bước trên cầu mà nào nghĩ rằng cầu vẫn bắc qua sông

Đứng trên cầu ta nhìn nước chẩy

Tới bên cầu ta chỉ nghĩ đến người ta sắp phải chia tay

Sách xưa nói tới cầu cũng chỉ để nói người tiễn đưa chồng lòng buồn dằng dặc

Cho ta thương người chinh phụ một mình sắp phải trở về

Một mình qua cầu nước trong như lọc

Thương mỗi bước chân về gấp vạn bước chân đi…

 

Và khi một con tầu được hạ thuỷ:

Con tầu đó không còn là sắt thép

Trong phút giây tầu bỗng có tâm hồn

Khi ta sắp cùng tầu ly biệt

Lòng bâng khuâng ta nghĩ đến đại dương…

 

Con tầu mở tâm hồn ta về những phía chân trời

Ta không tính đường đi bằng cột ki lô mét

Quả đất trong tầm mắt ta nhìn xinh đẹp

Không đâu còn là tám hướng mù khơi.

Rồi đến chương Những người lái xe trong cuộc chiến tranh giao thông vận tải:

Đầu cầu

Xe đi

Bác lái râu ria

Quẹt diêm châm thuốc

Đêm nay nhìn tua rua bên cầu

Đêm mai nhìn tua rua nơi đâu

Việt Bắc?

Biên giới Việt Lào…

Đầu cầu

Xe về.

Gác nhà ai

Đài khuya

còn mở

Một khúc nhạc bay qua cửa sổ

Tưng bừng

Bê thô ven

Nhạc sĩ kính yêu

Tôi bận lắm không thể nào dừng lại

Các đồng chí đang nóng lòng mong đợi…

 

Thêm nhạc Bê thô ven vào trọng tải

Xe đi nhẹ hơn

Chiếc Zin cánh cong đầy bụi đường trường

Phóng thẳng tới cầu tầu bến cảng…

 

Thơ trong tù thì có nhẩm một bài thơ dài nhưng đã quên hết. Hôm nọ một anh bạn tù đến, còn nhớ lõm bõm mấy câu, đọc lại cho nghe:

Em ơi! Em ở đâu?

Một chiều xám lạnh

Hai chiều buốt sương

Ba chiều nắng dội

Bốn chiều mưa dông…”

Tôi suy nghĩ mãi về những vần thơ mộc mạc đến thắt gan thắt ruột của ông và bỗng cảm thấy trái tim những văn nghệ sĩ luôn gần gũi với đời sống của nhân dân, đặc biệt là những người dưới đáy cùng của xã hội. Trái tim thơ thường dội vào phía trong mình những suy tư, chiêm nghiệm và cả những ẩn ức khó giãi bày. Những vần thơ của Bùi Ngọc Tấn bây giờ chỉ còn trong trí nhớ của ông, bè bạn và những người yêu thơ, một mai nó có thể lẫn vào thinh không hoặc chỉ còn láng máng trong tâm thức của số ít người. Nhưng không hiểu sao, tôi vẫn tin nó sẽ mãi còn, dù khiêm nhường và lấm láp, dù khuất lấp và phiêu dạt nó cũng sẽ mãi còn. Vì nó chính là những đốm lửa cháy mãi trong trái tim đau đớn của nhà văn.

(Báo Văn Nghệ)

Thư kí thời đại: Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Mấy ngày qua nhận tin buồn cũng khá nhiều, hôm nay thì có tin vui. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn được trao giải Henri Queffenlec nhân dịp liên hoan “Sách và Biển” năm 2012 ở Pháp. Tác phẩm được trao giải là truyện dài Biển và chim bói cá. Là fan của Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, nên tôi dĩ nhiên đã đọc cuốn này ngay từ lúc mới xuất bản, nhưng không có thì giờ (và cũng chưa nghĩ ra ý gì mới) để viết một bài điểm sách. Thôi thì nhân dịp này, tôi post lại bài này, trước là chúc mừng Nhà văn, và sau là giới thiệu hai tác phẩm trước đây của ông. Bài viết cũng 10 năm tuổi rồi, nhưng hình như vẫn còn tính thời sự. Nói đến Bùi Ngọc Tấn, không ai không nhắc đến tác phẩm Chuyện kể năm 2000. Đó là một tự sự của nhân vật Nguyễn Văn Tuấn (không dính dáng gì đến người đang viết những dòng này), người bị tù đày suốt 5 năm trời (từ 1968 đến 1973) vì lí do rất vớ vẩn. Những sáng tác hay thường xuất hiện từ những thời kì đau khổ, và thời gian 5 năm tù đày cũng là giai đoạn để nhà văn tích tụ đau khổ thành chữ.  Chữ của tác giả trong giai đoạn đau khổ này mang đậm tính nhân văn và bình thản một cách lạ lùng. Nhiều hồi kí “cải tạo” của các sĩ quan và quan chức miền Nam kể lại những cực hình và nhục hình trong nhà tù, thường với giọng văn mạnh, thù hằn, hoặc mỉa mai. Nhưng Chuyện kể năm 2000 thì hoàn toàn khác. Bằng một giọng văn nhẹ nhàng, chậm rải, như độc thoại, tác giả thuật lại những bi kịch trong trại tù làm cho chúng ta có khi phải cười ra nước mắt. Không có mỉa mai, cũng chẳng có hằn học hay hận thù trong câu chuyện của tác giả. Nhà văn tâm sự rằng ông chỉ muốn là người “thư kí, là người chép sử của thời đại”. Chuyện kể năm 2000 là một bộ chứng từ của một chứng nhân cần lưu giữ lại cho thế hệ sau. Tác giả so sánh rằng Nhà văn Vũ Thư Hiên với Đêm giữa ban ngàychỉ ra những ai đã đẩy gia đình ông vào cảnh tù đày, còn ông (Bùi Ngọc Tấn) là chỉ ra toàn bộ cơ chế đã sản sinh ra những bất công xã hội.Số phận của Chuyện kể năm 2000 cũng rất thú vị. Đó là một tác phẩm rất hay, nhưng chẳng hiểu vì sao khi mới in ra và phát hành thì có lệnh thu hồi. Chẳng những bị thu hồi, mà tác giả của nó còn bị nhiều phiền lụy. Bùi Ngọc Tấn kể rằng “Sau khi in Chuyện kể năm 2000, tôi được công an mời lên nhiều lần. Nhà tôi, điện thoại của tôi bị giám sát chặt chẽ. Nhiều cuộc họp đảng cơ sở , người ta phổ biến rằng tôi là một kẻ phản động đi tù về viết một tập sách chửi Đảng, chửi lãnh tụ. Ngay Tết Quý Mùi gần đây thôi, ông bí thư phường tôi họp cán bộ các ngành trong phường tổng kết về Tết an toàn, nói trong phường có một điểm nóng là tôi nên phải phân công trực ca ba, 24 trên 24. Qua Tết không xảy ra chuyện gì mới thở phào. Cũng phải nói thêm: tất cả những vị đứng ra truyền đạt những nhận xét về tôi đều chưa đọc tập tiểu thuyết của tôi. Một người bạn có chân trong Đảng dự họp nói ông ta có bản photo Chuyện kể năm 2000, ai muốn đọc, ông ta cho mượn, nhưng chờ mãi mà không ai mượn, nghe cấp trên truyền đạt lại là dủ, làm gì phải đọc, phải suy nghĩ, phải động não cho mệt người.” Cho đến nay, tác phẩm đó vẫn chưa được phổ biến, dù đã được xuất bản và dịch sang tiếng Anh ở nước ngoài (và trên mạng)!

