Bùi Ngọc Tấn và Nguyễn Quang Sáng

Đầu những năm 60 thế kỷ trước, khi chúng tôi đã chuyển từ Hà Nội về Hải Phòng, một buổi sáng Chủ nhật đầu hè có tiếng chân bước lên thang gác nhà tôi ở. Tiếng chân rón rén, rụt rè và một cô gái hiện ra trên lan can. Cô nhìn vào cửa phòng tôi để mở. Một khuôn mặt lạ tôi chưa gặp bao giờ. Có thể cô nhầm nhà hay đang tìm một ai đó. Dừng lại trước cửa, cô lễ phép hỏi tôi:

  • Thưa anh, có phải nhà chị Bích đây không ạ?

Cô gái chưa một lần đến nhà tôi. Đoán được sự phân vân của tôi, cô tiếp:

  • Chị Bích làm tài vụ ở Công ty may.
  • Thế thì đúng.

Tôi đứng bật dậy, mời khách vào. Đó là một cô gái tuyệt đẹp. Cho đến lúc ấy, tôi chưa thấy ai đẹp như vậy. Một vẻ đẹp của người vùng Vịnh với nước da nâu, đôi mắt to, cặp lông mày thanh và cong cùng nụ cười rất tươi. Mới khoảng mười bảy, mười tám, ở cô toát ra một vẻ hồn nhiên, tin cậy của tuổi trẻ. Chưa kịp giới thiệu thì vợ tôi đã xách một túi thức ăn ở chợ về.

  • Ôi! V.

Qua câu chuyện của hai người tôi biết V. là nhân viên của Sở Tài chính theo dõi về tài chính nơi Công ty vợ tôi làm. Từ đấy, cô năng lại nhà tôi và trở thành người bạn của cả nhà, nghĩa là bạn của vợ chồng tôi và hai đứa con nhỏ. Cô rất quý cháu Giáng Hương và nhiều lần xin phép vợ chồng tôi cho Giáng Hương lên phố Phan Bội Châu ngủ với cô. Giáng Hương thủa nhỏ là đứa bé rất đáng yêu và dễ hòa nhập. Sáng hôm sau hai cô cháu lại đèo nhau về nhà tôi như hai mẹ con, tươi tắn và hạnh phúc. Hai vợ chồng tôi rất quý cô và rất muốn cô sẽ là vợ của một người bạn thân thiết nào đó của chúng tôi. Tôi bí mật ngỏ ý với Đ.A.B. (hai người đã nhiều lần gặp nhau ở nhà tôi). Đ.A.B. một người có rất nhiều mối tình vắt vai nhưng chưa đứng số. Vợ chồng tôi hi vọng sự việc sẽ thành công, Đ.A.B. sẽ gật đầu sái cổ nhưng sau một đêm suy nghĩ, Đ.A.B. bảo tôi:

  • Cô ấy trong sáng quá. Em không xứng đáng.

Ít ngày sau, Nguyễn Quang Sáng từ Hà Nội về và gặp V. ở nhà tôi. Sáng nhận xét:

  • Một vẻ đẹp hoàn chỉnh, tiêu chuẩn hóa. Từ dáng người đến mái tóc, cách nói chuyện và nhất là sự trong sáng của một thiên thần.

Tôi ngỏ ý với Sáng là muốn được giúp đỡ anh nếu anh có ý định nào đó… nhưng anh lắc đầu:

  • Chậm rồi, tháng sau đi B rồi. Còn thời gian đâu mà gặp gỡ tìm hiểu nhau. Chỉ mong cô ấy lấy được người chồng xứng đáng.

Từ chuyện làm mối se duyên không thành ấy, tôi đã có bài thơ mười câu không có đầu đề:

Gặp em chậm như bao việc trên đời này chậm

Khi chưa có em đời là khát vọng.

                     ***

Lẽ ra tình chúng ta cháy bùng ngọn lửa đại dương

Giữa trời xanh một cây xanh rợp lá

Không được nảy mầm trọn đời hạt nằm trong vỏ

Ai biến lửa nhà chài thành lửa hải đăng.

                    ***

Khát vọng hóa thành em thế cũng đủ rồi

Anh chỉ xin em một chút buồn mỗi lúc em cười

Cầu em đi trọn đường em hạnh phúc

Có không em cuộc sống lần hai.

Gần bốn mươi năm sau gặp Nguyễn Quang Sáng ở Đại hội Nhà văn, anh vẫn nhớ chuyến về Hải Phòng ngày ấy và cười, nói theo kiểu rất “anh Hai Nam Bộ”:

  • Dạo ấy thấy gò má cô ấy có một nốt ruồi. Mình lại sắp đi vào vùng bom đạn, nên sợ. Như bây giờ vào hiệu, tẩy một cái là xong.

Tôi không cãi lại anh, không đính chính rằng cô V. không có một nốt ruồi nào ở gò má cả. Nếu có thì ở trên má của một cô nào khác chứ không phải của cô bạn vợ chồng tôi.

14

Ảnh Bùi Ngọc Tấn và Nguyễn Quang Sáng đăng trên báo Ẩm thực Việt Nam

14

Từ trái sang: Nguyễn Quang Sáng, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Trọng Chức, chủ nhà Nguyễn Duy và Nam Dao.

ĐỌC “TUỔI THƠ HÀ NỘI NGÀY XƯA” TƯỞNG NHỚ NHÀ VĂN LÊ BẦU

Tuoi tho Ha Noi ngay xua

 Sau khi công bố Di cảo Lê Bầu, chúng tôi đã nhận được thư của nhà văn Phan Duy Kha viết Đọc “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” tưởng nhớ nhà văn Lê Bầu. Xin được trích dẫn tại đây để cung cấp thêm tài liệu cho những ai muốn biết thêm về nhà văn Lê Bầu yêu quý của chúng ta.
Tôi quen biết nhà  văn Lê Bầu từ dạo ông còn ở số nhà 105 phố Phùng Hưng. Đó là một căn phòng rộng chừng 12 mét vuông, được ngăn đôi bằng cót ép. Ông một nửa, nhà thơ Huyền Tâm tác giả “Lúa tháng năm kén tằm vàng óng” một nửa. Nhà không có  buồng tắm cũng chẳng có khu vệ sinh. Ngoài chiếc giường đơn và cái bàn làm việc chất đầy sách báo thì không gian trong nhà chỉ còn đủ để giải một chiếc chiếu đôi. Bạn bè khách khứa đến chơi, ông đều tiếp trên chiếc chiếu đôi này. Nghe nói có lần cơ quan nọ tặng ông một chiếc quạt cây, nhưng nhà chật, để trong nhà thì quạt thốc hết gió ra ngoài, ông phải để ngoài hè phố Phùng Hưng cho thổi thốc vào.Thấy bất tiện quá, một thời gian sau lại phải gửi về quê. Ít lâu sau, khu nhà 105 Phùng Hưng được nhà nước lấy lại để làm bảo tàng hay di tích cách mạng gì đấy (Nhà 105 nguyên trước đây là Trụ sở báo Tin tức, cơ quan ngôn luận của Đảng thời kỳ trước cách mạng), ông được phân một căn hộ ở tầng 2, khu tập thể phố Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng. Căn hộ rộng đến 50 mét vuông, đối với một hộ độc thân như ông thì quả là rộng. Từ khi ông về khu tập thể phố Thanh Nhàn, tôi hay đến thăm ông hơn. Ông vẫn cứ  lọ mọ một mình, nấu một bữa, ăn cả ngày. Tự đi chợ mua lấy rau, dưa, gạo thịt …cho mình. Có một lần tôi hỏi:
– Sao nhà rộng thế này mà anh không đón một hai cháu đến đây ở với cho vui, nó phục vụ cơm nước cho?
Ông trả lời:
– Nó phục vụ mình, hay rồi mình lại phải phục vụ lại nó. Tôi quen sống một mình từ xưa rồi, tự mình phục vụ lấy mình thôi.

