Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Nguyễn Thị Minh Phương

(Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đang ở Boston theo lời mời của Trung tâm William Joiner (WJC) Cùng đi với anh có Họa sỹ Phan Cẩm Thượng. Theo lời anh Tấn thì anh Nguyễn Bá Chung ở WJC đã “dấm” anh Phan Cẩm Thượng cho anh từ mấy năm nay. Bởi anh Chung biết, nếu phải đi một mình nửa vòng trái đất thì chưa chắc anh Tấn đã dám “dấn thân”. Bài viết dưới đây là nguyên văn một lá thư điện tử của chị Nguyễn Minh Phương – Nghiên cứu sinh tại Đại học Massachussetts. Chị viết ngay sau khi nghe anh Tấn thuyết trình tại cuộc hội thảo do WJC tổ chức. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc để hiểu thêm về tác giả Chuyện kể năm 2000)

Boston, 24/04/2009

Tôi thường có thói quen “google” bất kỳ một nhân vật nào tôi chuẩn bị gặp hoặc đã gặp mà chưa rõ về họ. Lần này tôi không may mắn: không tìm được cuốn sách của Bùi Ngọc Tấn trên mạng Internet. Vì thế, tôi không có bất kỳ một nhận thức nào về con người ông, không hay biết về số phận long đong, cái kiếp tù đày của ông, ngoài một chút thông tin ông là tác giả của cuốn sách “Chuyện kể năm 2000”, chưa xuất bản đã bị cấm.

Năm 2000, thiên niên kỷ mới đến với tôi với quá nhiểu sự kiện (trong tử vi có nói, tôi sẽ “bước lên bậc thang mây”) vì thế, những câu chuyện “bung ra” của thời mở cửa không còn hấp dẫn tôi như hồi cuối thập kỷ 80, và đầu những năm 90, trong những ngày sống ở Úc khi tôi cặm cụi đọc “Hoa xuyên tuyết” của Bùi Tín, “Tiểu thuyết vô đề” của Dương Thu Hương, “Hoa địa ngục” của Nguyễn Chí Thiện, chủ yếu  để thỏa chí tò mò. Tôi nghĩ, chắc lại một ông bất mãn nào đó “tát nước theo mưa” đánh bóng tên tuổi trong phong trào đổi mới… Và nước Mỹ đón chào tôi, tiếp theo là những năm tháng lận đận, long đong, lang thang xứ người. Tôi không mấy bận tâm đến “chuyện kể năm 2000” vì chuyện của riêng mình cũng đã quá chật trong bộ nhớ tí tẹo của tôi.

Khác với những gì tôi hình dung về ông, một gã bất mãn, phong trần ở độ tuổi 50, ngông nghênh, chỉ thích chửi bới thiên hạ như Dương Thu Hương (trước đây tôi có cảm tình với người đồng hương này, sau khi đọc xong “đỉnh cao chói lọi” tôi thấy bà ta thấp hèn và kém cỏi, nhưng thôi, sẽ nói về cuốn sách ngớ ngẫn này vào dịp khác), trước mặt tôi là một người đàn ông giản dị, khiêm nhường, vẻ mặt hiền lành, có phần “cam chịu”, như trong bài thuyết trình của ông sau đó ông gọi chính ông là người “cam chịu lịch sử”.

Tôi tìm đến từng học giả của chương trình nghiên cứu về văn hóa, văn học, nghệ thuật do Quỹ Rockerfeller tài trợ thông qua hoạt động của Trung Tâm William Joiner, trung tâm nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả xã hội, để chào xã giao. Buổi sáng quá bận rộn nên chỉ đến giờ ăn trưa, tôi mới có dịp làm quen. Ông đáng tuổi cha chú vì đã thuộc lớp người “xưa nay hiếm” nên tôi gọi ông bằng BÁC, xưng cháu, nhưng trong nụ cười hiền của ông có cái gì rất thuần khiết, trong sáng, và rất trẻ, ông xưng ANH với tôi và với phong cách “rất Mỹ” tôi hỏi ông thích tôi gọi bằng ANH hay là CHÚ… Tôi gọi ông là “anh Tấn”.

  IMG_4049

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và tác giả bài viết
Tôi rất vui được ngồi cạnh ông, cùng cười khi nghe Phan Cẩm Thượng tỉnh bơ kể chuyện “phụ nữ không có vú” sống trong thời kỳ “không có tình dục” và nỗi ẩn ức, sự bùng nổ của cái món nảy sau nhiều năm bị dồn nén (Trộm vía, chắc PhCTh cũng có ẩn ức nên mới vào chùa vẽ tranh, thỉnh chuông, nghiên cứu nghệ thuật dân gian, kể ra “ẩn ức” như vậy cũng giúp ích cho đời, vì nếu không, làm sao có những tác phẩm nghệ thuật cho chúng ta được thưởng thức). Ông cười khùng khục bình luận “làm sao mà PhCTh lai quan sát được những phụ nữ phẳng lì khi họ đang tắm”. Ông bảo sẽ có một tập truyện nữa ra đời gọi là “Những câu chuyện của Phan Cẩm Thượng”, điều này làm tôi rất ngỡ ngàng, vì tôi biết các nhà văn ít khi phục tài người khác… tôi đã có kinh nghiệm nghe các nhà văn trẻ chê bai lẫn nhau, làm cho hình ảnh lung linh vể các “thiên tài văn chương” của nước nhà đã sụp đổ trong tôi. Nụ cười hiền của ông, và câu nói “cái thằng này nó quậy lắm” kèm theo “cái thằng này tốt lắm, không có nó thì anh không thể đi sang đây được”, làm tôi rất thích nói chuyện với ông, đơn giản vì ông không giống các nhà văn tôi đã gặp, ông là NGƯỜI.