Nhưng Bùi Ngọc Tấn không chỉ có Chuyện kể năm 2000 để đời, mà còn sáng tác nhiều truyện ngắn khác theo tôi là cũng rất đáng để đời. Có lần tôi đã nói một trong những tác phẩm ngắn đó là Người chăn kiến. Đó là một câu chuyện thật hay và độc đáo, mà theo tác giả là được sáng tác trước Chuyện kể năm 2000 để độc giả làm quen với “trò chơi” mới của tác giả. Người chăn kiến viết về một ông giám đốc [dĩ nhiên là hư cấu] bỏ tù oan, và khi vào tù do dáng dấp có học, ông được một tên “đại bàng” tha cho trận đòn nhập gia mà đựơc trần truồng đứng làm tượng Nữ Thần Tự Do. Ông thích cái vai trò này, vì được mục kích những kẻ phục dịch cho đại bàng như thế nào. Ông còn được tên đại bàng giao cho nhiệm vụ chăn những con kiến trong cái vòng tròn bé tí vẽ bằng gạch non trên nền buồng giam. Đến khi ông được minh oan, trở về công việc cũ (giám đốc), ông bị ám ảnh bởi vai trò của mình trong trại giam. Cứ vào giờ nghỉ trưa, ông khóa cửa phòng, rồi mở ngăn kéo, lấy ra hai con kiến, vẽ một cái vòng tròn nhốt chúng, và cho chúng ăn bánh bích quy. Sau đó, ông cởi bỏ áo quần, leo lên bàn, mắt nhìn về phía xa, tay giơ cao kiêu hãnh, trong tư thế của Nữ thần Tự do. Không chỉ văn chương rất hay trong truyện ngắn đó, mà câu chuyện hàm chứa nhiều ý nghĩa trong xã hội hiện hành. Một cách hiểu là cái vòng tròn nhỏ xíu ấy có thể không giam giữ được hai con kiến nhưng nó có hiệu quả làm cái vòng kim cô giam gữ thân phận của một con người. Có lẽ Bùi Ngọc Tấn muốn mượn Người chăn kiến để gửi một thông điệp cho những tù nhân dự khuyết trong xã hội rằng ai đã bước vào nhà tù là vĩnh viễn không thoát khỏi nó. Cũng là một cách nhắn nhủ với những cai tù hay những ai được “quyền xử lí con người” phải thận trọng với con người.

Tôi ví Nhà văn Bùi Ngọc Tấn như là một Dostoievski của Việt Nam. Đọc văn của ông làm tôi nhớ đến nhà văn đại tài người Nga này. Cũng như Dostoievsky khai thác khía cạnh tâm lí con người trong bối cảnh chính trị – xã hội Nga bị nhiễu loạn, Bùi Ngọc Tấn khai thác những bức tranh xã hội chân thực, và đi tìm cái cội nguồn, cái “động mạch chủ của cuộc sống.” Giọng văn của Bùi Ngọc Tấn cũng phảng phất một Dostoievski. Đọc Bùi Ngọc Tấn để thấy cái hay của chữ nghĩa Việt. Có khi câu văn chỉ có một chữ, nhưng đặt vào bối cảnh thì lại thấy đầy đủ ý nghĩa của nó.

Việt Nam ta chưa có ai được giải Nobel văn học. Nếu có ai xứng đáng được đề cử, tôi nghĩ Bùi Ngọc Tấn là một trong những người như thế. Chưa có giải Nobel, nhưng Bùi Ngọc Tấn được tặng nhiều giải danh giá khác. Mới nhất là giải Henri Queffélec cho tác phẩm Biển và chim bói cá (bản tiếng Pháp là La mer et le matin-pêcheur do dịch giả Tây Hà dịch). Theo tin từ báo chí thì La mer et le matin-pêcheur đã vượt qua 5 tác phẩm của các nhà văn Canada, Pháp, Bỉ tại vòng chung kết và đoạt Giải Thưởng Lớn (Grand Prix). Là một fan của nhà văn, xin có lời chúc mừng và chia vui cùng Nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

NVT (Nguồn nguyenvantuan.net)

===

Giới thiệu sách mới (4/2003)

Tháng này, tôi xin giới thiệu đến bạn đọc một số sách đáng chú ý (theo ý kiến của tôi) mới xuất bản ở trong nước.

Viết về bè bạn của Bùi Ngọc Tấn Nhà xuất bản Hải Phòng, 2003. 536 trang

Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn Nhà xuất bản Hải Phòng, 2003. 355 trang

Để hiểu ngọn ngành hai cuốn sách này và truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn, tưởng cần phải nhắc lại về tác giả một chút. Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934, nguyên quán ở Hải Phòng. Ông từng là một nhà báo (với bút hiệu Lôi Động và Tân Sắc) và nhà văn thuộc thế hệ sau 1954. Ông từng cộng tác với tờ Tiền Phong, Hà Nội, và Hải Phòng Kiến Thiết. Ông bị bắt vào tháng 11 năm 1968 vì tội “phản cách mạng, tuyên truyền chống chế độ”, và đi tù cho đến năm 1973 mới được thả ra. Năm 1993, ông tái xuất hiện trên văn đàn với bài “Nguyên Hồng: một thời đã mất” đăng trên Tạp chí Cửa Biển của Hội Nhà văn Hải Phòng. Sau này tập bút kí đó được Nhà xuất bản Hội Nhà văn in thành sách với nhiều đoạn bị đục bỏ.

Bùi Ngọc Tấn nổi tiếng trong thời gian hậu gulag hơn là thời gian trước khi ông đi tù. Ngày nay, nói đến ông, người ta nghĩ ngay đến tác phẩm Chuyện kể năm 2000, một truyện dài – hay nói chính xác hơn là tự truyện – viết về cuộc đời tù đày và cuộc sống xã hội sau khi ra tù của ông. Cuốn sách mới in xong liền bị cấm phát hành.

Viết về bè bạn (VVBB) là một tập hợp những bài viết của Bùi Ngọc Tấn về những người bạn của tác giả. Những người bạn mà Bùi Ngọc Tấn đề cập đến là Chu Lai, Nguyễn Quang Thân, Dương Tường, Mạc Lân, Lê Bầu, Nguyễn Thị Hoài Thanh, Hứa Văn Định, Nguyên Bình, Lê Đại Thanh, Nguyễn Thanh Hà, Vũ Tín, và Nguyên Hồng. Đây là những người bạn thủy chung với tác giả trong những giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời họ. Phần viết về Nguyên Hồng (hơn 200 trang) chính là cuốn sách mà Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã xuất bản, nhưng trong lần xuất bản này những đoạn bị đục bỏ được khôi phục lại cho đúng với nguyên bản.