PhanDuyKha

Biết rằng, mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, chẳng ai giống ai, tôi không hỏi gì thêm.
Nhà văn Lê Bầu là người của công việc. Lần nào đến chơi, tôi cũng thấy ông ngồi bên chiếc máy chữ cổ lỗ. Sau này, khi về KTT Thanh Nhàn ông được bạn bè tặng cho một chiếc máy vi tính, ông bắt đầu làm quen với vi tính, nhưng máy cũng trục trặc hỏng hóc luôn. Dù rất bận công việc, nhưng mỗi khi có bạn bè đến chơi, ông đều xếp công việc lại, “làm chén nước đã” . Ông có thói quen uống trà  đặc,  pha trong chiếc ấm da lươn bé tí, còn chén thì bằng cỡ “hạt mít” . Cứ thế, anh em ngồi đối ẩm hàng tiếng đồng hồ. Ông thường bảo, cứ thong thả, công việc thì hàng ngày, lúc nào mà chẳng được. Ông có giọng nói sôi nổi, trẻ trung như của tuổi thanh niên, với cái cười rất hào sảng. Có một lần, tôi đang ngồi đối ẩm với ông thì có chuông điện thoại. Ông xin lỗi, rồi bắt máy, trả lời. Chỉ thấy ông thoải mái “Không sao, không sao!”, chả hiểu chuyện gì. Nói chuyện xong, ông mới nói lại với tôi. Chả là, có một tờ báo trong Nam đăng một bài viết của ông. Họ muốn đăng ảnh ông kèm với vài dòng “Lý lịch trích ngang”, mới hỏi ông về năm sinh. Ông nói ông sinh năm 1930, nghe xong cô biên tập viên, là một nhà báo trẻ mới ồ lên sửng sốt: Thế thì bác ngang tuổi ông nội cháu, thế mà cháu không biết lại gọi bằng anh. Cháu xin lỗi bác nhé. Cái câu “Không sao, không sao” là ông trả lời cho lời xin lỗi này. Ngồi nói chuyện với nhà văn Lê Bầu, ai cũng lây cái thoải mái, vui vẻ, cởi mở, sảng khoái của ông. Cứ tưởng chừng như mọi khó khăn, rắc rối, phức tạp trong cuộc sống đời thường không mảy may ảnh hưởng đến ông.
Một lần, chúng tôi được Tòa soạn Tạp chí TGTT bố trí cho đi du lịch Hà Khẩu (Trung Quốc). Chúng tôi đi chơi là chính. Riêng tôi mua được một chiếc đài Tàu, to bằng cái bật lửa ga, dùng pin, giá đâu 10 tệ (Khoảng 20 ngàn tiền Việt), về cắm vào tai nghe được mấy ngày thì vất. Các anh giỏi tiếng Trung như Lê Bầu, Dương Danh Di, Nguyễn Hải Hoành, Thái Hư thì đi lùng mua sách. Lê Bầu cõng về một ba lô đầy sách, mua hết đâu 600 tệ (khoảng một triệu hai trăm ngàn đồng tiền Việt, một khoản tiền lớn lúc ấy). Ông bảo đây là lương khô, dùng để “bán ăn dần”. Tất nhiên,  không phải là về đem sách ra chợ  trời bán, mà là đem về đọc, tìm nhặt trong đó những truyện ngắn hay, những bài viết lý thú  thì dịch gửi cho các báo, tạp chí mà ông cộng tác. Văn hóa văn nghệ thì không bao giờ cũ. Với số sách đó, ông có thể để dành, dịch trong hàng chục năm. “Bán ăn dần” là như thế (trong bài Thay lời giới thiệucủa nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết cho cuốn Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa, Bùi Ngọc Tấn có nhắc đến một chuyến đi Trung Quốc của Lê Bầu, thì chính là chuyến đi này).
Cuộc đời Lê Bầu có nhiều long đong, trắc trở. Bạn bè một thuở của ông, những Lê Mạc Lân, Hứa Văn Định, Nguyên Bình, Vũ Bão, Bùi Ngọc Tấn, Dương Tường, Châu Diên… một lớp nhà văn, nhà báo tài hoa, nhưng chẳng ai được suôn sẻ. Thậm chí có người như Bùi Ngọc Tấn còn bị ngồi tù đến mấy năm trời, tù không án, bản thân người trong cuộc cũng  chẳng biết vì tội tình gì mà bị tù giam cả. Có người phải bán máu để duy trì cuốc sống (bán máu theo đúng nghĩa đen của từ này). Lê Bầu thì có lần bị người ta bí mật khám xét chỗ ở (lúc ông tá túc ở đền Ngọc Sơn), vì tình nghi ông dính líu chính trị chính em gì đấy. Ở một đất nước mà nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, ở đâu cũng có thế lực thù địch thì những nhà văn, nhà báo không chịu nịnh hót, quỵ lụy cấp trên, những người dám nói thẳng, nói thật như các ông, thường bị  vu khống, chụp mũ này nọ là điều không tránh khỏi. Trong những chuyến đi tập thể, những lúc rảnh rỗi, trà dư (chứ không có “tửu hậu”) Lê Bầu thường kể chuyện mình, chuyện bạn, những câu chuyện về nhân tình thế thái, lắm khi cười ra nước mắt. Chúng tôi thường khuyên ông: Cuộc đời anh có nhiều câu chuyện lý thú lắm, ý nghĩa lắm, anh phải viết Hồi ký đi. Ông bảo, mình cũng có ý định đó. Đang chuẩn bị. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Hồi ký của Lê Bầu, đọc sẽ thú vị lắm đây.
Chờ mãi mà không thấy Hồi ký Lê Bầu trình làng. Không phải ông lười viết mà vì ông quá bận. Bận dịch sách, viết báo trang trải cho cuộc sống hàng ngày. Ông nặng gánh lắm. Bạn bè  thân thiết ví ông như một cái đầu tàu, ì ạch kéo đến 12 toa tàu. Tôi là thế hệ sau, nên không dám hỏi ông những điều có tính chất tò mò đời tư  ấy. Nhưng chỉ biết rằng, ông làm việc, viết lách là để đảm bảo cuộc sống, cho sự tồn tại của  12 con người, gồm mẹ ông, vợ con ông và các cháu nội ngoại, hiện đang sinh sống ở vùng quê Bắc Giang. Ông làm cật lực, làm không kể giờ giấc, vì 12 con người ấy. Viết hồi ký đối với ông như là chơi bời, khi nào rảnh mới làm. Thế rồi ông bất ngờ bị bạo bệnh (bệnh ung thư máu) không kịp hoàn thành hồi ký. Cuốn Hồi ký cuộc đời của ông, mới chỉ viết được phần đầu. Đó là phần viết về tuổi thơ ấu của ông, có nhan đề là “Dân dưới bãi” mà năm năm sau khi  Lê Bầu mất,  Nhà xuất bản Kim Đồng in ấn mới đặt tên là “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”.(1)