Tôi hỏi ông vể chuyến bay từ Hà Nội sang đây, một câu xã giao thông thường mà người Mỹ hay hỏi “Chuyến bay của bạn ra sao?” và họ chờ đợi một câu trả lời là “Cám ơn bạn, chuyến bay tuyệt vời”. Nhưng câu trả lời của ông làm tôi sửng sốt, bối rối vì tôi bay hàng triệu km không biết mệt mỏi, vì tôi không tật bệnh, vì tôi chưa từng phải ở tù. Ở cái tuổi “bước lên bậc thang mây” của tôi, thì ông lại bị lang thang hết nhà tù này đến nhà tù khác. Tôi cảm thấy mình như có lỗi với ông, vì số phận quá nuông chiều tôi, dẫu Thượng đế đã và sẽ bắt tôi phái chịu cảnh mù lòa, thì tôi vẫn là người quá may mắn, quá hạnh phúc.

“Nhất định phải đến nghe anh Tấn nói chứ!” Ông bảo tôi thế. Nhất định rồi! Tôi rất háo hức, nhưng đến khi nghe ông nói, tay tôi cứ run bần bật, ghi chép câu được câu mất vì tôi quá xúc động. Tôi mới chỉ bị cái bộ máy đó nó “dần cho một trận” và tước đoạt quyền lao động trong một thời gian ngắn, mặc dù không chính thức và tôi có thể kiện bất cứ lúc nào, vậy mà tôi đã thấy kiệt sức. Không được đi làm ở tuổi 39 như ông vào cái năm 73, thì ông làm sao mà sống được. Năm 2003, tôi đã bị Trường BKHN giữ tiền lương của tôi, nhưng tôi thiếu gì cách kiếm sống, không những thế, tôi sống rất đàng hoàng. Từ đó đến nay, ông sống bằng gì? Tôi cứ băn khoăn làm sao ông có thể sống được với nỗi ám ảnh, với những hồi ức khó chấp nhận của những năm tháng mất tự do. Tôi luôn nghĩ đến câu nói của GS T. rằng “điều tôi chán nhất là từ sáng đến tối phải viết một điều là nhận cái tội mà mình không hề làm ra”. Tôi quen được tự do suy nghĩ, nên nếu không được nghĩ một cách tự do chắc tôi hóa điên. Tôi quen với việc mọi sự phải rạch ròi, minh bạch, nên việc bỏ tù không xử án là một điều không thể chấp nhận được. Thật là bi kịch, vì tôi không thích hợp với hệ thống đó. Lạ thay, người như ông, bình thản, chấp nhận số phận, nhìn lại quãng đời đau thưong, ghi chép, kể lại cho mọi người, nhẹ nhàng như tôi kể chuyện đi làm ở bệnh viện cho các con tôi nghe.

Tôi rùng mình, một luồng khí lạnh buốt chạy qua cơ thể tôi khi ông nói: “Bỏ tù dăm ba người, chục người, trăm người vài năm, chục năm có ý nghĩa gì đâu so với việc buộc thủy lôi vào tàu quân sự, chỉ một phát hiện nhỏ từ phía bên kia là cả con tàu phải thành cát bụi và chìm vào biến khơi”. Tôi cứ băn khoăn làm sao cũng là người mà số phận của những người dân mình nó lại bé nhỏ hơn cả con sâu cái kiến. Và ông, người ngồi trước mặt tôi, lớn lao là thế, nhỏ nhoi là thế, hiền lành là thế, nhân hậu là thế, mà sao số mệnh lại long đong thế? Phải chăng có kiếp trước? Phải chăng cụ Nguyễn Du vẫn đúng “chữ TÀI liền với chữ TAI một vần”.

Cả chiểu nay, tôi lang thang trên đường phố thanh bình, nắng nhẹ như Hà Nội mùa thu, tôi đi mua quần áo mới, uống café bên bờ sông Charles, nhưng trong lòng nặng trĩu những xúc cảm không dứt được về thân phận con người, mà ông là đại diện của những người “khổ vì trí tuệ” (Tên một cuốn sách của nhà văn Nga). Tôi muốn được nói chuyện thêm với ông. Tôi rất vui được ông khen là con gái Bắc Ninh “mỏng mày hay hạt” và rất thông minh… Tôi được nghe những câu như thế nhiều lần. Nhưng tôi rất thích được nghe câu đó của ông, có lẽ bởi vì những nhọc nhằn, gian khó, tù đày không làm mất đi cái tình người, tính người trong ông, cái nhân hậu, dí dỏm vẫn còn nguyên đó… Tôi nhớ đến bố tôi, nhớ lắm cái gương mặt cam chịu của ông. Phải chăng, ông cũng thuộc loại người “cam chịu lịch sử” như nhà văn Bùi Ngọc Tấn nói hôm nay, cho dù ông chẳng bị đi tù.


Nguyễn Thị Minh Phương (nguồn: http://guihuongchogio.vnweblogs.com/post/4523/151527)

 
Advertisements