Cuốn sách viết theo kiểu “chân dung” về sự “nhếch nhác trần ai của họ, của những người làm nghề mà các tập chân dung văn nghệ sĩ khác chưa nói tới hoặc chỉ nói qua. Viết về cái chông gai và cả hiểm nguy của người nghệ sĩ, đặc biệt là với nghề văn để các bạn trẻ suy nghĩ kĩ trước khi bước vào nghề, dấn thân vào cuộc phiêu lưu với nghệ thuật ngôn từ. Tôi muốn có bóng dáng thời đại chúng tôi đã sống trong những trang sách của tôi cũng như tôi hiểu được rằng viết chân dung, viết hồi kí là phải trung thực, nếu không muốn mình là kẻ bịp người khác.” (VVBB, trang 7).

Chông gai và nhếch nhác như thế nào? VVBB cho người đọc nhiều giai thoại thú vị nhưng có khi nhức nhối. Có những văn nghệ sĩ có tài nhưng hoặc không được viết, hoặc được viết nhưng không được in, hoặc được in nhưng không dám dùng tên thật. Có văn nghệ sĩ phải sống lây lất qua ngày bằng nghề bán chữ và … bán máu. Hãy đọc một đoạn Bùi Ngọc Tấn tả cảnh đi bán máu của Mạc Lân:

Đang loay hoay với kế mưu sinh thì Dương Tường đến. Nào ai ngờ được chính anh chàng lơ ngơ này lại là người giải quyết cho Mạc Lân vấn đề cực kì khó khăn ấy: Đi bán máu. Lân tròn xoe mắt, sửng sốt và bất ngờ. Bán máu? Bán ở đâu? Bán như thế nào? Ai mua? Ông lại sáng tác ra chuyện gì nữa thế? Không phải truyện sáng tác, hư cấu. Người thực việc thực một trăm phần trăm. […] Lấy máu theo trọng lượng cơ thể. [Dương] Tường chắc mỗi lần bán chỉ được 150 cc. Lấy 200 cc có thể do cảm tình gì đó. Lân 60 kí lô mới được lấy 200 cc. Về sau những lần Lân cần tiền Lân đeo thêm chì vào người để đạt trọng lượng 70 kí lô và bán được 250, 300 cc, anh nghĩ chắc Dương Tường cũng giở trò gian lận này. Lấy xong máu, cầm biên nhận đến tài vụ lĩnh tiền, nhận phiếu bồi dưỡng. Tiền tính theo cc còn tem phiếu thì đồng loạt. Mỗi người được lĩnh tem 2 cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít màu nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu. Cho nên những ngày đi bán máu rất vui. Con người mình bỗng nhiên tăng thêm phần giá trị trước gia đình và trước bao cặp mắt của cánh phe vé, bỗng nhiên mình được bao bọc quấn quít giữa những cái nhìn trìu mến, tình cảm, hò hẹn của đám đàn ông đàn bà chuyên sống bằng buôn bán tem phiếu lúc nào cũng có mặt ngoài cổng bệnh viện.”

VVBB còn chứa đựng một vài thông tin nhỏ mang tính cá nhân. Chẳng hạn như viết về Dương Tường, một tác giả của 50 tác phẩm dịch thuật có giá trị, người mà Gallery Lã Vọng giới thiệu [trên giấy trắng mực đen]: “Ông này [Dương Tường], nhà thơ và nhà phê bình lỗi lạc, đã soi sáng cho tôi rất nhiều khía cạnh của văn hóa Việt Nam”, chưa bao giờ là hội viện của Hội nhà văn. Chẳng hạn như Nhà thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh, người Hải Phòng (cùng quê với Bùi Ngọc Tấn), chính là em ruột của ông Nguyễn Xuân Vinh, cựu tư lệnh không quân trong quân đội Sài Gòn trước 1975 và là một nhà khoa học không gian (Mĩ), một người chống cộng tới cùng. Và cũng chính mối quan hệ ruột thịt này mà người ta nhầm lẫn bà là em của ông Nguyễn Cao Kỳ và đã làm cho nhà thơ bao phen lận đận lao đao. Chẳng hạn như Hoạ sĩ Nguyễn Thanh Bình tuy là con của một thứ trưởng ngoại giao nhưng từng đi bộ đội (dù bố mẹ anh có thể xin cho con đi học thay vì đi lính).

Nói là viết về bè bạn, nhưng trong thực tế, tác giả cũng viết về cuộc đời của chính mình trong ấy. Do đó, cuốn sách không chỉ là một phát họa về cuộc sống của những bạn bè nghệ sĩ mà còn thỉnh thoảng cho người đọc biết về những tháng ngày gian truân của tác giả từng kinh qua sau khi ra tù. Về cuộc sống thời bao cấp, Bùi Ngọc Tấn viết: “Một thời mà mỗi khi nhớ lại, bỗng nhiên thấy mình đã là những người anh hùng, đã vượt qua một quãng đời tưởng như là bịa đặt, không thể nào tin được. Và thế hệ hôm nay càng chẳng thể quan niệm nổi” (VVBB, trang 255).

VVBB không phải là một loại tản văn bình thường, mà còn là một sáng tác chữ nghĩa, những suy nghĩ độc đáo của Bùi Ngọc Tấn. Viết về Lê Đại Thanh, Bùi Ngọc Tấn nhận xét người bạn già của mình là đã “Sống chứ không phải là tồn tại.” Sống khác với tồn tại. Còn sống ngày nào hãy sống hết mình với cuộc đời, với nghệ thuật. Tiền bạc, danh vọng, địa vị, tất cả đều là hư vô. Bùi Ngọc Tấn nhận xét về cái chết như sau: “Khi cái chết đến với con người thì cũng từ đó một cuộc sống mới nẩy sinh. Ý nghĩa lớn nhất của cuộc sống vẫn còn tiếp tục sau cái chết có lẽ là sự công bằng, điều cả loài người mong ước như một khát vọng hướng thiện.” (VVBB trang 201)

Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn, như tên gọi cho biết, là một tập truyện gồm 19 truyện ngắn của Nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Sau gần một phần tư thế kỉ vắng bóng trên văn đàn, Bùi Ngọc Tấn lại cầm bút và viết khỏe. Đây là tác phẩm thứ hai (hay thứ ba) của ông kể từ khi ra tù. Bùi Ngọc Tấn từng tự sự về chính ông như sau:

Thập niên thứ tư: dưới đáy. Cố ngoi lên để khỏi bị nhận chìm xuống đáy. Đấu tranh đòi hưởng công bình, đòi hưởng luật pháp. Thập niên thứ năm: chiêm nghiệm. Xác nhận thực tại mình bị tiêu diệt. Hiểu. Thập niên thứ sáu … trò chuyện với vô cùng.”