(1) : Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa (Lê Bầu, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 2014)

Ảnh trong bài: Nhà văn Lê Bầu (bên phải) chụp ảnh cùng tác giả Phan Duy Kha tại nhà riêng, khu tập thể Thanh Nhàn, tháng 3.2007.

Sự kiện tái bản Chuyện kể năm 2000

Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn đã được tái bản nhều lần để phục vụ nhu cầu đọc của đông đảo đọc giả người Việt trên khắp thế giới, kể cả việc dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp. Chưa có một thống kê chính thức nào về số bản in Chuyện kể năm 2000.

Tuy nhiên ở Việt Nam việc tái bản Chuyện kể năm 2000 lại là một sự kiện đặc biệt. Chưa hết hạn lưu chiểu đã bị thu hồi tiêu hủy nhưng bộ tiểu thuyết hai tập này do Nhà xuất bản Thanh niên phát hành có một nội lực riêng, không sức mạnh nào dập tắt được. Cho đến nay, 14 năm sau Chuyện kể năm 2000 vẫn được nối bản bằng nhiều hình thức đến với bạn đọc. Và cũng chưa ai có thể đưa ra con số chính xác về số lượng tập sách đang nằm trong các tủ sách gia đình.

Cuối năm 2013 đầu năm 2014, một bạn đọc yêu quý Chuyện kể năm 2000 đã bỏ tiền tái bản 200 quyển với lời đề nghị không sao chép, chỉ để tác giả ký tặng bè bạn. Đây là ấn phẩm đầy đủ nhất trong số những bản Chuyện kể năm 2000 đã được lưu hành. Không những được in theo bản gốc (không bị biên tập) mà còn được tác giả nhuận sắc thêm. Bản tiếng Pháp Conte Pour Les Siècles À Venir  do Nghiêm Phong Tuấn dịch là theo bản này.

Tập sách tái bản được in gộp thành 1 tập vẫn giữ nguyên bìa của Nguyễn Trọng Tạo, riêng bìa 4 in lại nhũng bìa sách Chuyện kể năm 2000 đã in ở các nước mà tác giả có trong tay.

ckn2000

IMG_0714

P1230632

Cuộc gặp mặt của những người bạn

Cuộc gặp gỡ xúc động nhất có lẽ là cuộc thăm hỏi của các nhà văn, nhà thơ Dương Tường, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh. Ông đã viết trong Di cảo Lê Bầu (Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa): “Tôi có mười người bạn gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ, cùng nhau trải qua bao nhiêu niềm vui nỗi buồn và không ít hiểm nguy (…). Những người bạn ấy là một phần cuộc sống của tôi, làm thành cuộc đời như vốn có của tôi. Khi viết những dòng này, năm người không còn nữa. Theo thứ tự thời gian: Hứa Văn Định, Lê Mạc Lân, Nguyên Bình, Vũ Bão, Lê Bầu.” Còn năm người nữa là Dương Tường, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh, Vũ Thư Hiên thì đang ở mãi Pari và ông là người ít tuổi nhất trong số đó. Ông đã nhiều lần nói với các bạn còn lại của ông:

– Thằng nào đi sau cùng là thằng khổ nhất đấy.

Và bây giờ ông cười:

– Có lẽ mình không phải là thằng đi chuyến tàu vét rồi.

Ông Châu Diên cười lớn:

– Thằng Văn Như Cương bị gan còn gan của mày nó sợ nên nó chơi phổi. Ha, ha.ha…

Ông cũng cười:

– Cũng tại vì mình viết về ung thư nhiều quá, gần như trong tác phẩm dài ngắn nào cũng có người bị ung thư. Nên nó chơi mình.

Xuân Khánh hỏi ông:

– Nhưng làm sao ông biết mình bị…?

– Đầu tiên là tập Chuyện kể năm 2000 của mình được một bạn đọc bỏ tiền ra tái bản. Một quyển sách in với chất liệu loại A, theo nguyên bản gốc. Sau đó Nhà xuất bản Trẻ tái bản ba tập Biển và chim bói cá, Viết về bè bạn, Người chăn kiến. Thế là tất cả sách của mình đều được tái bản. Mình có viết nhiều đâu, chỉ bốn quyển đấy thôi. Được đồng loạt tái bản cả bốn. Coi như in tuyển tập còn gì nữa. Mấy ai được như mình. Thế rồi bỗng nhiên lo: Sao lại có thể may mắn đến thế nhỉ. Cuộc đời mình toàn những rủi ro bất hạnh. Bỗng nhiên được thế này hẳn phải là điềm gì xấu lắm đây. Dạo ấy mình ho, ho ghê gớm. Một ông bác sĩ bạn đọc của mình, coi như bác sĩ của gia đình bảo mình đi chụp X – quang rồi từ phim chụp ấy ông bảo mình đi chụp cắt lớp và phát hiện ra nó. Mình bị choáng nhưng rồi xác định được. Điều lo nhất là báo tin này cho vợ. Nhìn bà vợ bé nhỏ già yếu, vất vả lo toan vì lấy mình mà khổ suốt đời, thương quá. Thật không ngờ sự việc lại rất đơn giản, bà ấy động viên lại mình: Khi sinh ra là người ta ai cũng có cái chết chờ sẵn rồi. Có lẽ đạo Phật đã giúp bà xác định chuyện sinh tử.

Và ông chuyển giọng:

– Cho đến nay mình vẫn không sao, ăn vẫn ngon miệng, thở vẫn bình thường, chỉ đau thôi. Đau nhức hai chân không chịu nổi phải uống thuốc giảm đau.

Nguyễn Xuân Khánh nói như báo trước:

– Còn phải tiêm mooc – phin nữa đấy ông ạ.

Dương Tường không nói một câu. Ông nhận thấy trên gương mặt người bạn già nỗi buồn vô hạn. Ông bảo tất cả ba người bạn đã trên tám mươi của mình:

– Có gì cần viết thì viết ngay đi. Lỡ không kịp. Ông Nguyên Hồng đấy, ông Lê Bầu đấy. Còn bao điều muốn viết, định viết rồi buông xuôi. Tôi luôn lo sợ chết mà chưa làm xong những việc phải làm. Cũng may những việc phải làm tôi đã làm hết cả rồi. Không cẩu thả, không dối trá, làm với hết sức của mình bởi có khi ông Trời còn cho mình sống nhưng mình không làm việc được nữa.

Các ông chia tay nhau và đều tự hỏi không biết có còn được gặp nhau nữa không.

IMG_0244

Câu nói “gặp nhau lần nào biết lần đấy” đã được các ông đặt ra từ lâu rồi. Nhưng hôm nay thì các ông mãn nguyện bởi bốn người “sót lại của rừng cười” lại được ngồi với nhau trò chuyện, chụp ảnh và nói với nhau những chuyện vui và những chuyện buồn.

Tiếp theo cuộc thăm hỏi của mấy ông bạn già là cuộc thăm hỏi của những tay họa sĩ “trẻ”: Đặng Xuân Hòa, Đinh Quân, Hồng Việt Dũng, Lê Quảng Hà. photo 1

Đặng Xuân Hòa là người đã minh họa truyện ngắn đầu tiên Người ở cực bên kia của ông in trên báo Văn nghệ sau gần một phần tư thế kỷ im lặng và cũng là họa sĩ đầu tiên vẽ chân dung ông mở đầu việc vẽ tranh chân dung Bùi Ngọc Tấn của các họa sĩ mến mộ. Trong tranh một Bùi Ngọc Tấn mắt mở to đăm đăm nhìn vào không trung như một câu hỏi khoan xoáy vào số phận. Đinh Quân vẽ sơn mài một Bùi Ngọc Tấn lim dim đôi mắt như đang thanh thản bay lên không trung, một thứ già Đô. Các họa sĩ Lê Quảng Hà, Hồng Việt Dũng cũng là những người đọc hầu hết tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn.DSC0308620141102_110812_Night

Cập nhật tin tiếp theo về khối u

Trong thời gian hơn 3 tháng chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn các độc giả đến thăm đều mang theo sách để xin chữ ký của tác giả (Có cả một nữ độc giả từ Bạc Liêu lên). Việc ký tặng hết tập này đến tập khác không làm nhà văn mệt mỏi mà ngược lại, giúp nhà văn thêm sức khỏe và niềm tin chiến thắng bệnh tật.

1

8

Độc đáo tuổi thơ Hà Nội ngày xưa

(VOV5)- Di cảo, hồi ức của nhà văn Lê Bầu về tuổi thơ và cuộc sống của cư dân dưới bãi sông Hồng những năm 1930.

tuoi tho ha noi ngay xua_bia1

Kỉ niệm 60 năm ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954 – 10/10/2014), Nhà xuất bản Kim Đồng vừa cho ra mắt cuốn sách “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” – tập di cảo, hồi ức của nhà văn Lê Bầu về tuổi thơ của ông – của những đứa trẻ dưới bãi sông Hồng những năm 30 của thế kỉ trước.

Lê Bầu là nhà văn, nhà báo, dịch giả có uy tín với nhiều tác phẩm được độc giả yêu mến như Thông reo, Đi thực tập, Dòng sữa trắng, Hoàng hậu Vàng Anh, Đèn kéo quân, Sáu mươi ngày đêm giữ chợ Đồng Xuân, Ngã ba cô đơn, Độc hành… và nhiều dịch phẩm như: Tể tướng Lưu Gù, Quê cũ, Thành phố hoa, Hoài niệm sói, Quỷ thành, Trở về

Bạn bè yêu quý Lê Bầu bởi sự ngay thẳng, lòng yêu nghề và sống hết mình vì bạn bè của ông.

Bạn bè thân thiết của ông không ít, nhưng tuổi thơ của ông là một khoảng bí mật vời vợi chỉ trong kí ức của riêng ông, chẳng giãi bày cùng ai. Ngay cả nhà văn Bùi Ngọc Tấn – người được coi là tri âm tri kỷ của ông cũng không hề biết về tuổi thơ của ông.

Trong lời nói đầu cuốn sách “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn chia sẻ, ông đã nhiều lần nói với nhà văn Lê Bầu là “viết hồi kí đi, bởi cuộc đời dài ngắn chẳng ai biết ra sao”, nhưng vì mải việc nên cuốn hồi kí ấy chưa được công bố thì Lê Bầu đã ra đi, mang theo lời hứa về tập hồi kí chẳng bao giờ được viết ra của ông.

Nhưng rồi, nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhận được tập di cảo của nhà văn Lê Bầu từ một người bạn, mà theo ông tâm sự là “chẳng dính dáng gì đến văn chương”.

Tập di cảo ấy được viết ra một cách vội vàng, để chờ bổ sung, hoàn thiện. Là người đọc và nhuận sắc tập di cảo này, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã phải bỏ ra nhiều công sức. Ông chia sẻ: “Rõ ràng anh mới nháp lần đầu. Khi hết một ý, anh đánh dấu phẩy, chờ những ý rồi sẽ đến. Những dấu phẩy cứ thế kéo theo nhau, có khi đến cả trang. Và khi hết “dấu phẩy”, trước khi xuống dòng, anh đánh dấu chấu chấm lửng (…) nghĩa là rồi sẽ được bổ sung thêm. Tôi dọn dẹp những chỗ đó, sao cho vẫn giữ nguyên giọng văn của Lê Bầu.”

Tập sách ra đời, những người bạn của nhà văn Lê Bầu mới có dịp hiểu về tuổi thơ của ông, một tuổi thơ nhiều gian khó ở bãi bồi sông Hồng, với những cộng đồng dân dưới bãi như tay lơ xe “anh chị”, những kẻ nghiện ngập, móc túi… Nhưng giống như đóa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, cậu bé Lê Bầu hồn nhiên sống, hồn nhiên chơi đùa, trong sáng lớn lên cùng những lời dạy nghiêm khắc của người cha ít học nhưng tính tình khẳng khái. Và có lẽ, chính vì vậy mà sau này, khi lớn lên, chịu nhiều dâu bể, Lê Bầu vẫn như cây thông giữa đời, được tất cả bạn bè kính quý.