Có thể nói tuyển tập truyện ngắn này là một “trò chuyện với vô cùng”. Những truyện trong sách tập trung vào đề tài những câu chuyện nhức nhối trong cuộc sống nhà tù và ám ảnh sau khi ra tù, những hoàn cảnh éo le đưa đẩy người nữ bộ độ vào con đường làm gái bán bia ôm, những câu chuyện thương tâm trong thời đổi mới … Tuy không khắc họa một cách lạnh lùng, trần trụi, những con người đang mất dần nhân tính và những kẻ bị đau khổ bị sỉ nhục trong xã hội như trong những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn cũng làm người đọc thêm khinh bỉ những kẻ xấu xa, xúc động trước những nỗi đau khổ của những người làm ăn lương thiện đang phải đấu tranh hàng ngày cho miếng ăn.

Trong Lời nói đầu, Dương Tường nhận xét về Bùi Ngọc Tấn như sau: “Bùi Ngọc Tấn, trong mắt tôi, là người biết chưng cất cái đau thành hi vọng, thành tiếng cười, không, chính xác hơn, thành nụ cười, vì anh không mấy khi cười thành tiếng. Tôi gọi đó là hóa học của nhân bản. Hay có khi đó là bí quyết đạt đạo của những bậc hiền?”

Nhận xét về văn phong của ông, tôi nghĩ Phạm Xuân Nguyên viết khá đầy đủ: “Giá trị nhà văn của Bùi Ngọc Tấn trước hết là ở giọng điệu văn chương làm cho người đọc hiểu ông, tin ông, đồng cảm với ông, và cùng ông đồng cảm với những phận người, những kiếp bụi nhân sinh. Cao hơn chuyện văn chương là chuyện cuộc đời. Bùi Ngọc Tấn là nhân vật của văn ông và đồng thời ông cũng là tác giả của những điều ông viết ra. Đó là văn chương của sự thật.” Qua giọng văn, người đọc có thể thấy ông là một người trầm tĩnh và bao dung, thể hiện những suy nghĩ chiều sâu của một tác giả đứng tuổi. Bùi Ngọc Tấn có một văn phong độc đáo: ngắn gọn và cô đọng. Có nhiều câu văn chỉ một chữ. Chỉ một chữ nhưng đặt vào văn cảnh thì ai cũng hiểu.

Viết về bè bạn Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn là những cuốn sách có giá trị lịch sử văn học và văn chương mà bất cứ ai quan tâm đến văn học nước nhà cần phải có trong tủ sách.

Sự công nhận quốc tế đối với một tài năng Việt Nam bị ngược đãi

Ông François Bourgeon, Chủ tịch danh dự Festival và Trưởng Hội đồng tuyển chọn, trao Giải thưởng cho nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua dịch giả Tây Hà

Lê Diễn Đức

Trong ngày 8 tháng 4 tôi nhận được tin vui về người anh, người bạn: nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa giành được Giải thưởng Henri Queffenlec tại liên hoan “Sách và Biển” năm 2012 (Festival Livre et Mer) của Pháp tổ chức trong 3 ngày từ ngày 6 đến ngày 8/4.

Giải thưởng Henri Queffenlec trao cho tác phẩm “Biển Và Chim Bói Cá” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, do Nhà xuất bản (NXB) Hội Nhà văn Việt Nam và Công ty Nhã Nam phát hành năm 2009, tái bản năm 2010.

Tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” bản Việt ngữ có 538 trang, được dịch giả Tây Hà dịch ra tiếng Pháp 514 trang, NXB l’Aube phát hành năm 2011, có tựa đề là “La mer et le matin-pêcheur“.
La mer et le matin-pêcheur” đã vượt qua 5 tác phẩm của các nhà văn chuyên nghiệp của Canada, Pháp, Bỉ tại vòng chung kết và giành Giải Thưởng Lớn (Grand Prix), không có giải nhì, đó là:
- Dominique Fortier, nữ văn sĩ Canada, với tác phẩm “Cách Dùng Các Vì Sao“, NXB Table Ronde.
- Francois Bellec, nhà văn Pháp, với “Cây Ban Đêm“, NXB Jean Claude Lattès.
- Eric Fottorino, nhà văn Pháp, giám đốc nhật báo “Le Monde”, với tác phẩm “Bơi Ngửa“, NXB Gallimard.
- Pilar Hélène Sugers, nữ văn sĩ Pháp, với tác phẩm “Hội Gió Ở Aixlen“, NXB Jean Claude Lattès.
- Jose Pinelli, hoạ sĩ Bỉ, và Jean Bernard Pouy, nhà văn Pháp, với tác phẩm “Con Tầu Dưới Gió“, NXB Jean Claude Lattès.
Festival “Livre et Mer” được tổ chức hàng năm ở Pháp với mục đích tôn vinh những tác phẩm viết về biển.
Giải thưởng của Festival mang tên nhà văn Henri Queffélec, một trong những tác giả nổi tiếng nhất viết về biển bằng tiếng Pháp trong thế kỷ 20 và là người sáng lập giải thưởng văn học uy tín này.

Sự công nhận quốc tế đối với một tài năng đã bị bạc đãi

Theo tin trên trang website Bùi Ngọc Tấn, thay mặt nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong lễ trao giải, dịch giả Tây Hà phát biểu:
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn hiện đang ở Việt Nam và rất tiếc không đến dự được buổi họp hôm nay. Thay mặt tác giả là dịch giả. Dịch giả chỉ là người thi hành và thấy mình thật bé nhỏ khi đứng với bao nhiêu nhà sáng tạo. Chúng tôi rất cảm động vui mừng và cảm ơn nhận giải thưởng Đại Hội đã dành cho “Biển và Chim Bói Cá”. Sự cảm động và vui mừng tác giả đã biểu lộ khi được tôi báo tin trên điện thoại.
Giải thưởng này là một vinh dự, một niềm vui, và là một an ủi cho chúng tôi, vì nó là một sự công nhận quốc tế đối với một tài năng bị bạc đãi ở chính nước mình. Tác giả đã từng nhận nhiều giải thưởng có tầm cỡ toàn quốc, ở trong nước. Nhưng ông đã bị giam cầm vì tài năng của mình. Bởi một người tài không bao giờ chấp nhận những điều phi lý hoặc phản công lý dù những điều đó dựa vào sức mạnh.
Tôi sẽ chuyển giải thưởng cho tác giả khi về Việt Nam và chúng tôi sẽ có cuộc liên hoan với các bạn nhà văn, nghệ sĩ, có rượu và cá như đã viết trong tiểu thuyết“.
Dịch giả Tây Hà cũng đã đọc lời chào mừng của nhà văn Bùi Ngọc Tấn gửi đến Festival:
Tôi chào mừng Đại Hội Biển và Sách. Đạt được giải Henri Queffelec mỗi năm dành cho một tác phẩm nói về biển, thật là một vinh dự lớn cho tôi, nhất là khi qua mạng internet tôi được biết trình độ rất cao của những tác giả cùng tranh cử để được giải này. Nước Pháp đối với tôi không hẳn là xa lạ, vì thời thơ ấu tôi đã học tiếng Pháp và sự kiện này càng làm tăng thêm niềm vui của tôi. Tôi thành thật cảm ơn đại hội đã cho tôi vinh dự và niềm vui này“.
Cuốn tiểu thuyết “Biển Và Chim Bói Cá” là cuốn sách thứ 2 của nhà văn Bùi Ngọc Tấn được NXB Aube phát hành, sau tập truyện ngắn “Une vie de chien” gồm 7 truyện ngắn (Khói; Người chăn kiến; Truyện không trên; Những người đi ở; Một ngày dài đằng đẵng; Cún; Dị bản một truyện đã in) ấn hành năm 2007 và được tái bản năm 2011 dưới dạng bỏ túi (poche).