Đọc “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”, độc giả sẽ được đắm mình trong không gian, cuộc sống của Hà Nội dân dưới bãi với những địa danh Phúc Xá, Nghĩa Dũng, An Dương, Tứ Tổng… những năm ba mươi của thế kỉ trướcNơi ấy, tập trung đủ mọi hạng người: những kẻ lưu manh, lừa lọc như chị em Bính Lớn, Bính Con, vợ chồng Cả Mốc, ông Mù… với đủ các chiêu trò; những kẻ nghiện ngập, những tay “anh chị” khét tiếng. Nhưng từ chính nơi ấy, tình người vẫn rạng ngời ấm áp: Một Tí Bủng – cầm đầu bọn đầu gấu bến ô tô, “dạy vợ” đang bầu bí bằng cách đào một cái hố bắt vợ nằm sấp bụng xuống rồi đánh mười roi; bà Cau bán nước hiền hậu, lo lắng dặn dò cậu bé Bầu tránh xa mấy đứa lưu manh; hay bác Cấn trong đội cu li – người hay quát mắng đe nẹt cậu bé Bầu nhất, sau một thời gian xa cách, tình cờ gặp cậu hôm đi thi thì dúi vào tay cậu mấy đồng hào bạc và nói bằng giọng rưng rưng: “Thất học khổ lắm con ạ!”…

long-bien

Theo nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” là một cuốn sách độc đáo bởi trong văn học Việt Nam, chưa có tác phẩm nào viết về tuổi thơ Hà Nội thị thành trước năm 1945, mà lại là viết về những đứa trẻ, những người ngụ cư dưới bãi sông Hồng thì càng hiếm có. Ngay cả những tác phẩm của nhà văn Tô Hoài, Lê Văn Chương, Nguyên Hồng hay thậm chí những tác phẩm của Tự Lực văn đoàn… những năm đầu thế kỉ cũng chỉ xoay quanh tuổi thơ Hà Nội ở nông thôn – ngoại thành, hoặc một vài nét chấm phá mờ nhạt về trẻ em thị thành.

Hãy cùng đắm mình và tưởng tượng về một góc Hà Nội xưa qua một đoạn hồi ức của nhà văn Lê Bầu: “Góc những ngã tư đường Mười khá “sầm uất”, (đường Hai Mươi rất vắng, vì chỉ có một dãy nhà trông ra sông, còn dãy phía bờ sông thường bỏ trống, không có người ở) tức là ban ngày, ban tối thường có thêm một gánh phở rong, cô quạt ngô nướng, bà bán quà vặt, xâu táo xâu khoai sọ, (khoai và táo được xâu thành từng xâu, quả lớn, củ lớn ở giữa rồi nhỏ dần về hai đầu, người mua chỉ được chọn từng xâu chứ không được chọn từng quả, từng củ) đặc biệt là có bà hàng nước hấp dẫn khách hàng bằng chiếc điếu cày, tối đến thỉnh thoảng thêm vợ chồng anh xẩm mù tới hát. Họ chỉ có một chiếc nhị hai dây cò cử làm nhạc đệm và một manh chiếu rách, trải ngồi, ngoài ra còn một chiếc chậu thau méo mó, to bằng cái mũ nồi, hoặc chiếc cơi đựng trầu để ngay trước mặt, nhận tiền “thưởng” của người nghe khi nghe đến đoạn hay, đoạn mình thích thú, hoặc của những người đã đứng ngồi nghe suốt từ đầu mà “không thưởng cũng không tiện”.”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chia sẻ: “Tôi nghĩ những người thích tập hồi kí mỏng này của Lê Bầu sẽ không chỉ là trẻ em, mà cả người lớn, những người thích tìm hiểu Hà Nội, kể cả những nhà Hà Nội học.”

Nhân dịp này, NXB Kim Đồng cũng cho ra mắt cuốn sách “Tháng ngày thương nhớ” – hồi ức của nhà văn Phạm Thắng – tác giả “Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt”… về tuổi thơ ở nội đô Hà Nội khoảng thời gian trước và sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Như bao cậu học trò nhỏ khác, cậu bé Phạm Thắng cũng có những kỉ niệm  êm đềm đáng nhớ về tuổi học trò hồn nhiên, tinh nghịch của mình ở trường ở lớp. Nhưng những điều mắt thấy tai nghe về nạn đói, về sự dã man của thực dân Pháp, phát xít Nhật… đã hun đúc trong lòng cậu học trò nhỏ lòng yêu nước, để sau này, cậu bé ấy đã trở thành một thành viên của Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt, hoạt động trong lòng địch, cung cấp nhiều thông tin mật cho Sở chỉ huy Liên khu, góp phần Giải phóng Thủ đô. Cuốn sách vì thế, cũng là một tư liệu quý, sinh động về tuổi thơ Hà Nội trước Cách mạng.

Sach ve HN - NXBKIMDONG - 2014 4

Ngoài ra, nhiều tựa sách về Hà Nội cũng được NXB Kim Đồng tái bản trong dịp này:  “Hà Nội rong ruổi quẩn quanh” của nhà văn Băng Sơn; “Thương nhớ mười hai”, “Miếng ngon Hà Nội” của nhà văn Vũ Bằng, “Sống mãi với thủ đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, “Chuyện cũ Hà Nội” của nhà văn Tô Hoài, bộ Kể chuyện Thăng Long – Hà Nội gồm 5 cuốn: Kinh đô muôn đời, Cảnh sắc Hà Nội, Kì tích chống giặc ngoại xâm, Kiến trúc ngàn năm, Danh nhân Hà Nội…/.

Thông tin về tác giả:

Nhà văn Lê Bầu (1930 – 2009). Sinh tại Khoái Châu – Hưng Yên.

Bút danh: Phan Hà, Thanh Lịch, Lê Bầu Bỉnh.

Tác phẩm chính: Thông reo, Đi thực tập, Dòng sữa trắng, Hoàng hậu Vàng Anh, Những năm tháng trôi qua, Sáu mươi ngày đêm giữ chợ Đồng Xuân…

Ngoài sáng tác, viết báo, Lê Bầu còn là một dịch giả tiếng Trung Quốc có uy tín, đặc biệt với các tác phẩm của Giả Bình Ao.

Phùng Hà

(VOV5)

Đọc Di Cảo Lê Bầu

Một hòn đá lăn xuống biển là Châu Âu đã bé đi một tí. Mỗi người là một bộ phận của toàn thể nhân loại. Một nhà thơ Anh đã viết như vậy. Điều ấy càng cụ thể hơn khi những người thân thiết của mình ra đi.

Tôi có mười người bạn gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ, cùng nhau trải qua bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn và không ít hiểm nguy. Như bố mẹ vợ con anh em trong gia đình, những người bạn ấy là một phần cuộc sống của tôi, làm thành cuộc đời như vốn có của tôi. Khi viết những dòng này, năm người không còn nữa. Theo thứ tự thời gian: Hứa Văn Định, Lê Mạc Lân, Nguyên Bình, Vũ Bão, Lê Bầu. Mỗi người đi đều mang theo một phần tôi. Những phần tôi bạn mang theo ấy có những sắc thái khác nhau tùy theo tính cách từng người, dấu ấn từng thời gian trong cuộc đời  hạnh phúc ngắn ngủi và nhiều gian lao của tôi..

Lê Bầu đi mang theo cái phần riêng của anh. Đó là mái đình làng Xuân La huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, nơi trường Hàn Thuyên sơ tán đầu những năm 50 thế kỷ trước, tôi ngồi lớp đặt ở bên này giải vũ, anh ngồi giải vũ bên kia, cách nhau một cái sân đình ngày ấy là mênh mông. Là những buổi tối sinh hoạt văn nghệ, Lê Bầu với bộ quần áo nâu, chít khăn đầu rìu buông quần lá tọa, đứng trên sân khấu, chiếc cuốc trên vai, nháy nháy bộ râu bôi bằng nhọ nồi, đen sẫm kiểu Hít le làm tất cả cười bò. Là bài báo tường Mái gà xuống ổ hôm rằm/ Con chui dưới bụng con nằm trên lưng/ Vui chân chạy nhẩy tứ tung/ Mẹ lo nghển cổ trong lồng gọi con khiến chúng tôi phục lăn (và thuộc cho đến bây giờ, sau hơn 60 năm vẫn nằm trong bộ nhớ). Là những đêm khuya tan học, đèn dầu lập lòe, cùng nhau cuốc bộ từ trường về Lang Tạ xa 7 cây số, tới đó mỗi thằng một ngả, Bầu về ấp Núi Dài, tôi về Phú Mỹ. Là niềm vui tràn ngập khi ký tặng nhau tác phẩm đầu tay cùng được nhà xuất bản của Hội Nhà văn in năm 1962, Bầu tập Thông Reo, còn tôi tập Đêm Tháng Mười. Là những bữa cơm với món bí đỏ nửa canh nửa xào của anh khi tôi lên Hà Nội, đâm đơn kêu oan. Là căn buồng hẹp 105 phố Phùng Hưng, nơi không lần nào tơi thủ đô tôi không đặt chân tới, kể cả ngủ lại. Là bữa bia, anh nhân danh trại trưởng, chiêu đãi cả trại sáng tác Đại Lải khi tôi từ Hải Phòng túi tắm lên dự trại…

Anh, người bạn lâu năm nhất của tôi. Khó mà kể hết Lê Bầu đã mang theo những gì trong tôi về thế giới bên kia.

Tôi gọi anh là Người hiểu giá trị của thời gian. Anh có sức khỏe. Anh làm việc như một con ngựa. Không chỉ vì cuộc sống khó khăn, trách nhiệm của người con, người chồng, người cha và cả người ông nữa trong gia đình khiến anh không được lười biếng, mà cái tính anh nó thế. Con ngựa già sinh đúng năm 1930 thế kỷ trước sang tới đầu thế kỷ này cứ phải dậm chân, gõ móng, lắc bờm không thể đứng yên một chỗ. Đi. Viết. Và dịch. Tôi luôn giục anh khi hai chúng tôi đều đã trên dưới 70:

– Nhớn tướng rồi. Cổ lai hy rồi. Viết hồi ký đi là vừa ông ạ.

Tôi đã có hai tập hồi ký được in và rất muốn anh cũng có hồi ký để hoàn chỉnh thêm bức tranh cuộc sống của mấy đứa chúng tôi. Thế là anh kể về những ngày thơ ấu của anh. Thời còn đi học, chúng tôi thường đùa anh, đọc to như kiểu đọc chính tả để anh cứ thế mà viết kê khai lý lịch.

Họ và tên khai sinh: Lê Bầu.

Họ và tên bố: Lê Bí.

Họ và tên con: Lê Thị Mướp Hương.

Hôm ấy nghe anh, mới biết tên ông thân sinh ra anh chính là Lê Bý!

Bầu cười lớn:

-Tên bố tôi là từ tên tôi mà ra đấy chứ. Tên bố có sau, tên con có trước. Tên bố dựa theo tên con. Ông già mình không có tên, cứ gọi là bác Cu, anh Cu. Thế rồi ông chú mình không biết làm điều gì đó bị Pháp truy nã phải trốn lên Tinh Túc. Sợ Pháp bắt nhầm, cụ vội đi làm giấy khai sinh. Lấy tên gì bây giờ. Tên Bý. Con Bầu, bố Bý. Còn cái tên Bầu của tôi là thế này: Lúc còn bé, mẹ tôi mang theo ra chợ, vừa trông con vừa bán hàng. Bạn hàng của cụ mối người kéo vào bế một tý, hết bà này đến bà khác. Tôi khỏe mạnh, bầu bĩnh, béo tốt, bà nào cũng thích bồng bế, nên các bà gọi tôi là thằng Bầu. Thế là có tên Lê Bầu…

Chỉ riêng lai lịch tên anh và tên ông già anh viết ra cũng đã thú vị rồi. Nhìn đôi mắt long lanh, nghe giọng nói sôi nổi của anh, tôi tin anh sẽ viết hồi ký. Tôi nói thêm:

– Viết ngay đi Bầu ạ. Sống chết chẳng biết thế nào. Có khi ông giời còn cho sống, nhưng không làm việc được nữa.

Anh lắc đầu, rất tự tin:

-Yên tâm. Còn khỏe.

Và cười lớn nói về một ông nhà báo nào đó viết sức khỏe nhà văn Lê Bầu rất tốt dù đã ngoài bảy mươi, sáng nào cũng tập thể dục đều:

– Tôi bảo nó: Ông Lê Bầu chưa hề tập thể dục bao giờ!

Tôi cũng cười nhưng rồi nghĩ đến Nguyên Hồng qua đời đột ngột ở tuổi ngoài 60 trong khi còn bao dự định chưa thực hiện:

– Huyết áp ông thế nào?

-Tốt. Thường là 140 trên 90. Cũng có lúc 150.

Tôi nghĩ thầm tuổi 70 thế là được. Còn đủ thời gian, sức khỏe viết hồi ký. Cuộc đời anh cũng long đong chẳng kém tôi, chắc chắn sẽ có một tập sách hay, ghi lại một vẻ mặt của lịch sử mang nhãn hiệu Lê Bầu.

Những lần gặp sau, hỏi anh về hồi ký, có vẻ như anh chưa đả động gì đến. Khi là kể về chuyến đi Cao Bằng cùng với mấy nhà báo, khi anh kêu ca về chuyện hình như bị tiền đình hay sao ấy, nhiều lúc choáng váng rất khó chịu.