Chút kỷ niệm riêng sâu sắc

Tôi biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn từ cuốn “Chuyện Kể Năm 2000” và năm 2002 mới được đọc nó nhờ một người bạn mua ở Mỹ gửi qua Ba Lan cho, vì cuốn sách không được xuất bản tại Việt Nam.
Chuyện Kể Năm 2000” được cộng đồng người Việt hải ngoại biết đến khá rộng rãi. Cuốn tiểu thuyết thực chất là hồi tưởng của nhà văn về cuộc sống trong 5 năm (1968-1973) bị tập trung cải tạo oan ức và bất công chỉ vì những chính kiến khác với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trước các nghịch lý và bất công xã hội.
Cuộc sống trong tù đơn điệu, nhàm chán đã được nhà văn Bùi Ngọc Tấn mô tả trong “Chuyện Kể Năm 2000” một cách sống động, cuốn hút qua ngòi bút tài tình của mình. Trong những khoảnh khắc bi kịch nhất, có lúc tia sáng chợt loé thúc dục cho con người vươn tới sự sống, sự tồn tại bằng hình ảnh lãng mạn và đẹp tuyệt vời của tình yêu với người vợ thuỷ chung. Cả cuốn sách đầy ắp tính nhân văn chứa đựng liên tiếp những bi kịch, những nụ cười chảy nước mắt của những tù nhân trong hoàn cảnh cùng cực và bi thương về vật chất và tinh thần.
Tháng 7 năm 2009, cô bạn nhà báo Lan Hương ở Moscow sang Ba Lan chơi cho tôi hay cô đã hoàn tất thủ tục mời nhà văn Bùi Ngọc Tấn sang thăm nước Nga.
Đến thăm nước Nga là niềm mơ ước lớn không chỉ của nhà văn Bùi Ngọc Tấn, mà của nhiều người trong giới cầm bút ở miền Bắc, đã sớm làm quen với tác phẩm của những cây cổ thụ văn học thế giới như L. Tolstoy, F. Dostoyevsky, A. Sakharov, B. Pasterniak, A. Solzhenitsyn, K. Pautovsky, M. Sholokhov…
Tháng 9 năm 2009, tôi từ Ba Lan bay qua, Lan Hương và nhà văn Bùi Ngọc Tấn đi tàu từ Moscow tới, điểm hội tụ là thành phố Saint Petersburg.
Thấy nhau là tay bắt mặt mừng ngay vì chúng tôi đều cùng đã nghe về nhau, chỉ chưa có cơ hội gặp mà thôi, lại có người bạn chung là nhà văn Vũ Thư Hiên, nên tôi xin phép gọi bằng “anh” cho thân mật và gần gũi, mặc dù “anh” thuộc tuổi cha chú của tôi.
Tôi và anh được Lan Hương tiếp đón trên cả mức tận tâm, tận tình. Anh Tấn và tôi ngủ chung một phòng lớn. Đêm nào cũng trò chuyện tới khuya. Ban ngày, với kinh nghiệm nhiều năm ở Nga, chỉ trong 5 ngày mà Lan Hương đã cho chúng tôi đi thăm thú gần hết những nơi nổi tiếng nhất và đẹp nhất của St. Petersburg. Ban đêm chúng tôi đưa anh đi thưởng thức các món ăn dân tộc Nga, đặc biệt là thịt trừu nướng bằng than từ cây bạch dương…
St. Petersburg nằm trên sông Neva đổ ra biển Baltic phía Bắc, có khoảng 1000 chiếc cầu ngang dọc với kiến trúc muôn hình, muôn vẻ, được Peter Đại đế (Peter the Great) khởi công xây dựng từ năm 1703, tổng hợp theo kiến trúc của các trường phái từ Paris, Roma, Vienna… Rất nhiều cổ vật tinh hoa của các nền văn hoá thế giới bao gồm cả Trung Hoa, Ả Rập, Ba Tư… đã được Peter Đại Đế và các triều đại Nga kế tiếp mua về trang điểm và làm giàu cho St. Petersburg.
Từ khi Putin, người xuất thân từ St. Petersburg, lên làm Tổng thống Nga năm 2000 và nhất là từ đợt chuẩn bị cho cuộc họp thượng đỉnh, đón các nguyên thủ quốc gia G8 vào năm 2006, các di tích lịch sử, bảo tàng được nhà nước Nga bỏ tiền tu sửa rất nhiều. Vào một buổi chiều tối chúng tôi đi tàu dọc sông Neva ngắm toàn cảnh thành phố lung linh dưới ánh sáng đủ màu hắt lên mặt nước, đẹp không thua kém bao nhiêu thủ đô Paris trên dòng sông Sein.

Lê Diễn Đức và nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong Cung điện Nữ hoàng Catherine, St. Petersburg 9/2009 – Ảnh: LDĐ

Chuyến thăm nhau ngắn ngủi nhưng để lại trong tôi hình ảnh một nhà văn rất quý mến, thân thiện, với vóc dáng nhỏ bé, nét mặt khắc khổ, hiền lành, nhận hậu mà can đảm, nhẫn nhịn mà luôn giữ nhân cách trong sáng.

Tôi đã mời và hứa sẽ tìm cách “lo liệu” cho anh sang thăm Ba Lan một chuyến nhưng chưa thực hiện được.

Anh Tấn cho tôi tất cả các thông tin cá nhân của anh ở Hải Phòng: địa chỉ nhà, số điện thoại, email, nhưng từ lúc chia tay anh, tôi dường như tôi không liên lạc với anh. Anh đã trải qua những tháng ngày quá đau khổ, giờ chỉ muốn sống yên tĩnh đến cuối cuộc đời, như một người ở ẩn. Tôi muốn tránh cho anh vì những liên hệ với tôi mà có thể gặp những rắc rối, phiền toái không cần thiết từ phía nhà cầm quyền.

Do vậy, anh không qua Pháp tham dự Festival Livre et Mer và nhận giải thường Henri Queffenlec không biết vì nhà cầm quyền Việt Nam gây khó hay là do sức khoẻ yếu. Năm nay anh 78 tuổi rồi. Hồi qua St. Petersburg anh bị đau khớp chân nặng, nhiều lúc anh phải vịn vai tôi nhích từng bước trong những buổi đi chơi hoặc thăm thú các viện bảo tàng, di tích lịch sử. Thế nhưng, cách đây khoảng gần một tháng, nhiều nhân sĩ trí thức, trong đó có nhà văn Nguyên Ngọc, Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện… từ Hà Nội xuống Hải Phòng thăm anh, tôi hỏi thăm thì biết anh khoẻ bình thường.

Để kết thúc bài viết, tôi chép lại một đoạn giới thiệu trên bìa cuốn “Biển Và Chim Bói Cá” mà anh đã ký tặng tôi hồi tháng 9/2009 tại St. Petersburg:

Thế hệ chúng tôi đã chứng kiến bao nhiêu biến động của Lịch Sử. Một thế hệ nhiều năm rồi nằm trong tầm bắn tỉa của Thần Chết, đang biến mất khỏi hành tinh này không để lại vết xước nào. Tôi chỉ muốn thật trung thực trong khi viết để góp phần vào việc lưu giữ ký ức của Dân Tộc“.

Vâng, rất nhiều biến cố lịch sử sẽ qua đi, nhạt nhoà, phôi pha theo thời gian. Nếu những người cầm bút không nỗ lực làm việc và tạo ra các tác phẩm có giá trị thì nhiều thế hệ sau sẽ không biết được cha ông đã từng trải qua một quá khứ bi kịch, hãi hùng như thế nào dưới thời cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhưng anh Bùi Ngọc Tấn nói đúng: Phải trung thực khi cầm bút. Chỉ với sự trung thực, lòng nhân ái và trách nhiệm xã hội, thì các tác phẩm tạo ra mới tồn tại và được quý trọng qua mọi thời gian.

Ngày 9/4/2012
© 2012 Lê Diễn Đức  - RFA Blog

Đọc Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn

Chuyện Kể Năm 2000 của tác giả Bùi Ngọc Tấn ra mắt độc giả đã lâu.

Gần đây tôi được tặng bản dịch của quyển này qua tiếng Anh, A Tale For 2000, dịch giả là Đào Phụ Hồ, ấn hành tại Little Saigon vào mùa Thu năm 2010. Sách dày 704 trang.

Bản dịch dễ hiểu, giọng văn lưu loát, uyển chuyển làm tôi có cảm tưởng tôi đang đọc một quyển truyện tiếng Anh chứ không phải bản dịch. Đây là một quyển sách rất khó dịch, dịch giả phải đương đầu với tiếng lóng của người ở tù, tiếng lóng trên hè phố, giọng địa phương, cách xưng hô giữa người kể chuyện (hắn) và các nhân vật khác (ông, anh,) và tên của những cây cỏ dại hoang trong rừng núi. Tác giả là người thích đọc truyện ngoại quốc nên ông hay nhắc đến tên các tác giả và tác phẩm ngoại đã được phiên âm ra tiếng Việt cho nên dịch giả cũng phải vật lộn để tìm hiểu tác giả nói về ai, vấn đề gì, ẩn dụ gì để dịch cho đúng. Quả là gian nan. Vặt đi một vài lỗi nhỏ nhặt rải rác trong truyện thì đây là một bản dịch rất công phu. Sau khi tôi đọc bản tiếng Anh, dù rất hài lòng với bản tiếng Anh vì dịch giả đã làm việc rất cẩn trọng đầy tâm huyết, tôi đọc lại bản tiếng Việt, để chiêm nghiệm phản ứng của chính tôi đối với bản chính và bản dịch.

Bùi Ngọc Tấn sinh ngày 3 tháng 7 năm 1934 ở Hải Phòng. Tiểu sử của ông đã được đăng trên blog của ông, như sau:

Bố ông làm chủ tịch xã và chủ tịch mặt trận Liên Việt huyện Thủy Nguyên khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Năm 1947 Thủy Nguyên bị quân Pháp chiếm đóng ông theo bố mẹ tản cư lên Bắc Giang, Thái Nguyên và tiếp tục học văn hóa. Thi tiểu học, ông đỗ đầu liên khu Việt Bắc. Suốt thời gian học trung học, ông được học bổng toàn phần. Năm 1954, ông vào đội Thanh niên xung phong tiếp quản Thủ Đô. Cuối năm 1954, ông từ chối đi học kỹ thuật ở nước ngoài, về báo Tiền Phong (Trung Ương Đoàn Thanh Niên Lao Động Việt Nam) làm phóng viên. Cuối năm 1959, ông chuyển về báo Hải Phòng. Tháng 11 năm 1968 ông bị cáo buộc tội “Tuyên truyền phản cách mạng” và bị đưa đi tập trung cải tạo cho đến tháng 4 năm 1973. Thất nghiệp 2 năm, đến tháng 5-1975, nhờ sự giúp đỡ của ông Hoàng Hữu Nhân, tổng cục trưởng Tổng cục Thủy Sản, nguyên bí thư thành Uỷ Đảng Cộng Sản VN thành phố Hải Phòng, ông Tấn được đi làm nhân viên văn phòng Quốc Doanh đánh cá Hạ Long và nghỉ hưu từ tháng 5 -1995 cho tới hôm nay. Trong thời gian thất nghiệp ông đã làm rất nhiều nghề: Bốc vác, thợ sắt, đi buôn, kéo xe bò và cả… viết chui để kiếm sống.

A Tale For 2000 dày 704 trang, in thành một quyển và chia làm hai phần. Phần I nói về thời gian ở trong trại tập trung cải tạo từ năm 1968 cho đến 1973 của Nguyễn văn Tuấn, người kể chuyện có dáng dấp của tác giả. Phần II nói về đời sống của Tuấn sau khi thoát tù. Nhân vật đã vất vả kiếm sống, tìm cách minh oan, cố gắng khôi phục danh dự, và xin phép được làm việc theo đúng khả năng nghề nghiệp của mình, viết văn. Thời gian này kéo dài từ năm 1973 cho đến năm 1975, cuối cùng Tuấn được cấp giấy phép lao động, không phải viết văn, mà đi làm cho một công ty hải sản.

Năm 1968 là một thời điểm đặc biệt. Ở Hoa Kỳ, giới thanh niên biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam và phụ nữ cởi áo nịt ngực ném vào lửa đốt đòi quyền bình đẳng. Ở Trung quốc, Mao Trạch Đông phát động phong trào thanh lọc tư tưởng bài trừ văn hóa phản động. Nhà văn Yu Hua, cách đây vài năm, trong quyển Brothers (Anh Em) đã phản ảnh hoàn cảnh biến động lúc bấy giờ bằng cách cấu tạo nhân vật Song Gang, đã từng là anh hùng lao động Chủ Nghĩa Xã Hội Trung Quốc, bị người ta vu oan là phản cách mạng nên bị bỏ tù, và vợ ông bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Hứa sẽ đón vợ lúc xuất viện ở bến xe buýt nên Song Gang  trốn tù và bị Hồng Vệ Quân giết chết trước khi đến bến xe. Việt Nam, lúc bấy giờ, còn nằm trong quỹ đạo của Trung Quốc nên cũng áp dụng chính sách thanh lọc nói trên. Trong Chuyện Kể Năm 2000, Nguyễn văn Tuấn, tương tự nhà văn Bùi Ngọc Tấn, con của một gia đình cách mạng có uy tín, từ chối đi học ở nước ngoài, ở lại để viết văn phục vụ quốc gia và xã hội. Giống như trường hợp Song Gang của Yu Hua, Tuấn bị vu oan tội tuyên truyền phản cách mạng, tuy không có bằng chứng cụ thể cũng không bị tuyên án, anh bị đưa đi tù, lao động khổ sai. Những người bạn thân của Tuấn trong giới viết văn cũng bị điêu đứng với giới cầm quyền. Nguyễn Vũ Phương, chuyên viết kịch bản điện ảnh bị bắt không lâu trước khi Tuấn ra khỏi tù. Nguyên Bình, nhà văn, đã bị theo dõi liên tục. Người ta đặt máy thâu âm thanh để theo dõi cuộc trò chuyện của anh.

Quyển Chuyện Kể Năm 2000 là một bộ tranh chân dung, tổng hợp nhiều khuôn mặt của nhiều thành phần và giai cấp trong xã hội miền Bắc Việt Nam trước năm 1975. Tác giả Bùi Ngọc Tấn cho độc giả hàng chục bức họa truyền thần của những nhân vật cùng chịu đựng sự khắc nghiệt của tù đày với Tuấn, bạn bè và gia đình chia sẻ và giúp đỡ ông, và những bộ mặt giảo quyệt, tham lam, độc ác hay ngu ngốc của giới cầm quyền, từ anh hạ sĩ cai quản tù nhân cho đến cấp lãnh đạo thành phố. Trong khi miêu tả hoàn cảnh xã hội, kinh tế, và chính trị thời bấy giờ, tác giả đưa ra những quan điểm như sau:

Ăn cắp không nhất thiết luôn luôn là một hành động vi phạm đạo đức. Để phán đoán hành động ăn cắp người ta cần xét lại động cơ. Tuấn là nhà văn có phẩm cách, rất liêm sỉ, tuy thế ông vào tù rồi trở thành tên ăn cắp. Ông khoe học được hai tài mọn, nói dối và ăn cắp. Ông tâm sự: không ăn cắp, có thể ông không chết nhưng sẽ rất khổ sở và buồn bã. Cuộc sống trong tù rất thiếu thốn. Tù nhân làm việc khổ sai nhưng không được cho ăn đầy đủ. Thỉnh thoảng ở trong rừng họ gặp lá sắn hay khoai môn dại họ hái lá bới củ mang về trại giam để ăn thêm. Hành động này vi phạm nội qui và bị xem là ăn cắp dù đây chỉ là những thứ mọc hoang. Với Tuấn và các tù nhân, ăn cắp trong trường hợp này là một cách chống đối và qua mặt những người có uy quyền đã đàn áp họ. Điều đáng chú ý ở đây là Tuấn, cũng như Andrew Dupresne một nhân vật trong tiểu thuyết của Stephen King, là một người ngay thẳng đầy tự trọng, vì bị tù oan mới trở nên người ăn cắp.

Những người ở tù, cả hình sự lẫn chính trị, có thể không phải là người xấu. Phần lớn nghịch cành đã đưa đẩy họ vào tù. Nhiều tù nhân giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ thức ăn với những người không được thân nhân tiếp tế vì không có thân nhân hay bị bỏ rơi. Nhiều tù nhân trở nên trộm cắp hay móc túi sau khi ra khỏi tù chỉ vì đời sống quá khốn khổ và không có chỗ cho họ nương tựa để vươn lên.  Nguyễn văn Dự bị tù vì tội dấu tài liệu tôn giáo về sau đi làm nghề móc túi; Giang, con liệt sĩ, bị tù vì tội ăn cắp xe đạp về sau trở lại nghề ăn cắp xe đạp sau khi cũng làm đủ thứ nghề như Tuấn; Voòng Kỷ Mình, người dân tộc bị tù vì tội chống tham ô; Lê Bá Di là người thẳng tính và tự trọng. Ông không chịu được sự sĩ nhục của một tên tù nịnh bợ cán bộ đã đập guốc vào mặt tên nịnh bợ này. Sau đó ông bị trả thù trước sự chứng kiến của người quản trị. A Thềnh bị lính gác ngục bắn chết vì tội đi hái ớt rừng; Lý Xìn Cắm lưng cánh phản có nét mặt của Hemingway thợ lò gốm người Hoa giản dị và tốt bụng; Già Đô làm lính thợ trên tàu của Pháp vì ngưỡng mộ ông Hồ (vì ông Hồ đã từng phụ việc chăm sóc lò hơi nước) mà trở về với hy vọng phục vụ tổ quốc, bị bỏ tù vì bị vu là gián điệp sau khi ông chống tham ô thâm lạm của công. Họ là những người biết yêu thương và giúp đỡ các tù nhân khác. Còn một khuôn mặt tù khác nữa rất đáng được quí trọng là Ngụy Như Cần, tù chính trị 23 năm.

Những người ở cương vị lãnh đạo, có quyền bắt giam tù và hạ nhục người khác là những người ăn cắp có tổ chức qui mô và được che chở. Họ có thể là những người thiếu học thức và thiếu lương tâm, nhưng thừa quyền hành. Cai trị và hành hạ những tù nhân có học thức như Tuấn là ông Thanh Vân, hạ sĩ quản lý nhà tù học lớp 10 nhưng thích làm ra vẻ triết gia; Lan mặt ngựa, công an hỏi cung Ngọc, vợ Tuấn, suốt ngày khi chị chỉ còn ba ngày nữa là sinh con; ông Trần, Giám đốc sở Công an, đã dùng mưu mô xảo quyệt cho Tuấn, một người vô tội, vào tù và không cho có điều kiện làm việc, và các ông Quảng, Khuổng là Ngưu Đầu Mã Diện của ông Trần. Đây là những người dùng quyền thế nhận chìm người khác. Cuối cùng,Thưởng, người dám liều chịu khiển trách của cấp trên, đã cấp giấy cho phép lao động cho Tuấn, không hẳn là người tốt bởi vì ông ta cũng móc ngoặc tham nhũng, tuy nhiên có ít nhiều lòng nhân đạo và không hoàn toàn giả dối như ông Trần.
Trong những bức họa chân dung của Chuyện Kể Năm 2000 có hai khuôn mặt bị tù lâu năm nhất đó là Già Đô và Ngụy Như Cần. Đây là hai nhân vật mà tác giả Bùi Ngọc Tấn đã xây dựng rất công phu. Trong khi tác giả cấu tạo Già Đô bằng phương pháp hiện thưc, thì với Ngụy Như Cần tác giả đã chấm phá bởi đường nét siêu thực.

Già Đô là lính thợ của Pháp. Ông có vợ đầm, có con lai, nhưng ông bỏ tất cả để về Việt Nam phục vụ quốc gia. Ông yêu mến và lý tưởng hóa ông Hồ Chí Minh nên dù vợ khóc ông vẫn ra đi để con lại cho người vợ nuôi. Ông chống tham ô, biểu tình nên bị đuổi ra khỏi xưởng. Người ta nghi kỵ ông vì cái lý lịch làm cho Tây, nên ông bị đi tù lao động khổ sai. Không người thân, không nhà cửa, cuộc sống ở tù đã tước đọat hết tất cả những tài năng, hy vọng. Khi được thả ra khỏi tù không hộ khẩu, không tiền, không nghề nghiệp ông sống lang thang trở nên mất trí và chết ở góc đường, xác vô thừa nhận.

Ngụy Như Cần là người miền Nam bị tù vì người ta bảo là ông phản cách mạng. Người ta đồn ông là trùm gián điệp của Mỹ hay của Pháp, và bị tù hai mươi ba năm. Ở trong tù ông bẫy lợn rừng, ông chăm lo bảy ao cá sắp theo hình bậc thang, cá được dùng để thêm vào món ăn cho cuộc sống thiếu thốn đói khổ của người tù, ông bắt hằng trăm con rít bằng chiếc đũa để cán bộ ngâm rượu. Ngụy Như Cần có tài thu phục thú vật. Ông nuôi một con khỉ, dạy nó biết nấu cơm hái rau, làm bạn với ông. Con khỉ bị cán bộ bắt đem về để cho con cháu chơi. Ông nuôi một con trăn dạy cho nó nghe hiểu ông và hễ thấy loài người thì trốn vào rừng. Ông nuôi hai con tắc kè dạy chúng diễn trò. Và đặc biệt ông nuôi một con cá chép rất to bề dài hơn một mét, biết trồi lên để ông vuốt ve. Sau hai mươi ba năm ở tù, khi được thả ra ông vào rừng treo cổ tự tử chết, có lẽ để tự mình tránh số phận của Già Đô. Sau khi Ngụy Như Cần mất rồi con cá chép bị một cán bộ bắn chết để ăn thịt.

Già Đô là khuôn mặt điển hình của những người hết lòng tin tưởng vào chế độ rồi bị chính chế độ mà họ tin tưởng chà đạp. Họ bị tù tội chỉ vì bị nghi ngờ. Là lính thợ của Pháp, đi nhiều nơi trên thế giới, từng sống ở Marseille, Già Đô khổ vì cái lý lịch của ông. Qua Già Đô tác giả cho thấy một người yêu nước, có thể đóng góp bằng tài năng kỹ thuật đã bị bạc đãi và bỏ rơi. Ông luôn luôn lo sợ sẽ bị chết trong tù mà không hề dự đoán được cuộc sống sau khi ra khỏi tù lại càng đáng sợ hơn.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn khi cấu tạo nhân vật Ngụy Như Cần đã làm một công việc đáng quí. Ông xây dựng một mẫu người miền Nam, có nhân dạng và nhân tính, thông minh và tự trọng, chứ không phải là ác quỷ hay dã thú ác độc ăn gan uống huyết người khác như một số tác giả trước đây. Có thể nói những nhân vật xấu trong Chuyện Kể Năm 2000 như Lan Mặt Ngựa, Thanh Vân, hay ông Trần đều là những người ở vị trí lãnh đạo, và nhất là giới Công an. Những nhân vật này lạm dụng quyền hành và của công. Họ bỏ tù những người ăn cắp trong khi chính họ là những người ăn cướp có giấy phép. Độc giả có thể bảo rằng Tuấn thiếu thiện cảm với những nhà lãnh đạo này là lẽ tất nhiên bởi vì họ đã trực tiếp hỏi cung, thi hành sự trừng phạt, bắt Tuấn phải chịu khuất phục trước quyền uy của họ; thì ở trường hợp của Ngụy Như Cần, hai vị cán bộ đã bắt con khỉ và bắn con cá, là những người lãnh đạo tàn nhẫn, đều không có liên can với Tuấn, lúc ấy đã là người tự do. Bắt con khỉ là tước đoạt tài sản của người tù, trong trường hợp này con khỉ không chỉ là tài sản mà còn là người thân. Bắn chết một con cá, lạ hiếm vì to lớn dị thường, chỉ để ăn thịt khi không đói kém, là một hành động dã man. Tác giả để Ngụy Như Cần tự chọn cho mình cái chết khi được trả tự do để tự bảo vệ phẩm cách không bị nhận chìm xuống tận cùng đáy của xã hội như nhân vật Già Đô. Cả hai nhân vật Già Đô và Ngụy Như Cần đều biểu lộ lòng can đảm trong sự chọn lựa giữa sự sống và cái chết.

Nếu đừng bị tù và trù dập, Bùi Ngọc Tấn rất có thể là nhà văn theo chủ nghĩa lãng mạn. Những đoạn văn hay và cảm động nhất là những đoạn Tuấn nói về tình yêu với Ngọc, vợ ông, đặc biệt là cảnh hai vợ chồng tắm dưới ánh trăng ở một nhà kho trong rừng. Nếu ngại chiều dài hơn 700 trang của quyển sách xin độc giả nên đọc ít nhất là chương 26 và hai chương cuối là những chương rất tuyệt vời.

Dù chất chứa rất nhiều chi tiết tương tự như cuộc đời của tác giả, đây không phải là hồi ký mà là tiểu thuyết. Với dạng tiểu thuyết tác giả có thể sáng tạo linh động hơn, không cần phải chính xác với từng chi tiết nhỏ, ông có thể thêm vào một nhân vật là hiện thân của hai hay nhiều nhân vật khác có thật trong đời sống. Cái ưu điểm lại trở thành nhược điểm vì nó làm giảm đi cái sức mạnh của sự thật khi độc giả tự hỏi đâu là sự thật chỗ nào là hư cấu. Để được xuất bản quyển sách vẽ lại bộ mặt của xã hội, kinh tế và chính trị, của miền Bắc, cuộc sống trong tù, cái khổ của tù nhân còn những điều gì ông đã không thể viết? Những điều Bùi Ngọc Tấn viết về ngục tù của chế độ độc tài tuy không phải là điều mới lạ, không bạo động bằng Trung quốc qua ngòi bút Yu Hua, không ác độc bằng chế độ Trujillo như Junot Diaz diễn tả, tuy nhiên sức thuyết phục của ông rất lớn vì ông là người đã sống suốt đời với chế độ và đã từng tin tưởng yêu thương chế độ này. Quan trọng nhất, ông là một nhà văn can đảm vì dám nói những điều không đẹp về một chế độ tù lao động khổ sai đã giam cầm ông và muôn vàn người lính của miền Nam Việt Nam sau năm 1975.

Nguyễn Thị Hải Hà

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 29 other followers