Rồi từ Hải Phòng gọi điện giục thì anh nói sắp đi Trung Quốc “với mấy thằng nữa. Chúng nó rủ đi, chỉ mấy ngày thôi”. Tôi kêu lên:

-Sức khỏe thế đi Trung Quốc làm gì? Ông Vũ Bão đấy. Dự hạp long cầu Bãi Cháy rồi đi luôn.

– Dạo này khá rồi. Chứng tiền đình không còn nữa. Với lại đi sang ngay bên kia biên giới thôi. Có một làng toàn người Việt Nam. Thú vị lắm. Cũng muốn mua thêm mấy tập truyện Trung Quốc. Mang về xem có dịch được không.

Ít ngày sau lên Hà Nội, nhìn anh đang đánh vật với tập tiểu thuyết tiếng Tầu như một cục gạch.

-Quyển gì mà dầy thế này?

– Tần Xoang. Điệu Tần của Giả Bình Ao. Thú lắm.

Bầu rất thích Giả Bình Ao. Trần Đình Hiến nói dịch Giả Bình Ao chỉ có Lê Bầu là đạt nhất.

Tôi không đánh giá cao ông nhà văn này. Và bây giờ tôi ghét ông ta.

Tôi kêu lên:

– Bao giờ viết hồi ký?

– Viết được một ít rồi. Sẽ viết tiếp. Làm cái này đã. Nhuận bút dịch mà nó trả mười bốn phần trăm giá bìa cơ mà!

Anh nhìn tôi như người có lỗi. Mười bốn phần trăm giá bìa tập sách dầy khiến tôi không dám nói thêm một lời. Anh dịch Tần Xoang. Sách in xong, anh ký tặng tôi. Hai tập. Mỗi tập cả nghìn trang. Tôi hỏi anh nhuận bút.

– Mấy đứa đặt hàng nó có giả hết đâu.

– Những đứa nào? Bọn đầu nậu ấy?

– Mấy đứa ở Hội Nhà Văn.

Tức anh, tức mấy đầu nậu sách và tức Giả Bình Ao, hai tập Điệu Tần anh ký tặng, tới bây giờ tôi vẫn chưa giở đọc!

Sau đó là bệnh tật, là những lời quá mệt mỏi của anh qua điện thoại:

– Rất mệt. Đi khám thì nó bảo không biết bệnh gì.

– Bây giờ đi lại trong buồng cũng khó. Ăn kém. Lúc nào cũng buồn ngủ. Có lẽ phải bảo một cháu đến phục vụ mất thôi.

Thế rồi được tin anh vào nằm bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô. Tôi nghĩ: Ông Bầu sướng thế, ốm được vào Việt Xô. Thứ mình ốm chỉ có chết. Việc Bầu vào Việt Xô làm tôi yên tâm. Đấy là nơi chữa bệnh cho những cán bộ trung cao cấp. Anh đã vào Việt Xô một lần. Mổ thoát vị năm 2000 mà mọi người nói là làm lễ tiểu hara kiri (mổ bụng theo nghi thức võ sĩ đạo Nhật Bản) để bầy tỏ sự ủng hộ tập Chuyện kể năm 2000 của tôi bị Nhà Nước thu hồi, có mặt Hòa Vang, Mạc Lân, Vũ Bão và cả ba đều đã mất. Còn anh khỏe mạnh cho đến gần chục năm sau.

Một ngày cuối năm 2008, tôi lên Hà Nội nhận sách bản quyền tiểu thuyết Biển và Chim bói cá mới xuất bản. Tôi và Dương Tường đến bệnh viện thăm anh. Vẫn nghĩ anh không đến nỗi nào, tôi cười :

  • Chào cụ. Sách của tôi mới in đây. Tặng cụ.

Nằm trên giường bệnh, anh rút tay ra khỏi tấm chăn đắp trên người, nắm tay chúng tôi, bàn tay nhơm nhớp mồ hôi.

Lúc bấy giờ tôi mới nhìn kỹ bạn tôi. Bầu sút trông thấy. Mái tóc thưa càng thưa hơn. Trông rõ da đầu. Má hóp, mặt đen sạm. Không phải Lê Bầu tôi vẫn gặp. Anh không ngồi được nữa. Không cười. Nói khẽ. Thều thào. Vẫn không biết bệnh gì. Nó bảo nằm đây chờ xét nghiệm.

Chúng tôi ra hành lang gặp mấy người con anh. Các cháu cũng nói như anh nói: Chưa biết bệnh gì.

Về Hải Phòng tôi chưa bao giờ nghĩ Bầu sẽ ra đi.

Nhưng một cú điện thoại của con gái anh đã đuổi theo tôi:

-Bố cháu bị ung thư máu giai đoạn cuối.

Vậy là căn bệnh hiểm nghèo đã tàn phá anh từ bao giờ rồi mà anh không biết.

d 006

 Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu trên hồ Đại Lải

Lê Bầu ra đi mang theo tập hồi ký về cuộc đời long đong chưa bao giờ được viết ra của anh. Tôi trách anh. Sau này tôi biết anh dịch Tần Xoang không chỉ vì tiền (khi anh mất, con cháu ít nhiều đều được chia phần trong số tài sản còm anh để lại). Dịch Tần Xoang vì anh thích dịch Giả Bình Ao. Và nghĩ mình còn khỏe, còn thừa thời gian viết hồi ký và làm việc.

Anh không nghe tôi, không chịu rút kinh nghiệm Nguyên Hồng. Tôi luôn sợ cái chết cắt ngang và dành ưu tiên số một cho những điều cần phải viết. Ngoài ra, tất cả đều là thứ yếu.

Đã hơn bốn năm qua từ khi anh mất. Tôi không nghĩ đến quyển hồi ký lẽ ra được đọc của anh, cũng không trách gì anh nữa. Chỉ thỉnh thoảng nhớ anh, nhớ tiếng cười của anh. Tiếng cười giải tỏa những mệt mỏi căng thẳng của tôi, tiếng cười mà Lê Thị Oanh, phóng viên bào Hàng Không nhận xét: “Anh Bầu cười mới thích chứ. Anh ấy không cười thế thì anh ấy chết. Anh ấy khổ quá”.

Thì một người bạn không hề dính dáng đến văn chương chữ nghĩa mang đến cho tôi một chiếc phong bì:

-Đố ông biết tôi mang đến cho ông cái gì đây?

Tôi đỡ chiếc phong bì khổ lớn phồng phồng. Chiếc phong bì giấy giang quen thuộc mầu nâu cứng cũ sờn của Tạp Chí Nhà Văn có ghi dòng chữ Kính gửi đồng chí Lê Bầu. Và rút cái ruột ở bên trong. Một xếp giấy đánh máy. Người Dưới Bãi. Vẫn còn một xếp nữa mỏng hơn: Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng. Hồi ký Lê Bầu! Di cảo của anh! Dù cà hai cộng lại chỉ hơn trăm trang đánh máy.

Cầm xếp bản thảo như gặp lại bạn mình. Như có anh đang ngồi trước mặt. Những tờ pơ luya nội hóa màng màng có thể nhìn xuyên qua. Những hàng chữ chỗ rõ, chỗ nhòe, chỗ mờ. Tôi nhớ anh thường xin mực in nhuộm lại ruy băng đã cũ nhầu để dùng. Cũng nhớ anh chuyên dùng pơ luya và giấy than nội, có ram pơ luya ngoại để dành thì bị mối xông.Và đây, những chữ viết tay nét chữ quen thuộc anh ghi thêm bên lề.

Vậy là đúng như anh nói cùng tôi: Anh đã viết hồi ký.

Tôi đọc. Một Lê Bầu của tuổi thơ. Lê Bầu một thời thơ ấu. Đến bây giờ tôi mới hiểu cái tuổi ngọc ấy của anh. Một “tuổi ngọc” dành riêng cho những trẻ con nhà nghèo suốt ngày lo lắng miếng ăn. Những đứa trẻ sống tự nhiên như “những con hươu con nai trong rừng”, gần như không có người trông nom kèm cặp dạy dỗ, ngoài lời đe duy nhất của bố mẹ và những người phu khuân vác bạn của bố yêu cậu bé Bầu: Không được chầu mồm! Nghĩa là không được nhìn mồm người ta khi người ta đang ăn! Đi học, bơi sông, đánh đáo, đánh khăng, đứng quanh đám chèo, đám xẩm, xem, nghe, bàn chân lúc nào cũng dẫm lên nền đất ẩm phù sa sông Hồng. Có đi lên phố cũng là đi xem bọn lưu manh giở mánh lừa đảo người nhà quê lên Hà Nội.

Bầu là trẻ con bãi Phúc Xá Hà Nội. Thế mà tôi cứ tưởng ở Bắc Giang. Một Hà Nội những năm 30 của thế kỷ trước với những người dân dưới bãi, không phải ngoài bãi đâu mặc dù Phúc Xá nằm ngoài đê. Dân  dưới bãi vừa chỉ đúng độ cao của bãi bồi so với phố phường nội thành Hà Nội, và cũng chỉ đúng nấc thang xã hội của những người sống ở đó.

Đọc di cảo Lê Bầu, tôi không chỉ được sống với tuổi thơ anh, mà còn được sống với Hà Nội non thế kỷ trước. Từ việc chia lô, cách chia lô khu đất bồi tới những gia đình phiêu dạt từ các miền quê về tụ trên mảnh đất. Chồng theo, vợ theo. Không cưới xin. Lẳng lặng mà về. Đến lúc bỏ nhau lẳng lặng mà đi. Chính bố anh trong thời gian làm bột cũng có một bà vợ theo mà Bầu không biết bố đã “tán” mẹ thế nào để bà chấp nhận: Dì Cơi! Tuy nhiên, nhiều trưa Bầu vẫn phải đi làm nhiệm vụ do thám Dì Cơi và bố trên xưởng bột rồi về báo cáo với mẹ.

-Bố mày có ngủ không?

-Bố con đi đưa (giao) bột!

-Di Cơi mày có ngủ không?

-Dì Cơi xay bột!

– Dì Cơi có cho mày ăn gì không?

– Dì Cơi cho con ăn tào phớ!

– Tiền đâu mà ăn?

-Con không biết!

-Còn ăn gì nữa không?

-Không ăn gì, nhưng dì cho uống xích tông ca la đinh!

Khi xưởng bột của bố đóng cửa, dì Cơi ra đi, không bao giờ gặp lại nữa như mọi người vợ theo, chồng theo “dưới bãi”.

Tập hồi ký ngắn của anh có Tý Bủng, cầm đầu bọn anh chị bến ô tô Chợ Nứa (sau gọi là Bến Nứa) vói cách đánh vợ chửa lạ đời: Lấy xẻng khoét một cái hố giữa nền nhà rồi bắt vợ nằm sấp úp bụng vào hố và đánh vào đít đúng mười roi! Có bà Cau, bán nước ở ngã tư đường Bờ Sông đối diện với ngã tư Hàng Đậu, hiền như bà bàn nước trong cổ tích, trông thấy Bầu đi lang thang lên bến ô tô, ra ga xem chị em Bính Lớn, Bính Con lừa người nhà quê kiếm tiền là dặn: ‘Đứng xa xa chúng nó ra. Hỏng việc của chúng nó, chúng nó đánh chết.” Rồi hỏi: “Cháu bà học đến đâu rồi?” Có vợ chồng anh cả Mốc, có thầy cút lít, có cột đồng hồ trên đường vằng người, bọn cướp hay hoạt động…

Những tên phố, tên đường gợi một Hà Nội xưa, Nghĩa Dũng, An Dương, Tứ Tổng, Chợ hoa Cổng chéo Hàng Lược, dốc phố Hòe Nhai, hãng ô tô Con Thỏ của Lê Hữu Giai, Nhà Thương làm phúc, Chợ Nứa, Cổng đình Hàng Khoai, công Ty phú Hưng Thành…, cùng những tên người: Dì Ếch, Dì Cua, vợ chồng anh cả Mốc, Bác Bính kem… với những phương cách mưu sinh, kẻ bất lương, người lương thiện… đã cuốn hút tôi.

Tôi nghĩ những người thích tập hồi ký mỏng này của Lê Bầu sẽ không chỉ là trẻ em, mà cả người lớn, những người thích tìm hiểu Hà Nôi, kể cả những nhà Hà Nội học.

Là người đọc và nhuận sắc tập di cảo này, tôi khá vất vả vì nó. Rõ ràng anh mới nháp lần đầu. Khi hết một ý, anh đánh dấu phẩy, chờ những ý rồi sẽ đến. Những dấu phẩy cứ thế kéo theo nhau, có khi đến cả trang. Và khi hết “dấu phẩy”, trước khi xuống dòng, anh đánh dấu chấu chấm lửng (…) nghĩa là rồi sẽ được bổ sung thêm. Tôi dọn dẹp những chỗ đó, sao cho vãn giữ nguyên giọng văn của Lê Bầu.

Hai phần hồi ký với hai tên riêng cho từng phần. Nghĩa là sẽ còn những phần tiếp theo và tất cả sẽ được đặt dưới một tên chung.

Chúng tôi tạm để lại phần “Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng” và xin được đặt tên mới cho tập sách.

Và bây giờ, mời các em, mời các bạn đến với tuổi thơ Lê Bầu, đến với dân dưới bãi của Hà Nội ngày xưa.

d 007

Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu tại Đại hội Nhà văn lần VI Hội trường Ba Đình

Hải Phòng 2-11-2013

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn