Cuộc gặp mặt của những người bạn

Cuộc gặp gỡ xúc động nhất có lẽ là cuộc thăm hỏi của các nhà văn, nhà thơ Dương Tường, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh. Ông đã viết trong Di cảo Lê Bầu (Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa): “Tôi có mười người bạn gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ, cùng nhau trải qua bao nhiêu niềm vui nỗi buồn và không ít hiểm nguy (…). Những người bạn ấy là một phần cuộc sống của tôi, làm thành cuộc đời như vốn có của tôi. Khi viết những dòng này, năm người không còn nữa. Theo thứ tự thời gian: Hứa Văn Định, Lê Mạc Lân, Nguyên Bình, Vũ Bão, Lê Bầu.” Còn năm người nữa là Dương Tường, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh, Vũ Thư Hiên thì đang ở mãi Pari và ông là người ít tuổi nhất trong số đó. Ông đã nhiều lần nói với các bạn còn lại của ông:

– Thằng nào đi sau cùng là thằng khổ nhất đấy.

Và bây giờ ông cười:

– Có lẽ mình không phải là thằng đi chuyến tàu vét rồi.

Ông Châu Diên cười lớn:

– Thằng Văn Như Cương bị gan còn gan của mày nó sợ nên nó chơi phổi. Ha, ha.ha…

Ông cũng cười:

– Cũng tại vì mình viết về ung thư nhiều quá, gần như trong tác phẩm dài ngắn nào cũng có người bị ung thư. Nên nó chơi mình.

Xuân Khánh hỏi ông:

– Nhưng làm sao ông biết mình bị…?

– Đầu tiên là tập Chuyện kể năm 2000 của mình được một bạn đọc bỏ tiền ra tái bản. Một quyển sách in với chất liệu loại A, theo nguyên bản gốc. Sau đó Nhà xuất bản Trẻ tái bản ba tập Biển và chim bói cá, Viết về bè bạn, Người chăn kiến. Thế là tất cả sách của mình đều được tái bản. Mình có viết nhiều đâu, chỉ bốn quyển đấy thôi. Được đồng loạt tái bản cả bốn. Coi như in tuyển tập còn gì nữa. Mấy ai được như mình. Thế rồi bỗng nhiên lo: Sao lại có thể may mắn đến thế nhỉ. Cuộc đời mình toàn những rủi ro bất hạnh. Bỗng nhiên được thế này hẳn phải là điềm gì xấu lắm đây. Dạo ấy mình ho, ho ghê gớm. Một ông bác sĩ bạn đọc của mình, coi như bác sĩ của gia đình bảo mình đi chụp X – quang rồi từ phim chụp ấy ông bảo mình đi chụp cắt lớp và phát hiện ra nó. Mình bị choáng nhưng rồi xác định được. Điều lo nhất là báo tin này cho vợ. Nhìn bà vợ bé nhỏ già yếu, vất vả lo toan vì lấy mình mà khổ suốt đời, thương quá. Thật không ngờ sự việc lại rất đơn giản, bà ấy động viên lại mình: Khi sinh ra là người ta ai cũng có cái chết chờ sẵn rồi. Có lẽ đạo Phật đã giúp bà xác định chuyện sinh tử.

Và ông chuyển giọng:

– Cho đến nay mình vẫn không sao, ăn vẫn ngon miệng, thở vẫn bình thường, chỉ đau thôi. Đau nhức hai chân không chịu nổi phải uống thuốc giảm đau.

Nguyễn Xuân Khánh nói như báo trước:

– Còn phải tiêm mooc – phin nữa đấy ông ạ.

Dương Tường không nói một câu. Ông nhận thấy trên gương mặt người bạn già nỗi buồn vô hạn. Ông bảo tất cả ba người bạn đã trên tám mươi của mình:

– Có gì cần viết thì viết ngay đi. Lỡ không kịp. Ông Nguyên Hồng đấy, ông Lê Bầu đấy. Còn bao điều muốn viết, định viết rồi buông xuôi. Tôi luôn lo sợ chết mà chưa làm xong những việc phải làm. Cũng may những việc phải làm tôi đã làm hết cả rồi. Không cẩu thả, không dối trá, làm với hết sức của mình bởi có khi ông Trời còn cho mình sống nhưng mình không làm việc được nữa.

Các ông chia tay nhau và đều tự hỏi không biết có còn được gặp nhau nữa không.

IMG_0244

Câu nói “gặp nhau lần nào biết lần đấy” đã được các ông đặt ra từ lâu rồi. Nhưng hôm nay thì các ông mãn nguyện bởi bốn người “sót lại của rừng cười” lại được ngồi với nhau trò chuyện, chụp ảnh và nói với nhau những chuyện vui và những chuyện buồn.

Tiếp theo cuộc thăm hỏi của mấy ông bạn già là cuộc thăm hỏi của những tay họa sĩ “trẻ”: Đặng Xuân Hòa, Đinh Quân, Hồng Việt Dũng, Lê Quảng Hà. photo 1

Đặng Xuân Hòa là người đã minh họa truyện ngắn đầu tiên Người ở cực bên kia của ông in trên báo Văn nghệ sau gần một phần tư thế kỷ im lặng và cũng là họa sĩ đầu tiên vẽ chân dung ông mở đầu việc vẽ tranh chân dung Bùi Ngọc Tấn của các họa sĩ mến mộ. Trong tranh một Bùi Ngọc Tấn mắt mở to đăm đăm nhìn vào không trung như một câu hỏi khoan xoáy vào số phận. Đinh Quân vẽ sơn mài một Bùi Ngọc Tấn lim dim đôi mắt như đang thanh thản bay lên không trung, một thứ già Đô. Các họa sĩ Lê Quảng Hà, Hồng Việt Dũng cũng là những người đọc hầu hết tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn.DSC0308620141102_110812_Night

Cập nhật tin tiếp theo về khối u

Trong thời gian hơn 3 tháng chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh, phần lớn các độc giả đến thăm đều mang theo sách để xin chữ ký của tác giả (Có cả một nữ độc giả từ Bạc Liêu lên). Việc ký tặng hết tập này đến tập khác không làm nhà văn mệt mỏi mà ngược lại, giúp nhà văn thêm sức khỏe và niềm tin chiến thắng bệnh tật.

1

8

Độc đáo tuổi thơ Hà Nội ngày xưa

(VOV5)- Di cảo, hồi ức của nhà văn Lê Bầu về tuổi thơ và cuộc sống của cư dân dưới bãi sông Hồng những năm 1930.

tuoi tho ha noi ngay xua_bia1

Kỉ niệm 60 năm ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954 – 10/10/2014), Nhà xuất bản Kim Đồng vừa cho ra mắt cuốn sách “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” – tập di cảo, hồi ức của nhà văn Lê Bầu về tuổi thơ của ông – của những đứa trẻ dưới bãi sông Hồng những năm 30 của thế kỉ trước.

Lê Bầu là nhà văn, nhà báo, dịch giả có uy tín với nhiều tác phẩm được độc giả yêu mến như Thông reo, Đi thực tập, Dòng sữa trắng, Hoàng hậu Vàng Anh, Đèn kéo quân, Sáu mươi ngày đêm giữ chợ Đồng Xuân, Ngã ba cô đơn, Độc hành… và nhiều dịch phẩm như: Tể tướng Lưu Gù, Quê cũ, Thành phố hoa, Hoài niệm sói, Quỷ thành, Trở về

Bạn bè yêu quý Lê Bầu bởi sự ngay thẳng, lòng yêu nghề và sống hết mình vì bạn bè của ông.

Bạn bè thân thiết của ông không ít, nhưng tuổi thơ của ông là một khoảng bí mật vời vợi chỉ trong kí ức của riêng ông, chẳng giãi bày cùng ai. Ngay cả nhà văn Bùi Ngọc Tấn – người được coi là tri âm tri kỷ của ông cũng không hề biết về tuổi thơ của ông.

Trong lời nói đầu cuốn sách “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn chia sẻ, ông đã nhiều lần nói với nhà văn Lê Bầu là “viết hồi kí đi, bởi cuộc đời dài ngắn chẳng ai biết ra sao”, nhưng vì mải việc nên cuốn hồi kí ấy chưa được công bố thì Lê Bầu đã ra đi, mang theo lời hứa về tập hồi kí chẳng bao giờ được viết ra của ông.

Nhưng rồi, nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhận được tập di cảo của nhà văn Lê Bầu từ một người bạn, mà theo ông tâm sự là “chẳng dính dáng gì đến văn chương”.

Tập di cảo ấy được viết ra một cách vội vàng, để chờ bổ sung, hoàn thiện. Là người đọc và nhuận sắc tập di cảo này, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã phải bỏ ra nhiều công sức. Ông chia sẻ: “Rõ ràng anh mới nháp lần đầu. Khi hết một ý, anh đánh dấu phẩy, chờ những ý rồi sẽ đến. Những dấu phẩy cứ thế kéo theo nhau, có khi đến cả trang. Và khi hết “dấu phẩy”, trước khi xuống dòng, anh đánh dấu chấu chấm lửng (…) nghĩa là rồi sẽ được bổ sung thêm. Tôi dọn dẹp những chỗ đó, sao cho vẫn giữ nguyên giọng văn của Lê Bầu.”

Tập sách ra đời, những người bạn của nhà văn Lê Bầu mới có dịp hiểu về tuổi thơ của ông, một tuổi thơ nhiều gian khó ở bãi bồi sông Hồng, với những cộng đồng dân dưới bãi như tay lơ xe “anh chị”, những kẻ nghiện ngập, móc túi… Nhưng giống như đóa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, cậu bé Lê Bầu hồn nhiên sống, hồn nhiên chơi đùa, trong sáng lớn lên cùng những lời dạy nghiêm khắc của người cha ít học nhưng tính tình khẳng khái. Và có lẽ, chính vì vậy mà sau này, khi lớn lên, chịu nhiều dâu bể, Lê Bầu vẫn như cây thông giữa đời, được tất cả bạn bè kính quý.

Đọc “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa”, độc giả sẽ được đắm mình trong không gian, cuộc sống của Hà Nội dân dưới bãi với những địa danh Phúc Xá, Nghĩa Dũng, An Dương, Tứ Tổng… những năm ba mươi của thế kỉ trướcNơi ấy, tập trung đủ mọi hạng người: những kẻ lưu manh, lừa lọc như chị em Bính Lớn, Bính Con, vợ chồng Cả Mốc, ông Mù… với đủ các chiêu trò; những kẻ nghiện ngập, những tay “anh chị” khét tiếng. Nhưng từ chính nơi ấy, tình người vẫn rạng ngời ấm áp: Một Tí Bủng – cầm đầu bọn đầu gấu bến ô tô, “dạy vợ” đang bầu bí bằng cách đào một cái hố bắt vợ nằm sấp bụng xuống rồi đánh mười roi; bà Cau bán nước hiền hậu, lo lắng dặn dò cậu bé Bầu tránh xa mấy đứa lưu manh; hay bác Cấn trong đội cu li – người hay quát mắng đe nẹt cậu bé Bầu nhất, sau một thời gian xa cách, tình cờ gặp cậu hôm đi thi thì dúi vào tay cậu mấy đồng hào bạc và nói bằng giọng rưng rưng: “Thất học khổ lắm con ạ!”…

long-bien

Theo nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, “Tuổi thơ Hà Nội ngày xưa” là một cuốn sách độc đáo bởi trong văn học Việt Nam, chưa có tác phẩm nào viết về tuổi thơ Hà Nội thị thành trước năm 1945, mà lại là viết về những đứa trẻ, những người ngụ cư dưới bãi sông Hồng thì càng hiếm có. Ngay cả những tác phẩm của nhà văn Tô Hoài, Lê Văn Chương, Nguyên Hồng hay thậm chí những tác phẩm của Tự Lực văn đoàn… những năm đầu thế kỉ cũng chỉ xoay quanh tuổi thơ Hà Nội ở nông thôn – ngoại thành, hoặc một vài nét chấm phá mờ nhạt về trẻ em thị thành.

Hãy cùng đắm mình và tưởng tượng về một góc Hà Nội xưa qua một đoạn hồi ức của nhà văn Lê Bầu: “Góc những ngã tư đường Mười khá “sầm uất”, (đường Hai Mươi rất vắng, vì chỉ có một dãy nhà trông ra sông, còn dãy phía bờ sông thường bỏ trống, không có người ở) tức là ban ngày, ban tối thường có thêm một gánh phở rong, cô quạt ngô nướng, bà bán quà vặt, xâu táo xâu khoai sọ, (khoai và táo được xâu thành từng xâu, quả lớn, củ lớn ở giữa rồi nhỏ dần về hai đầu, người mua chỉ được chọn từng xâu chứ không được chọn từng quả, từng củ) đặc biệt là có bà hàng nước hấp dẫn khách hàng bằng chiếc điếu cày, tối đến thỉnh thoảng thêm vợ chồng anh xẩm mù tới hát. Họ chỉ có một chiếc nhị hai dây cò cử làm nhạc đệm và một manh chiếu rách, trải ngồi, ngoài ra còn một chiếc chậu thau méo mó, to bằng cái mũ nồi, hoặc chiếc cơi đựng trầu để ngay trước mặt, nhận tiền “thưởng” của người nghe khi nghe đến đoạn hay, đoạn mình thích thú, hoặc của những người đã đứng ngồi nghe suốt từ đầu mà “không thưởng cũng không tiện”.”

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn chia sẻ: “Tôi nghĩ những người thích tập hồi kí mỏng này của Lê Bầu sẽ không chỉ là trẻ em, mà cả người lớn, những người thích tìm hiểu Hà Nội, kể cả những nhà Hà Nội học.”

Nhân dịp này, NXB Kim Đồng cũng cho ra mắt cuốn sách “Tháng ngày thương nhớ” – hồi ức của nhà văn Phạm Thắng – tác giả “Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt”… về tuổi thơ ở nội đô Hà Nội khoảng thời gian trước và sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Như bao cậu học trò nhỏ khác, cậu bé Phạm Thắng cũng có những kỉ niệm  êm đềm đáng nhớ về tuổi học trò hồn nhiên, tinh nghịch của mình ở trường ở lớp. Nhưng những điều mắt thấy tai nghe về nạn đói, về sự dã man của thực dân Pháp, phát xít Nhật… đã hun đúc trong lòng cậu học trò nhỏ lòng yêu nước, để sau này, cậu bé ấy đã trở thành một thành viên của Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt, hoạt động trong lòng địch, cung cấp nhiều thông tin mật cho Sở chỉ huy Liên khu, góp phần Giải phóng Thủ đô. Cuốn sách vì thế, cũng là một tư liệu quý, sinh động về tuổi thơ Hà Nội trước Cách mạng.

Sach ve HN - NXBKIMDONG - 2014 4

Ngoài ra, nhiều tựa sách về Hà Nội cũng được NXB Kim Đồng tái bản trong dịp này:  “Hà Nội rong ruổi quẩn quanh” của nhà văn Băng Sơn; “Thương nhớ mười hai”, “Miếng ngon Hà Nội” của nhà văn Vũ Bằng, “Sống mãi với thủ đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, “Chuyện cũ Hà Nội” của nhà văn Tô Hoài, bộ Kể chuyện Thăng Long – Hà Nội gồm 5 cuốn: Kinh đô muôn đời, Cảnh sắc Hà Nội, Kì tích chống giặc ngoại xâm, Kiến trúc ngàn năm, Danh nhân Hà Nội…/.

Thông tin về tác giả:

Nhà văn Lê Bầu (1930 – 2009). Sinh tại Khoái Châu – Hưng Yên.

Bút danh: Phan Hà, Thanh Lịch, Lê Bầu Bỉnh.

Tác phẩm chính: Thông reo, Đi thực tập, Dòng sữa trắng, Hoàng hậu Vàng Anh, Những năm tháng trôi qua, Sáu mươi ngày đêm giữ chợ Đồng Xuân…

Ngoài sáng tác, viết báo, Lê Bầu còn là một dịch giả tiếng Trung Quốc có uy tín, đặc biệt với các tác phẩm của Giả Bình Ao.

Phùng Hà

(VOV5)

Đọc Di Cảo Lê Bầu

Một hòn đá lăn xuống biển là Châu Âu đã bé đi một tí. Mỗi người là một bộ phận của toàn thể nhân loại. Một nhà thơ Anh đã viết như vậy. Điều ấy càng cụ thể hơn khi những người thân thiết của mình ra đi.

Tôi có mười người bạn gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ, cùng nhau trải qua bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn và không ít hiểm nguy. Như bố mẹ vợ con anh em trong gia đình, những người bạn ấy là một phần cuộc sống của tôi, làm thành cuộc đời như vốn có của tôi. Khi viết những dòng này, năm người không còn nữa. Theo thứ tự thời gian: Hứa Văn Định, Lê Mạc Lân, Nguyên Bình, Vũ Bão, Lê Bầu. Mỗi người đi đều mang theo một phần tôi. Những phần tôi bạn mang theo ấy có những sắc thái khác nhau tùy theo tính cách từng người, dấu ấn từng thời gian trong cuộc đời  hạnh phúc ngắn ngủi và nhiều gian lao của tôi..

Lê Bầu đi mang theo cái phần riêng của anh. Đó là mái đình làng Xuân La huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên, nơi trường Hàn Thuyên sơ tán đầu những năm 50 thế kỷ trước, tôi ngồi lớp đặt ở bên này giải vũ, anh ngồi giải vũ bên kia, cách nhau một cái sân đình ngày ấy là mênh mông. Là những buổi tối sinh hoạt văn nghệ, Lê Bầu với bộ quần áo nâu, chít khăn đầu rìu buông quần lá tọa, đứng trên sân khấu, chiếc cuốc trên vai, nháy nháy bộ râu bôi bằng nhọ nồi, đen sẫm kiểu Hít le làm tất cả cười bò. Là bài báo tường Mái gà xuống ổ hôm rằm/ Con chui dưới bụng con nằm trên lưng/ Vui chân chạy nhẩy tứ tung/ Mẹ lo nghển cổ trong lồng gọi con khiến chúng tôi phục lăn (và thuộc cho đến bây giờ, sau hơn 60 năm vẫn nằm trong bộ nhớ). Là những đêm khuya tan học, đèn dầu lập lòe, cùng nhau cuốc bộ từ trường về Lang Tạ xa 7 cây số, tới đó mỗi thằng một ngả, Bầu về ấp Núi Dài, tôi về Phú Mỹ. Là niềm vui tràn ngập khi ký tặng nhau tác phẩm đầu tay cùng được nhà xuất bản của Hội Nhà văn in năm 1962, Bầu tập Thông Reo, còn tôi tập Đêm Tháng Mười. Là những bữa cơm với món bí đỏ nửa canh nửa xào của anh khi tôi lên Hà Nội, đâm đơn kêu oan. Là căn buồng hẹp 105 phố Phùng Hưng, nơi không lần nào tơi thủ đô tôi không đặt chân tới, kể cả ngủ lại. Là bữa bia, anh nhân danh trại trưởng, chiêu đãi cả trại sáng tác Đại Lải khi tôi từ Hải Phòng túi tắm lên dự trại…

Anh, người bạn lâu năm nhất của tôi. Khó mà kể hết Lê Bầu đã mang theo những gì trong tôi về thế giới bên kia.

Tôi gọi anh là Người hiểu giá trị của thời gian. Anh có sức khỏe. Anh làm việc như một con ngựa. Không chỉ vì cuộc sống khó khăn, trách nhiệm của người con, người chồng, người cha và cả người ông nữa trong gia đình khiến anh không được lười biếng, mà cái tính anh nó thế. Con ngựa già sinh đúng năm 1930 thế kỷ trước sang tới đầu thế kỷ này cứ phải dậm chân, gõ móng, lắc bờm không thể đứng yên một chỗ. Đi. Viết. Và dịch. Tôi luôn giục anh khi hai chúng tôi đều đã trên dưới 70:

– Nhớn tướng rồi. Cổ lai hy rồi. Viết hồi ký đi là vừa ông ạ.

Tôi đã có hai tập hồi ký được in và rất muốn anh cũng có hồi ký để hoàn chỉnh thêm bức tranh cuộc sống của mấy đứa chúng tôi. Thế là anh kể về những ngày thơ ấu của anh. Thời còn đi học, chúng tôi thường đùa anh, đọc to như kiểu đọc chính tả để anh cứ thế mà viết kê khai lý lịch.

Họ và tên khai sinh: Lê Bầu.

Họ và tên bố: Lê Bí.

Họ và tên con: Lê Thị Mướp Hương.

Hôm ấy nghe anh, mới biết tên ông thân sinh ra anh chính là Lê Bý!

Bầu cười lớn:

-Tên bố tôi là từ tên tôi mà ra đấy chứ. Tên bố có sau, tên con có trước. Tên bố dựa theo tên con. Ông già mình không có tên, cứ gọi là bác Cu, anh Cu. Thế rồi ông chú mình không biết làm điều gì đó bị Pháp truy nã phải trốn lên Tinh Túc. Sợ Pháp bắt nhầm, cụ vội đi làm giấy khai sinh. Lấy tên gì bây giờ. Tên Bý. Con Bầu, bố Bý. Còn cái tên Bầu của tôi là thế này: Lúc còn bé, mẹ tôi mang theo ra chợ, vừa trông con vừa bán hàng. Bạn hàng của cụ mối người kéo vào bế một tý, hết bà này đến bà khác. Tôi khỏe mạnh, bầu bĩnh, béo tốt, bà nào cũng thích bồng bế, nên các bà gọi tôi là thằng Bầu. Thế là có tên Lê Bầu…

Chỉ riêng lai lịch tên anh và tên ông già anh viết ra cũng đã thú vị rồi. Nhìn đôi mắt long lanh, nghe giọng nói sôi nổi của anh, tôi tin anh sẽ viết hồi ký. Tôi nói thêm:

– Viết ngay đi Bầu ạ. Sống chết chẳng biết thế nào. Có khi ông giời còn cho sống, nhưng không làm việc được nữa.

Anh lắc đầu, rất tự tin:

-Yên tâm. Còn khỏe.

Và cười lớn nói về một ông nhà báo nào đó viết sức khỏe nhà văn Lê Bầu rất tốt dù đã ngoài bảy mươi, sáng nào cũng tập thể dục đều:

– Tôi bảo nó: Ông Lê Bầu chưa hề tập thể dục bao giờ!

Tôi cũng cười nhưng rồi nghĩ đến Nguyên Hồng qua đời đột ngột ở tuổi ngoài 60 trong khi còn bao dự định chưa thực hiện:

– Huyết áp ông thế nào?

-Tốt. Thường là 140 trên 90. Cũng có lúc 150.

Tôi nghĩ thầm tuổi 70 thế là được. Còn đủ thời gian, sức khỏe viết hồi ký. Cuộc đời anh cũng long đong chẳng kém tôi, chắc chắn sẽ có một tập sách hay, ghi lại một vẻ mặt của lịch sử mang nhãn hiệu Lê Bầu.

Những lần gặp sau, hỏi anh về hồi ký, có vẻ như anh chưa đả động gì đến. Khi là kể về chuyến đi Cao Bằng cùng với mấy nhà báo, khi anh kêu ca về chuyện hình như bị tiền đình hay sao ấy, nhiều lúc choáng váng rất khó chịu.

Rồi từ Hải Phòng gọi điện giục thì anh nói sắp đi Trung Quốc “với mấy thằng nữa. Chúng nó rủ đi, chỉ mấy ngày thôi”. Tôi kêu lên:

-Sức khỏe thế đi Trung Quốc làm gì? Ông Vũ Bão đấy. Dự hạp long cầu Bãi Cháy rồi đi luôn.

– Dạo này khá rồi. Chứng tiền đình không còn nữa. Với lại đi sang ngay bên kia biên giới thôi. Có một làng toàn người Việt Nam. Thú vị lắm. Cũng muốn mua thêm mấy tập truyện Trung Quốc. Mang về xem có dịch được không.

Ít ngày sau lên Hà Nội, nhìn anh đang đánh vật với tập tiểu thuyết tiếng Tầu như một cục gạch.

-Quyển gì mà dầy thế này?

– Tần Xoang. Điệu Tần của Giả Bình Ao. Thú lắm.

Bầu rất thích Giả Bình Ao. Trần Đình Hiến nói dịch Giả Bình Ao chỉ có Lê Bầu là đạt nhất.

Tôi không đánh giá cao ông nhà văn này. Và bây giờ tôi ghét ông ta.

Tôi kêu lên:

– Bao giờ viết hồi ký?

– Viết được một ít rồi. Sẽ viết tiếp. Làm cái này đã. Nhuận bút dịch mà nó trả mười bốn phần trăm giá bìa cơ mà!

Anh nhìn tôi như người có lỗi. Mười bốn phần trăm giá bìa tập sách dầy khiến tôi không dám nói thêm một lời. Anh dịch Tần Xoang. Sách in xong, anh ký tặng tôi. Hai tập. Mỗi tập cả nghìn trang. Tôi hỏi anh nhuận bút.

– Mấy đứa đặt hàng nó có giả hết đâu.

– Những đứa nào? Bọn đầu nậu ấy?

– Mấy đứa ở Hội Nhà Văn.

Tức anh, tức mấy đầu nậu sách và tức Giả Bình Ao, hai tập Điệu Tần anh ký tặng, tới bây giờ tôi vẫn chưa giở đọc!

Sau đó là bệnh tật, là những lời quá mệt mỏi của anh qua điện thoại:

– Rất mệt. Đi khám thì nó bảo không biết bệnh gì.

– Bây giờ đi lại trong buồng cũng khó. Ăn kém. Lúc nào cũng buồn ngủ. Có lẽ phải bảo một cháu đến phục vụ mất thôi.

Thế rồi được tin anh vào nằm bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô. Tôi nghĩ: Ông Bầu sướng thế, ốm được vào Việt Xô. Thứ mình ốm chỉ có chết. Việc Bầu vào Việt Xô làm tôi yên tâm. Đấy là nơi chữa bệnh cho những cán bộ trung cao cấp. Anh đã vào Việt Xô một lần. Mổ thoát vị năm 2000 mà mọi người nói là làm lễ tiểu hara kiri (mổ bụng theo nghi thức võ sĩ đạo Nhật Bản) để bầy tỏ sự ủng hộ tập Chuyện kể năm 2000 của tôi bị Nhà Nước thu hồi, có mặt Hòa Vang, Mạc Lân, Vũ Bão và cả ba đều đã mất. Còn anh khỏe mạnh cho đến gần chục năm sau.

Một ngày cuối năm 2008, tôi lên Hà Nội nhận sách bản quyền tiểu thuyết Biển và Chim bói cá mới xuất bản. Tôi và Dương Tường đến bệnh viện thăm anh. Vẫn nghĩ anh không đến nỗi nào, tôi cười :

  • Chào cụ. Sách của tôi mới in đây. Tặng cụ.

Nằm trên giường bệnh, anh rút tay ra khỏi tấm chăn đắp trên người, nắm tay chúng tôi, bàn tay nhơm nhớp mồ hôi.

Lúc bấy giờ tôi mới nhìn kỹ bạn tôi. Bầu sút trông thấy. Mái tóc thưa càng thưa hơn. Trông rõ da đầu. Má hóp, mặt đen sạm. Không phải Lê Bầu tôi vẫn gặp. Anh không ngồi được nữa. Không cười. Nói khẽ. Thều thào. Vẫn không biết bệnh gì. Nó bảo nằm đây chờ xét nghiệm.

Chúng tôi ra hành lang gặp mấy người con anh. Các cháu cũng nói như anh nói: Chưa biết bệnh gì.

Về Hải Phòng tôi chưa bao giờ nghĩ Bầu sẽ ra đi.

Nhưng một cú điện thoại của con gái anh đã đuổi theo tôi:

-Bố cháu bị ung thư máu giai đoạn cuối.

Vậy là căn bệnh hiểm nghèo đã tàn phá anh từ bao giờ rồi mà anh không biết.

d 006

 Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu trên hồ Đại Lải

Lê Bầu ra đi mang theo tập hồi ký về cuộc đời long đong chưa bao giờ được viết ra của anh. Tôi trách anh. Sau này tôi biết anh dịch Tần Xoang không chỉ vì tiền (khi anh mất, con cháu ít nhiều đều được chia phần trong số tài sản còm anh để lại). Dịch Tần Xoang vì anh thích dịch Giả Bình Ao. Và nghĩ mình còn khỏe, còn thừa thời gian viết hồi ký và làm việc.

Anh không nghe tôi, không chịu rút kinh nghiệm Nguyên Hồng. Tôi luôn sợ cái chết cắt ngang và dành ưu tiên số một cho những điều cần phải viết. Ngoài ra, tất cả đều là thứ yếu.

Đã hơn bốn năm qua từ khi anh mất. Tôi không nghĩ đến quyển hồi ký lẽ ra được đọc của anh, cũng không trách gì anh nữa. Chỉ thỉnh thoảng nhớ anh, nhớ tiếng cười của anh. Tiếng cười giải tỏa những mệt mỏi căng thẳng của tôi, tiếng cười mà Lê Thị Oanh, phóng viên bào Hàng Không nhận xét: “Anh Bầu cười mới thích chứ. Anh ấy không cười thế thì anh ấy chết. Anh ấy khổ quá”.

Thì một người bạn không hề dính dáng đến văn chương chữ nghĩa mang đến cho tôi một chiếc phong bì:

-Đố ông biết tôi mang đến cho ông cái gì đây?

Tôi đỡ chiếc phong bì khổ lớn phồng phồng. Chiếc phong bì giấy giang quen thuộc mầu nâu cứng cũ sờn của Tạp Chí Nhà Văn có ghi dòng chữ Kính gửi đồng chí Lê Bầu. Và rút cái ruột ở bên trong. Một xếp giấy đánh máy. Người Dưới Bãi. Vẫn còn một xếp nữa mỏng hơn: Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng. Hồi ký Lê Bầu! Di cảo của anh! Dù cà hai cộng lại chỉ hơn trăm trang đánh máy.

Cầm xếp bản thảo như gặp lại bạn mình. Như có anh đang ngồi trước mặt. Những tờ pơ luya nội hóa màng màng có thể nhìn xuyên qua. Những hàng chữ chỗ rõ, chỗ nhòe, chỗ mờ. Tôi nhớ anh thường xin mực in nhuộm lại ruy băng đã cũ nhầu để dùng. Cũng nhớ anh chuyên dùng pơ luya và giấy than nội, có ram pơ luya ngoại để dành thì bị mối xông.Và đây, những chữ viết tay nét chữ quen thuộc anh ghi thêm bên lề.

Vậy là đúng như anh nói cùng tôi: Anh đã viết hồi ký.

Tôi đọc. Một Lê Bầu của tuổi thơ. Lê Bầu một thời thơ ấu. Đến bây giờ tôi mới hiểu cái tuổi ngọc ấy của anh. Một “tuổi ngọc” dành riêng cho những trẻ con nhà nghèo suốt ngày lo lắng miếng ăn. Những đứa trẻ sống tự nhiên như “những con hươu con nai trong rừng”, gần như không có người trông nom kèm cặp dạy dỗ, ngoài lời đe duy nhất của bố mẹ và những người phu khuân vác bạn của bố yêu cậu bé Bầu: Không được chầu mồm! Nghĩa là không được nhìn mồm người ta khi người ta đang ăn! Đi học, bơi sông, đánh đáo, đánh khăng, đứng quanh đám chèo, đám xẩm, xem, nghe, bàn chân lúc nào cũng dẫm lên nền đất ẩm phù sa sông Hồng. Có đi lên phố cũng là đi xem bọn lưu manh giở mánh lừa đảo người nhà quê lên Hà Nội.

Bầu là trẻ con bãi Phúc Xá Hà Nội. Thế mà tôi cứ tưởng ở Bắc Giang. Một Hà Nội những năm 30 của thế kỷ trước với những người dân dưới bãi, không phải ngoài bãi đâu mặc dù Phúc Xá nằm ngoài đê. Dân  dưới bãi vừa chỉ đúng độ cao của bãi bồi so với phố phường nội thành Hà Nội, và cũng chỉ đúng nấc thang xã hội của những người sống ở đó.

Đọc di cảo Lê Bầu, tôi không chỉ được sống với tuổi thơ anh, mà còn được sống với Hà Nội non thế kỷ trước. Từ việc chia lô, cách chia lô khu đất bồi tới những gia đình phiêu dạt từ các miền quê về tụ trên mảnh đất. Chồng theo, vợ theo. Không cưới xin. Lẳng lặng mà về. Đến lúc bỏ nhau lẳng lặng mà đi. Chính bố anh trong thời gian làm bột cũng có một bà vợ theo mà Bầu không biết bố đã “tán” mẹ thế nào để bà chấp nhận: Dì Cơi! Tuy nhiên, nhiều trưa Bầu vẫn phải đi làm nhiệm vụ do thám Dì Cơi và bố trên xưởng bột rồi về báo cáo với mẹ.

-Bố mày có ngủ không?

-Bố con đi đưa (giao) bột!

-Di Cơi mày có ngủ không?

-Dì Cơi xay bột!

– Dì Cơi có cho mày ăn gì không?

– Dì Cơi cho con ăn tào phớ!

– Tiền đâu mà ăn?

-Con không biết!

-Còn ăn gì nữa không?

-Không ăn gì, nhưng dì cho uống xích tông ca la đinh!

Khi xưởng bột của bố đóng cửa, dì Cơi ra đi, không bao giờ gặp lại nữa như mọi người vợ theo, chồng theo “dưới bãi”.

Tập hồi ký ngắn của anh có Tý Bủng, cầm đầu bọn anh chị bến ô tô Chợ Nứa (sau gọi là Bến Nứa) vói cách đánh vợ chửa lạ đời: Lấy xẻng khoét một cái hố giữa nền nhà rồi bắt vợ nằm sấp úp bụng vào hố và đánh vào đít đúng mười roi! Có bà Cau, bán nước ở ngã tư đường Bờ Sông đối diện với ngã tư Hàng Đậu, hiền như bà bàn nước trong cổ tích, trông thấy Bầu đi lang thang lên bến ô tô, ra ga xem chị em Bính Lớn, Bính Con lừa người nhà quê kiếm tiền là dặn: ‘Đứng xa xa chúng nó ra. Hỏng việc của chúng nó, chúng nó đánh chết.” Rồi hỏi: “Cháu bà học đến đâu rồi?” Có vợ chồng anh cả Mốc, có thầy cút lít, có cột đồng hồ trên đường vằng người, bọn cướp hay hoạt động…

Những tên phố, tên đường gợi một Hà Nội xưa, Nghĩa Dũng, An Dương, Tứ Tổng, Chợ hoa Cổng chéo Hàng Lược, dốc phố Hòe Nhai, hãng ô tô Con Thỏ của Lê Hữu Giai, Nhà Thương làm phúc, Chợ Nứa, Cổng đình Hàng Khoai, công Ty phú Hưng Thành…, cùng những tên người: Dì Ếch, Dì Cua, vợ chồng anh cả Mốc, Bác Bính kem… với những phương cách mưu sinh, kẻ bất lương, người lương thiện… đã cuốn hút tôi.

Tôi nghĩ những người thích tập hồi ký mỏng này của Lê Bầu sẽ không chỉ là trẻ em, mà cả người lớn, những người thích tìm hiểu Hà Nôi, kể cả những nhà Hà Nội học.

Là người đọc và nhuận sắc tập di cảo này, tôi khá vất vả vì nó. Rõ ràng anh mới nháp lần đầu. Khi hết một ý, anh đánh dấu phẩy, chờ những ý rồi sẽ đến. Những dấu phẩy cứ thế kéo theo nhau, có khi đến cả trang. Và khi hết “dấu phẩy”, trước khi xuống dòng, anh đánh dấu chấu chấm lửng (…) nghĩa là rồi sẽ được bổ sung thêm. Tôi dọn dẹp những chỗ đó, sao cho vãn giữ nguyên giọng văn của Lê Bầu.

Hai phần hồi ký với hai tên riêng cho từng phần. Nghĩa là sẽ còn những phần tiếp theo và tất cả sẽ được đặt dưới một tên chung.

Chúng tôi tạm để lại phần “Sông Thương Nước Chẩy Đôi Dòng” và xin được đặt tên mới cho tập sách.

Và bây giờ, mời các em, mời các bạn đến với tuổi thơ Lê Bầu, đến với dân dưới bãi của Hà Nội ngày xưa.

d 007

Bùi Ngọc Tấn và Lê Bầu tại Đại hội Nhà văn lần VI Hội trường Ba Đình

Hải Phòng 2-11-2013

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

2 người rừng của bộ tộc Tà- ru

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Luật sư Lê Công Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Ảnh copy từ facebook Phạm Tường Vân https://www.facebook.com/van.phamtuong

Cập nhật tin về khối u

Nếu ai chưa đọc truyện của ông thì nên đọc, nếu một năm chỉ chọn một cuốn thì cũng nên chọn truyện của ông. Đọc để thấy dân của mình, trí thức của mình khổ thế nào! Mặc Ngôn viết về CMVH TQ còn phóng đại, còn Bùi Ngọc Tấn chỉ viết ra sự thật, viết từ gan ruột, viết về nỗi đau khổ bằng nụ cười “vi tiếu”… Nghe ông bị bệnh hiểm nghèo và đang ở TP.HCM, trưa nay vợ chồng Giang Hạnh (*) đến thăm ông. Trông ông rất tươi. “Nhân vật của ông” – vợ ông cũng thật nhẹ nhàng, dễ mến.
Nguyên Hạnh - Lê Giang và vợ chồng Bùi Ngọc TấnNguyên Hạnh và vợ chồng Bùi Ngọc Tấn

Đoàn Lê Giang

(*) Đoàn Lê Giang chủ nhiệm khoa Văn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, vợ là Nguyên Hạnh phóng viên báo Tuổi Trẻ.

 

Bùi Ngọc Tấn và khối u

Xang Hứng

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn (tóc bạc, ngồi) và bạn bè. Ảnh: tác giả cung cấp.

Tết  Giáp Ngọ 2014 lão Bùi Ngọc Tấn vui lắm.

Bước qua tuổi 80, gánh hành trang lão mang theo nhẹ tênh. Thời gian đã cất khỏi vai lão cả những tốt đẹp và thối nát, những chân thành và giả dối, những tiếng cười đắng cay, những hy vọng và tuyệt vọng, cả “5 năm tù dài hơn 1 kiếp người”.

“Thật may, lão cũng còn vớt vát lại chút ít. Rất ít. Trong tiểu thuyết và mấy truyện ngắn. Hy vọng nó sẽ là một cái bong bóng nhỏ cùng với nhiều bong bóng khác nổi lên trên mặt hồ tĩnh lặng của ký ức dân tộc về một thời mọi người đều có thể bị biến đổi gien.”*

Hai cái đầu gối, “một bộ phận không nhỏ” trong cái thân thể nhỏ bé của lão bỗng như hết đau, hồi sinh khi bạn bè đến thăm và chúc Tết gia đình họ. Vợ lão, người đàn bà nhỏ thó nhưng rất mạnh mẽ, can đảm, thủy chung, cả đời chỉ biết đau cùng nỗi đau, hạnh phúc cùng niềm hạnh phúc của chồng. Trên môi bà luôn nở nụ cười, nụ cười đã giúp cho lão tồn tại, rồi hồi sinh trở về từ ngục tối.

Cái Tết vừa đi qua, lão sững người ngạc nhiên khi biết Nhà xuất bản Trẻ đề nghị in những tác phẩm của lão thành “tuyển tập”. Vui thì có vui nhưng đêm nằm lão nghĩ, làm chó gì có nhiều niềm vui đến cùng một lúc như vậy. Quả là một sự vô lý vĩ đại, quá sức tưởng tượng của “Người chăn kiến”: Bùi Ngọc Tấn!

Lão đã vào tù bằng cái tội danh bị “người ta” gán cho. 46 năm trước, thứ sáu, mùng 8 tháng 11 năm 1968, khi tỉnh dậy trên giường vẫn còn là người tự do. Vài giờ sau, lão đã được nhận suất cơm tù lạnh ngắt đặt ngay dưới đất, cùng phần nước uống đựng trong cái bô sắt han rỉ.

5 năm sau ra tù, lão “tự thú” bằng cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000″. Đứa con tinh thần của lão chưa đầy tháng thì nó lại bị người ta bỏ tù.

Những tưởng đến cái tuổi này thì chẳng còn gì làm lão ngạc nhiên, ấy thế mà khi đối diện với những niềm vui đến liên tiếp, lão đã sướng đến mất ăn mất ngủ. Rít thuốc lá cả ngày, nghĩ ngợi cả ngày, phải có nguyên cớ gì chứ, lão cố tìm hiểu.

Thế rồi lão phát ho phét hen. Ho sù sụ, ho như cuốc, ho ngày, ho đêm. Bao nhiêu thuốc Đông, thuốc Tây, thuốc lá, rồi cả chữa mẹo cũng không làm cơn ho buông tha lão. Suốt mấy tháng ròng, vợ con đưa lão đi khám khắp các bệnh viện, nghe ngóng ở đâu có bác sỹ giỏi là đến ngay. Cuối cùng, có anh bác sỹ đề nghị lão đi chụp CAT (Computed Axial Tomography) phổi.

Vừa đặt lưng trên CAT, lần đầu tiên sau nhiều ngày thức trắng, lão ngủ, ngủ say. Hôm đó là tháng 5/2014.

Cầm tấm phim và tờ kết quả, cô con gái lớn của lão khóc ngất: “Trên cửa sổ trung thất: Tổn thương nốt đơn độc đỉnh phổi trái KT 18,5 x 18,3mm, bờ đều, ranh giới rõ, tỷ trọng mô sau tiêm thuốc cản quang khối ngấm thuốc khá mạnh…”. Gần đây, Hải Yến, con gái lão mới tâm sự: “Hai năm ăn kiêng không làm con giảm được cân nào, thế mà cái khối u trong phổi bố giúp con giảm 4 kg trong vòng chưa đến 1 tháng”.

Thêm một lần nữa, bà vợ chung thủy, nhỏ thó lại đồng hành với lão trong biến cố mới.

Thì ra nguyên nhân là đây. Có thế chứ, một lần nữa lão lại phải trả giá cho đời sống, lần này thì bằng những nguy cơ có thật, cái nguy cơ có kích thước 18,5 x 18,3mm đã “hạ đặt” trái phép trong buồng phổi lão, một cơ quan có tầm quan trọng sống còn của con người. Lại thêm một lần nữa, “Nằm co trên giường, ông nghĩ tới vũ trụ không cùng…”*

Năm 2006, sau hơn 40 năm được thoát khỏi cái “nhà tù nhỏ”, lão có dịp trở lại thăm trại Hoành Bồ, một trong những trại lão đã “sống” qua 5 năm thời trai trẻ. “Một thèm muốn, một khát khao như thèm muốn khát khao được trở lại mảnh sân, góc vườn thời thơ ấu: Ao ước được trở lại những trại giam, những nhà tù tôi đã sống. Những nơi ấy là một phần cuộc đời mình, đã góp phần hình thành mình cả về xương thịt lẫn tâm hồn, không thể thiếu, không thể tách rời. Càng về già, càng đến gần cái kết thúc tất yếu càng mong được một lần trở lại. Không phải quê hương, nhưng là một cõi, cõi mình trải qua một kiếp, để rồi sống tới đáy tuyệt vọng của một kiếp người”*

Lão đã trở về, không phải để căm hận những kẻ đã đày đọa mình, nhưng để có thể quên, để tha thứ, để xóa đi những ám ảnh tuyệt vọng khi đã về già, để tiếp tục sống bên những người thân yêu, bè bạn. Để viết, để được tiếp tục trò chuyện cùng “Chữ”, người bạn chung thủy của lão, những “chữ vô hình, những chữ hoài thai trong ngục tối, trong lao động khổ sai để rồi sinh nở trên giấy trắng mấy chục năm sau đó, một cuộc hoài thai kéo dài hơn nửa kiếp người. Chữ trò chuyện cùng tôi, động viên tôi vượt qua cái chết lâm sàng, an ủi tôi mỗi khi tôi tuyệt vọng.”*

“Có những điều hắn tưởng không bao giờ quên được. Ấy thế rồi hắn đã quên”.*

Lần này thì lão cùng gia đình có toàn quyền quyết định. Tháng 6/2014, Bùi Ngọc Tấn cùng vợ vào Sài Gòn ở với cô con gái.

Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Tác giả Xang Hứng và bác Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Lão bảo với tôi: “Anh rất thoải mái trong tinh thần, được sống đến ngày hôm nay là lãi lắm rồi, cho dù có xảy ra điều gì thì anh cũng đã được sống một cuộc đời thú vị, có một gia đình yêu thương, nhiều bạn bè tốt. Khi nghe anh có khối u, bạn đọc, người thân đã tận tình giúp anh, tìm đủ mọi cách tốt nhất cho anh để chữa bệnh. Anh đã bàn với chị và các con, sẽ lại một lần nữa chung sống với cái khối u quái ác này”.

Tôi hiểu rằng lão đã chọn thái độ tiêu cực nên hỏi: “Nếu biết chắc khối u trong phổi là u lành, anh sẽ làm gì?”

Nở nụ cười hiền lành và tươi rói, lão trả lời ngay: “Anh sẽ ra Hải Phòng, và… Viết, anh có rất nhiều ý tưởng…”

Lúc này Yến, cô con gái lớn của lão bước ra tham dự buổi chuyện trò. Tôi đề nghị:

– Như anh kể, một người còn sống, còn sáng tạo được như anh sau khi phải trải qua những năm tháng mà chỉ nhớ lại thôi đã thấy khủng khiếp thì có lý do gì mà ngại ngần khi thêm một lần nữa đối diện với sự thật. Cái quan trọng của người bệnh là tinh thần, điều này anh có. Quan trọng nữa là anh có sự chia sẻ từ gia đình, mọi người luôn bên anh. Em đề nghị anh tham khảo ý kiến của những bác sỹ chuyên khoa. Nếu cần, sẽ dùng biện pháp can thiệp tích cực nhất”.

Giác quan của tôi, quan sát của tôi khi nhìn sắc diện lão cho thấy, đây cũng chỉ là một biến cố thử thách của cuộc đời. Lần này cũng chả kém gì những thử thách khắc nghiệt nhất là lão đã từng vượt qua. Lão sẽ chết, nhưng là chết già. Điều quan trọng là trước khi chết già, lão còn phải tiếp tục “lao động khổ sai” và hạnh phúc cùng “Chữ”. Lão sẽ còn được đắm đuối, cay đắng, được lặn ngụp, nhấm nháp và nghiền ngẫm “Chữ”. Được vuốt ve ngắm nghía, gọt giũa, ấp ủ trong tim, ngậm trong miệng, thì thầm và đọc to lên, “Chẳng hạn như người vô hình, mùi của trẻ thơ, góa sống, chứng say tù, độc quyền yêu nước, độc quyền nhận sai lầm, tù ngoại trú mang bản quyền Bùi Ngọc Tấn trong văn học rất rõ ràng. Mà đâu chỉ là những cụm từ. Đó là những khái niệm sống.”*

Tôi mang bệnh án của lão tham khảo ý kiến các bác sỹ chuyên khoa. Trên phim chụp cắt lớp độ dày 8mm trước và sau tiêm thuốc cản quang có thể nhận thấy một tổn thương nốt đơn độc, không có hạch to có ý nghĩa bệnh lý trung thất và rốn phổi hai bên. Khẩu kính các mạch máu lớn trong trung thất bình thường, có xơ mỡ thành động mạch chủ ngực. Không thấy tràn dịch trung thất và màng phổi hai bên. Trên cửa sổ nhu mô: không thấy tràn khí trung thất và khoang màng phổi. Không thấy hình ảnh giãn phế quản và phế nang hai bên.

Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn.  Ảnh: tác giả cung cấp.

Vài tác phẩm có chữ ký của Bùi Ngọc Tấn. Ảnh: tác giả cung cấp.

Hình ảnh nốt đơn độc ở đỉnh phổi trái có thể là u phổi. Vị trí không cho phép chọc sinh thiết. Các bác sỹ thống nhất sau khi kiểm tra chức năng phổi, nâng cao thể trạng là có thể dùng phương pháp mổ nội soi lấy trọn khối u ra. Lão sẽ lại về Hải Phòng, tôi tin như vậy…

Vui mừng gọi điện cho lão, nói rõ ý kiến của các bác sỹ. Lão mừng lắm nhưng vẫn hỏi tôi một câu: “Có cách nào mà không phải mổ, chấp nhận sống chung với “Nó” cả đời không?”

Lần đầu tiên, với một người bạn, người anh lớn, một nhân cách đáng kính trọng, tôi phải gắt lên:

– Trường hợp của anh không giống như trường hợp bệnh cả dân tộc mắc phải, muốn khỏe mạnh thì bất kể loại khối u nào, dù lớn hay nhỏ, dù ác hay lành đều cần cắt bỏ, cắt tận gốc. Đây là lúc anh được toàn quyền quyết định chất lượng đời sống của mình. Hãy đau thêm một lần để có một cuộc sống trong lành cho đến…chết”.

Tôi biết, ở đầu dây bên kia, anh lại nở một nụ cười hiền và đồng ý với tôi.

Sài Gòn tháng 7/2014.

(*) Lời của nhà văn Bùi Ngọc Tấn

 

Nguồn: http://hieuminh.org/2014/07/11/bui-ngoc-tan-va-khoi-u/

Lời cảm ơn của nhà văn

Ngày 18 tháng 6 vừa qua, nhà văn  Nguyễn Quang Lập đă cho đăng trên trang Quê Choa  của mình, dưới tiêu đề “Ân tình với nhà văn Bùi Ngọc Tấn”, tin tôi vào Sài gòn chữa bệnh (một khối u trong người) và công bố số tài khoản của tôi để tạo điều kiện thuận lợi cho những bạn đọc muốn giúp đỡ tôi.

Tôi rất xúc động trước cử chỉ cao đẹp ấy và càng xúc động hơn với những phản hồi của những bạn đọc đã đọc tôi. Những cuộc điện thoại, những bức thư điện tử, những cuộc thăm hỏi tại nhà con gái tôi, nơi tôi đang chữa bệnh, những túi quà, những số tiền gửi cho tôi qua tài khoản hoặc trực tiếp cầm tới nhà kèm theo những lời động viên khích lệ…

Ngoài giá trị sử dụng khác nhau của những món tiền to nhỏ khác nhau, tất cả đều có cùng một sức mạnh, từ số tiền 10 triệu đồng của cô Hoàng Kim Quý, 2 triệu đồng của bà Phạm Chi Lan, tới số tiền 50 nghìn đồng của một bạn đọc mà tôi đoán là nhỏ tuổi “mong bác chóng khỏi”… Đó là sự nâng đỡ sẻ chia, là niềm vui, là ý chí để người bệnh chiến thắng bệnh tật, điều đặc biệt quan trọng với những bệnh nhân mang một khối u trong thân thể như tôi. Tôi vô cùng cảm ơn tất cả các bạn. Tôi cũng xin được nói ở đây lời cảm ơn tới Quê Choa, niềm vui chờ đợi tôi mỗi sáng, tới người chủ của nó, Nguyễn Quang  Lập, một người bạn, một người em.

Bùi Ngọc Tấn

(Theo Quê Choa)

Ân tình với nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Bước vào tuổi 80, nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa phát hiện có một khối u ở phổi và đang vào TP HCM để điều trị. Biết được tin này, nhiều bạn đọc yêu quý nhà văn đã đề nghị Quê Choa cho địa chỉ và số TK của nhà văn để hỗ trợ ông chữa bệnh. Âu đây cũng là dịp mà nhiều người từng đọc các tác phẩm của ông( đặc biệt là cuốn Chuyện kể năm 2000) qua bản photo hoặc qua mạng, được trả món nợ “nhuận bút” ân tình. Vậy Quê Choa xin cung cấp địa chỉ:
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, khu tập thể số 10 đường Điện Biên Phủ, TP Hải Phòng.
 Số tài khoản 0031000306594, Ngân hàng Ngoại thương- Vietcombank/ chi nhánh Hải Phòng. Chủ tk: Bùi Ngọc Tấn
Theo Que Choa

VŨ ÁNH VÀ TÔI – CHUNG MỘT ĐOẠN ĐỜI

Cảm ơn anh Phạm Nhì.
Tôi đã đọc bài anh viết về Vũ Ánh. Rất xúc động. Tôi hiểu thêm về các anh và người cháu con bà chị tôi.
Bùi Ngọc Tấn
VŨ ÁNH VÀ TÔI – CHUNG MỘT ĐOẠN ĐỜI
 
   (Xin gởi đến hương hồn anh Vũ Ánh
   như một nén nhang tiễn biệt.
   Và đến chị Yến Tuyết
   như một lời chia buồn muộn màng)
             Phạm Đức Nhì
 
 
Một Tâm Hồn Trẻ Trung Sôi Nổi
 
Ngày đầu tiên bị giải đến Trại Trừng Giới A20 Xuân Phước, tất cả chúng tôi– thành phần cứng đầu, khó cải tạo từ các trại – bị lùa vào hội trường để được dằn mặt và đưa vào khuôn phép. Mở đầu là màn văn nghệ ca tụng đảng và nhà nước có tính cách bắt buộc. Cán bộ giáo dục yêu cầu một người tù trong chúng tôi ra bắt giọng cho mọi người hát một bản nhạc cách mạng để lấy khí thế. Hối thúc hoài cũng chẳng ai thèm ra. Cuối cùng, khi hắn giở giọng đe dọa thì tôi nóng mặt đứng lên bắt nhịp cho anh em hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang. Được gãi đúng chỗ ngứa anh em hát muốn bể tung hội trường. Cán bộ giáo dục và ban thi đua ú ớ chẳng biết gì nên dù “ngờ ngợ có cái gì không ổn” cũng không làm chi được. Sau buổi họp, mấy bạn trẻ như Tú Cường, Nguyễn Hữu Hồng … đến bắt tay tôi tỏ vẻ đồng cảm và ngưỡng mộ một hành động nhanh trí và can đảm, giữa đường thấy chuyện bất bình thì phản ứng liền. Đám trẻ của chúng tôi là như vậy. Tôi bắt tay các bạn một cách vui vẻ rất … bình thường. Riêng anh Ánh, lúc ấy đã gần 40, vẻ mặt trí thức, chững chạc đến vỗ vai, bắt tay tôi đã là … đặc biệt rồi. Anh lại còn ôm chặt tôi ra vẻ rất quý mến: “Tôi tưởng cậu hát nhạc của tụi nó nên đã muốn chửi thề trong miệng, nhưng khi nghe câu hát đầu tiên tôi khoái quá, hát muốn khàn cả cổ”. Tôi với anh quen nhau, gần gũi nhau ngay từ hôm ấy. Sau này ra hải ngoai anh còn viết bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ Của Nguyễn Đức Quang Trong Nhà Tù Cộng Sản kể lại sự kiện này. Tôi có cảm tưởng ở cái tuổi của anh lúc ấy, đối với một sự việc bình thường như vậy, thái độ “nóng máu muốn chửi thề” của anh, thật giống bọn trẻ chúng tôi: Rất Trẻ Trung Và Sôi Nổi.
 
Dáng Đứng Hiên Ngang Bất Khuất
 
Sau 2 tháng bị cùm, bị đánh, bị bỏ đói, bỏ khát cho chết, nhờ có được bản năng và khát vọng sinh tồn mạnh mẽ của tuổi trẻ, tôi đã không chết, và khi cán bộ trực trại mở cửa xà lim, tháo cùm, tôi vẫn còn đủ sức vừa đi, vừa bò khoảng 30 mét ra khỏi khu biệt giam để rồi đươc các bạn tù xốc vai dìu về khu nhà ở. Vừa được anh em giúp tắm rửa xong thì tất cả có lệnh lên hội trường. Trật tự thông báo đích danh tôi (Phạm Đức Nhì), dù đang nằm xoải chân, xoải tay, hết hơi, hết sức, cũng không được ở lại phòng.
Sau vài bài hát “gia nô” của ban văn nghệ, cán bộ Hanh (giáo dục) giới thiệu giám thị Thân Yên lên phát biểu về tính chất nhân đạo, khoan hồng của chính sách cải tạo. Suốt hơn một tiếng đồng hồ tay trung tá công an ngân nga cái điệp khúc mà những người tù, ở thời điểm ấy, đã sống ở cái trại ấy, đều biết rõ là giả nhân, giả nghĩa. Sau đó là phần đóng góp ý kiến của các “trại viên”. Vừa dứt lời mời, một A20 (có lẽ đã được ban thi đua giàn xếp trước) hăng hái bước lên trước micro. Phải nói là anh “nâng bi” rất khéo; không quá lố một cách trơ trẽn nhưng cũng đủ làm ban giám thị nở mày nở mặt. Thân Yên gật gù ra vẻ hài lòng. Lê Đồng Vũ (phân trại trưởng) thì dù khuôn mặt đanh ác, hàm răng khít rịt, cũng nhếch mép cười nửa miệng. Thấy buổi học tập đang tiến triển theo chiều hướng tốt, cán bộ Hanh khuyến khích các “trại viên” khác lên phát biểu. Hắn nói 5 lần, 7 lượt cũng chả ai thèm lên. Chính giám thị Thân Yên tuy vẫn ngồi tại chỗ, đã phải nói chen vào: “Các anh được hoàn toàn tự do, nghĩ sao nói vậy, không phải sợ sệt gì hết. Tôi bảo đảm là sẽ không có một ai bị để ý, bị đối xử khác biệt vì những lời phát biểu tại hội trường này.” Có lẽ chỉ chờ có thế. Một bóng người gầy, cao như cây sậy đứng lên từ từ đi đến bục diễn giả. Đó chính là Vũ Ánh. Anh sửa micro cho vừa với tầm đứng của mình và bắt đầu…nói. Anh rào đón rất kỹ về lời hứa của giám thị cho tự do phát biểu, không bị trù dập, không bị phân biệt đối xử. Và anh bắt đầu đi vào đề tài chính. “Ông giám thị nói về chính sách nhân đạo khoan hồng rất hay, người tù chúng tôi nghe rất sướng tai, nhưng rất tiếc lời nói và việc làm thường không đi đôi với nhau; người đời thường nói một đàng và làm một nẻo.” Anh nói về chế độ ăn uống; chính sách cho tù ăn 15 cân một tháng (quy ra gạo) nhưng nhà bếp đã lươn lẹo chia cho tù 15 cân cơm (và khoai mì đã nấu chín) tính ra chỉ được 8, 9 cân. Anh nói về chính sách lao động khổ sai. Anh nhấn mạnh về việc cán bộ võ trang đánh tù (chính trị có án). Và sau cùng anh nói về chính sách kỷ luật. Đám cán bộ muốn đem tôi – một sọ dừa khô được dính vói một bộ xương cách trí – để dằn mặt các anh em tù có tinh thần chống đối thì Vũ Ánh cũng mời tôi đứng lên để mọi người tù đều thấy rõ sự dối trá, giả nhân, giả nghĩa của chính sách nhân đạo khoan hồng.
Lúc ấy trông anh đẹp quá! Hiên ngang quá! Anh ứng khẩu, giọng chững chạc, đầy uy lực. Cả hội trường há hốc mồm, lắng nghe như uống từng lời nói của anh. Những câu nói của anh rõ ràng, mạch lạc nhưng đặc sệt như những bãi nước bọt, những bãi đờm nhổ vào mặt ban giám thị và hội đồng cán bộ đang ngồi ở dãy bàn danh dự trên khán đài, nhổ vào chính sách nhân đạo khoan hồng, giả nhân giả nghĩa. Mặt Thân Yên, Lê Đồng Vũ dài thuỗn ra trông thật thảm hại, trong khi các bạn tù của anh “được lời như mở tấm lòng” vô cùng hân hoan, thích chí, vỗ tay vang dội.
Tối hôm ấy tôi lại nằm cạnh anh bấm tay nói nhỏ:”Hôm nay anh chơi đẹp quá!” Anh cười cười nói đùa: “Hồi mới tới cậu đã có một màn ngoạn mục thì bây giờ tôi cũng phải có chút đóng góp cho chương trình văn nghệ chứ.” Ôi! Làm sao có thể so sánh việc bắt nhịp một bài hát của tôi với cả một bài diễn văn ứng khẩu của anh chửi thẳng vào mặt ban giám thị và hội đồng cán bộ quân phục công an đại cán ngồi chỉnh tề, đường bệ trên khán đài, vạch trần sự dối trá, giả nhân, giả nghĩa của chính sách cải tạo. Việc tôi làm chỉ thể hiện sự liều lĩnh, lì lợm của một thằng lính dù, cộng với chút kỹ thuật sinh hoạt của một sĩ quan tâm lý chiến. Còn màn trình diễn của anh, ngoài cái dũng của kẻ sĩ còn phải có kiến thức sâu rộng và cả tài hùng biện nữa. Hình ảnh của Vũ Văn Ánh hôm ấy, cao khều, mảnh khảnh đứng với một tư thế oai dũng, đầy hào khí trên bục diễn giả biểu lộ sự can trường, bản lãnh của một công chức VNCH, thật khó mà phai mờ trong ký ức tôi.
 
Một lối sống cởi mở vị tha, biết chia sẻ
 
Tôi cũng khoái Vũ Ánh ở tính tình bình dân, cởi mở với mọi người. Giữ chức vụ rất cao trong ngành truyền thông lâu năm nên kiến thức của anh rất rộng; anh biết rất nhiều về những nhân vật lãnh đạo và guồng máy chính quyền VNCH trước năm 1975. Anh còn có khả năng diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu nên bọn trẻ chúng tôi thường bu lấy anh hỏi han đủ chuyện. Lúc nào anh cũng vui vẻ trả lời cặn kẽ. Những lúc trời mưa bão không đi lao động được anh còn tóm tắt truyền cho tôi giáo trình anh học mấy năm ở Mỹ về truyền thông.
Đi lao động anh không “thú phé” (1) như tụi tôi mà làm việc chăm chỉ, đúng mực; nếu cần, lúc nào cũng sẵn sàng tiếp tay đỡ đần những anh em khác, không một chút nề hà. Anh đa phần được bình bầu loại khá. Những “cải tạo viên” xếp loại trung bình thì ngoài hơn nửa chén cơm và chút nước mắm thối (hoặc nước muối) còn có thêm một miếng bánh bột luộc hình chữ nhật. Đám xếp loại kém như tụi tôi thì miếng bánh bột luộc bị cắt mất một góc tư (1/4) nên trông giống như khẩu súng lục. Cái góc tư kia thì cho thêm người xếp loại khá. (Đây là chính sách rất thâm độc của cộng sản.) Anh Ánh thường thẩy cho đám kém chúng tôi (bữa đứa này, bữa đứa khác) cái góc tư ấy kèm theo câu nói: “Ráp cho chú mày băng đạn.”
Khi Nguyễn Hạnh và Phạm Văn Hải trốn trại bị bắt lại, bị đánh thừa sống thiếu chết rồi đẩy vào biệt giam; mấy tháng sau được thả ra trông gầy ốm, thật thảm hại. Lúc đó anh Thuật và Ngọc Đen khởi xướng mỗi người một muỗng cơm thì hai trong số những người đầu tiên xung phong là Vũ Hùng Cương và anh Ánh.
Anh rất hiền, sống hòa nhã với mọi người, không ra vẻ ta đây như một vài người cùng đẳng cấp khác. Ngay cả khi bất đồng ý kiến anh cũng giữ thái độ nhã nhặn, không to tiếng gây gỗ với ai bao giờ.
 
TỜ BÁO HỢP ĐOÀN
 
Vũ Văn Ánh bằng cách nào tìm sự ủng hộ của các bậc lão thành, có uy tín, để ra tờ báo Hợp Đoàn thì tôi không đươc biết. Bởi lúc ấy tôi thuộc loại “nhóc con”, trẻ người non dạ. Thỉnh thoảng làm đươc bài thơ thì lê lết hết chỗ này, chỗ khác đọc cho mọi người nghe. Một buổi tối đi tiểu xong, về chỗ nằm (ở tầng dưới vì bị liệt sau mấy lần bị cùm trong xà lim) tôi thấy anh Ánh đang khẽ tiếng chuyện trò với hai vị trưởng thượng khác. Một vị phát biểu rất rõ ràng, dứt khoát: “Tại sao anh cứ muốn làm một thằng khinh binh, dễ dàng bỏ mạng ngay từ phát súng đầu tiên? Theo tôi, người khôn ngoan lúc này phải biết giữ mình, cứ nằm im chờ đợi, nếu không biết kiên nhẫn giữ mình thì khó có cơ hội được bắn viên đạn sau cùng chấm dứt cuộc chiến.” Tôi nằm im lắng nghe mà trong người máu sôi lên sùng sục. Lời phát biểu đó khiến tôi “nóng máu”, cao hứng viết bài thơ trong đó có đoạn:
 
Chúng tôi sẵn sàng nổ phát súng đầu tiên
rồi ngã gục
cho các anh được bắn viên đạn sau cùng
giữa tiếng reo hò vang dậy chiến công
chúng tôi sẵn sàng bắc cầu qua suối
cho các anh xông tới
phất cờ hát khúc khải hoàn ca
chỉ cần ngay bây giờ
các anh đứng vào đội ngũ


giữa lúc mịt mù khói lửa
các anh còn ngái ngủ trên giường
đợi tàn cuộc
các anh tung cửa
ra giữa chiến trường
chỉ trỏ nghênh ngang
các anh sẽ đeo lên ngực mình hàng tá huy chương
trong khi những anh hùng thực sự
vẫn ngực trần lặng bước.
 
và đoạn cuối, trong lúc cảm xúc (của tuổi trẻ) đang cuồn cuộn chảy, đã xúc phạm hơi nặng đến những vị “chùm mền kín mít, thủ khẩu như bình, chờ…gió đông để phất cờ hát khúc khải hoàn ca.” Hai hôm sau tôi đọc cho anh Ánh nghe bài thơ mới ra lò, còn nóng hổi. Nghe xong anh trầm ngâm nói: “Tôi đồng cảm với sự bực tức của cậu, nhưng lúc này, viết như thế không được, sẽ đẩy họ vào thế cô lập, rồi rất có thể, ngả về phía bên kia. Nói thật với cậu là tôi đang chuẩn bị cho ra một tờ báo lấy tên Hợp Đoàn để tập hợp những người tù từ mọi thành phần, mọi chính kiến, trước hết chống lại sự tàn bạo, bất nhân của chính sách cải tạo, đặc biệt là việc đánh đập người tù, kế đến là giúp mở mang kiến thức chính trị cho các anh em trẻ nhất là đám chính trị có án. Rồi sau đó thì tùy cơ ứng biến. Riêng cậu, có bài thơ nào đưa cho tôi để kịp chọn đăng. Còn bài thơ vừa rồi thì sửa lại đoạn cuối cho nhẹ nhàng hơn, đừng để người bị chửi bị mất mặt quá đáng; chờ có dịp thích hợp sẽ phổ biến sau.” Và vì thương anh, nể phục anh, tôi đã bóp bụng sửa lại bài thơ cho hợp với nước cờ mới của anh và dìm nó cho đến khi ra hải ngoại.
Sau khoảng hơn một tuần, vào buổi sáng Chủ Nhật, Ngọc Đen đến chỗ tôi nằm giúi vào tay tôi một tờ báo Tuổi Trẻ cuộn tròn và nói nhỏ:”Đọc đi! Tụi tao canh cho.” Tôi liếc qua cửa sổ thì thấy Hải Bầu đang dạo bước dọc hàng rào ngăn cách nhà 3 và hội trường, mắt thỉnh thoảng lại nhìn về hướng cổng trại; thì ra cu cậu cũng đang làm lính gác giặc từ xa. Tôi yên tâm mở tờ báo Tuổi Trẻ ra. Trong ruột tờ báo Tuổi Trẻ là tờ Hợp Đoàn.
Đó là một quyển vở học trò khoảng 60, 70 trang bị cắt ngang mất non nửa; giấy trắng tinh, bóng láng, đươc khâu lại cẩn thận. Trang bìa là 2 chữ Hợp Đoàn khổ lớn, được trình bày rất khéo và đẹp. Lật qua vài tờ thì thấy tờ báo được viết tay, chữ đẹp và rõ ràng, dễ đọc, trình bày trang nhã, bắt mắt. Nội dung các bài viết đều là những vấn đề thời sự nóng bỏng hấp dẫn ở trong trại và ngoài đời. Tôi đọc ngấu nghiến một lúc là hết. Hết mà vẫn thòm thèm, cứ tiếc là tờ báo không dầy thêm vài chục trang nữa. Có thể nói giọng văn truyền cảm và các đề tài thiết thực của tờ báo đã chinh phục tôi hoàn toàn.
Xong phần mình, thấy 2 thằng ông nội vẫn còn nghiêm chỉnh canh gác tôi chuyền tờ báo cho một vị lớn tuổi, có tư cách, rất được tin tưởng, kính nể ở trong nhà. Anh xem xong cầm tay tôi nói: “Trước hết, tôi rất kính phục sự dũng cảm của các anh. Cái tay chủ bút của tờ báo này là người có thực tài; kiến thức rộng, vừa khoa bảng, vừa thực tế, lời văn trong sáng, giọng văn rất tình cảm, dễ đi vào lòng người; những bài thơ khá “ướt” mà vẫn bày tỏ được lập trường, chí khí. Nhưng trong hoàn cảnh này mà các anh phổ biến nó thì, theo tôi, các anh liều quá.” Ngừng một tý để lấy hơi anh nói tiếp: “Các anh có biết là hậu quả sẽ thảm khốc như thế nào khi tờ báo bị lộ không? Cả trại sẽ biến thành địa ngục.” Rồi anh cười cười nói chữa lại: “Bây giờ nó đã là địa ngục rồi, nhưng lúc ấy, cái địa ngục ấy sẽ khủng khiếp hơn, ngột ngạt hơn, khó sống hơn gấp bội. Chúng nó sẽ lập tòa án xử các anh ngay trong trại, và ít nhất cũng có vài cái đầu lìa khỏi cổ. Tôi mong các anh suy nghĩ lại.” Tôi chuyển ý kiến của bạn đọc cho anh Ánh và 2 thằng “lưu hành báo” thì được trả lời: “Đồng ý là nguy hiểm nhưng vẫn cứ tiếp tục.” Mấy hôm sau, trong lúc chờ đi lao động buổi chiều, anh Ánh nói nhỏ với tôi: “Cậu bảo tụi nó có gì cứ đổ hết cho tôi. Có nhiều tội thêm nữa thì cũng đâu có cái đầu thứ hai cho tụi nó chém; mình tôi chết đủ rồi.”
Cứ thế, trong khoảng hơn 5 tháng, Vũ Ánh đã cho ra lò 3 số Hợp Đoàn; số sau đẹp hơn, hay hơn số trước. Khi phong trào chống đối ở trong trại lên cao; những người tù đã đồng lòng chây lười (một cách hợp nội quy) khi đi lao động;khi họp hành, học tập thì miệng câm như hến; khi cần phát biểu thì chỉ trích chế độ ăn uống quá thiếu thốn, lao động quá nặng nhọc mà chế độ thăm nuôi, quà cáp quá khắt khe. Đúng lúc ấy, một số người tù bị coi là “nguy hiểm” lần lượt đi vào xà lim mà không có lý do gì hết. Vũ Văn Ánh là người đầu tiên trong số họ xỏ chân vào cùm. Tờ Hợp Đoàn mất Sáng Lập Viên kiêm Chủ Bút, kiêm Tổng Thư Ký Tòa Soạn tạm thời đình bản.
Sau đó, do độc giả yêu cầu tha thiết quá, anh San, anh Thiệp, Ngọc Đen, Hải Bầu, Vũ Mạnh Dũng đề nghị tôi làm Thư Ký Tòa Soạn. Nhiệm vụ của tôi là đọc, sửa chữa, sắp xếp bài vở rồi giao cho Hải Bầu lên khuôn. Tôi biết kiến thức, khả năng của mình còn chưa tương xứng với công việc có trách nhiệm lớn lao như vậy, nhưng lúc đó tôi bị liệt hai chân, không phải đi lao động nên có điều kiện thuận lợi hơn các anh em khác. Thêm nữa, cái máu liều của thằng lính nhảy dù trong tôi vẫn còn nóng hổi nên tôi đã không từ chối. Hợp Đoàn tiếp tục một cách an toàn được 2 số nữa.
 
Hợp Đoàn Đình Bản Vĩnh Viễn
 
Sau sự kiện Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20 một thời gian, chúng tôi đang gom bài chuẩn bị cho Hợp Đoàn số 6 thì một việc đáng tiếc xảy ra. Anh Thiệp đến chỗ nằm của tôi đưa một bài viết ngắn để chuẩn bị đăng báo. Anh hớ hênh thế nào để Trần Thái Viên thấy được. Thế là chỉ một lúc sau cán bộ trực trại và các trật tự ập vào nhà khám xét. Tôi nhanh chóng nhai nuốt được một nửa mẩu giấy; nửa còn lại bị cán bộ trực trại bóp mồm moi ra, nhớt giãi còn lòng thòng. Hắn cầm mảnh giấy ướt nhẹp chăm chú đọc nhưng chắc là chỉ thấy mấy nửa hàng chữ không đầu, không đuôi, chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi bị lôi thẳng xuống xà lim số 4. Năm phút sau cán bộ Tri (an ninh) đã vào xà lim trực tiếp hỏi cung. Tôi vẫn ca điệp khúc “không biết” nên bị hắn dùng giầy đinh đạp tới tấp vào đầu, vào ngực, vào lưng. Bị cùm 2 chân nên tôi phải trân mình chịu đựng. Tối hôm ấy chỗ cột sống tạm hồi phục nay lại chấn thương khiến tôi vô cùng đau đớn. Phân, nước tiểu chui ra khỏi cơ thể tôi một cách tự do không thể kiểm soát. Tôi kêu gào cấp cứu đến khàn cả cổ. Có ai đó ở xà lim khác cũng lên tiếng kêu phụ giúp. Mãi đến sáng (có lẽ điểm danh xong) cán bộ trực trại dẫn bác sĩ Lịch (tù) cùng 2 trật tự vào khu xà lim tìm hiểu bệnh tình của tôi. Sau khi chẩn đoán, bác sĩ Lịch (và sau đó cả bác sĩ Nhiếp) đã khẩn thiết đề nghị, và phân trại trưởng phân trại E Lê Đồng Vũ cùng viên bác sĩ phụ trách y tế toàn trại đã đồng ý trên nguyên tắc, chuyển tôi vào bệnh xá phân trại B.
Hôm nay anh Ánh đã mất. Tôi kể lại sự kiện này hoàn toàn không có ý trách cứ anh Thiệp. Chúng tôi đã ngầm hiểu với nhau; hoàn cảnh khắc nghiệt tôi phải chịu đựng là cái giá phải trả khi tham dự cuộc chơi; sơ suất là chuyện thường tình; dám chơi, dám chịu, hậu quả dù thế nào cũng phải hiên ngang chấp nhận. Thật ra, nhờ sơ suất của anh Thiệp cuộc đời tôi đã qua một bước ngoặt đến chỗ dễ thở hơn, thoải mái hơn (được vào bệnh xá, mỗi khi đau đớn được cấp cứu dễ dàng hơn), và có thể cũng nhờ thế mà tôi còn có cơ hội sống sót trở về.
Trở lại tờ báo Hợp Đoàn, theo 2 thằng “lưu hành báo” thì độc giả vẫn đọc một cách thích thú và hết lòng ủng hộ, nhưng theo tôi, hai số Hợp Đoàn “vắng” Vũ Văn Ánh đã có những khuyết điểm sau đây:
– Phẩm chất của giấy mà Đen và Bầu kiếm được không tốt bằng giấy của VA; việc khâu giấy đóng tập cũng không khéo, không đẹp bằng 3 số đầu.
– Chữ viết, trình bày thì thua sút hẳn.
– Mỗi số thiếu mấy bài “chủ lực” của anh Ánh nên sức hấp dẫn kém hẳn đi.
– Thiếu cái “tính thời sự” của báo chí (VA rất nhạy bén ở khoản này.)
– Thiếu cái “final touch” (o bế lại câu văn, câu thơ) của VA nên một số bài của các cộng sự viên khác đôi khi vẫn còn hơi “thô ráp”.
Nếu không có Vũ Văn Ánh thì sẽ không có tờ Hợp Đoàn; điều đó rất dễ được mọi người công nhận. Nhưng nếu không có bộ máy lưu hành thì Hợp Đoàn không thể đến tay anh em ở khắp 5 nhà. Tôi muốn nói đến Trần Bửu Ngọc (Ngọc Đen) và Trần Kim Hải (Hải Bầu). Hai tay này rất bặt thiệp, lanh lợi (sau này có thêm Tuấn Bình Định giúp sức) đã lưu chuyển tờ báo đến tận tay từng độc giả. Những cộng tác viên viết bài lẻ tẻ như tôi, như các anh Phạm Chí Thành, Phạm Văn Hải … và ngay cả hai cây viết được coi là đồng sáng lập viên của tờ báo là Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp, khi đụng chuyện có thể quay mặt, lắc đầu xua tay “Em hổng biết.” Còn Vũ Văn Ánh thì khỏi cần nói “Khi ra tờ báo là tôi đã chấp nhận đầu có thể lìa khỏi cổ bất cứ lúc nào” vì trong cái “khí hậu chính trị” của A20 lúc đó chuyện “đầu lìa khỏi cổ” (khi báo bị lộ) là chắc như đinh đóng cột. Còn nếu “bể ra” từ chỗ lưu hành thì ngoài Vũ Ánh còn có thêm 3 con nhạn Ngọc Đen, Hải Bầu, và Tuấn Bình Định ra phơi xác trên “Đồi Vĩnh Biệt”. Tôi viết như vậy để người đọc thấy cái “gan” của Vũ Ánh khi chơi trò chơi Hợp Đoàn; anh và mấy thằng em thực sự “dám chơi dám chịu”.
 
Không Nỡ Xuống Tay
 
Khi bài viết của anh Thiệp suýt bị lộ, mọi người đều đồng ý là phải đình bản tờ báo. Tôi hối thúc Ngọc Đen, Hải Bầu thiêu hủy cả 5 số Hợp Đoàn và tất cả giấy tờ, bút mực liên quan đến tờ báo nhưng 2 thằng ông nội nhất định không chịu nghe; đứa nào cũng đòi giữ làm kỷ niệm. Trong khi chờ quyết định chính thức của giám thị Thân Yên chuyển tôi vào bệnh xá phân trại B, một em tù chính trị án 20 năm ở nhà 1, lợi dụng lúc gánh phân buổi sáng (em là trực sinh) đã lén gặp tôi xin được nhận 3 số báo Hợp Đoàn để gởi cho một tổ chức phục quốc của em ở ngoài đời. Em nói: “Mấy tờ báo hay quá, đẹp quá, rất có ích cho Ban Tuyên Huấn của tổ chức phục quốc.” Tôi sợ đến hồn xiêu phách tán, và đã dùng hết hơi sức của mình vừa chửi, vừa năn nỉ 2 thằng Đen và Bầu xuống tay hủy mấy tờ báo.
 
Sức Mạnh Của “Tinh Thần Hợp Đoàn”
 
Tại phân trại E của A 20 vào thời điểm ấy, cầm tờ báo Hợp Đoàn trong tay, trong lúc có ít nhất 2 người canh gác cho mình đọc, cũng giống như cầm một trái lựu đạn đã rút chốt, có thể nổ bất cứ lúc nào. Người đọc phải “cứng” (dám đọc) đồng thời phải được nhóm lưu hành, nhóm biên tập xếp vào loại “an toàn, đáng tin” (việc xếp loại hoàn toàn theo cảm tính và quan hệ cá nhân). Do đó, những người quá kín đáo trong việc bày tỏ thái độ, lập trường của mình thường bị “cho qua” vì lý do an ninh.
Các anh, các chú lớn tuổi ở trong trại thì rất dè dặt trong việc bày tỏ thái độ với Hợp Đoàn. Nhiều người cho rằng anh Ánh và những cộng sự viên khác quá liều lĩnh: “làm Hợp Đoàn thì lợi bất cập hại; một sơ suất nhỏ là hàng loạt người mất mạng; những người còn lại sẽ hứng chịu thêm những đè nén, khắc nghiệt không đáng có.” Một vài người khi được đưa báo vào tay đã giẫy nẩy như đỉa phải vôi, xem vội vài ba trang rồi trả lại ngay. Nhưng Hợp Đoàn được ủng hộ rất mạnh mẽ của đám sĩ quan trẻ, những người tù chính trị tuổi trung niên và đặc biệt là đám tù chính trị có án. Theo Tuấn Bình Định báo cáo thì có thể đến hơn 70% những người tù chính trị có án đã thường xuyên đọc tờ báo. Hợp Đoàn chạy được 2 số là tôi đã cảm thấy một chút chuyển biến trong sinh hoạt của trại. Những hoạt động chống đối, tương trợ, cứu trợ không chỉ xảy ra có tính cách riêng lẻ, cá nhân hoặc giới hạn trong khuôn viên của từng nhà mà đã có sự điều hợp trong phạm vi toàn trại. Tết năm Nhâm Tuất (đầu 1982) khi 3 thằng điên Vũ Mạnh Dũng, Hải Bầu và Ngọc Đen đứng ra tổ chức Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20, vâng, đúng những ngày ấy, tôi mới thực sự nhận thấy ảnh hưởng của tờ báo đối với anh em tù. Chính “tinh thần Hợp Đoàn” và guồng máy phát hành của tờ báo đã giúp tổ chức thành công 5 buổi văn nghệ làm nức lòng những người tù ở cái Trại Trừng Giới A20 hắc ám vào thời điểm ấy và dư âm còn vang vọng đến mãi bây giờ. Tôi nghĩ mình sẽ không quá lời khi nói rằng:
Chính những ngày tháng cùng chịu đọa đày, khổ cực, chính những muỗng cơm, những viên thuốc giúp đỡ nhau lúc đói lòng, lúc đau ốm, chính dáng đứng hiên ngang, bất khuất của Vũ Ánh,  chính lập trường chống cộng không hề lay chuyển của Nguyễn Văn Đèn (2), chính cuộc tuyệt thực chống chế độ tra tấn, hành hạ người tù một cách vô cùng dã man, ác độc trong biệt giam (3), chính vụ cướp súng vượt ngục của Bảy Cánh Chim Khao Khát Tự Do (4), chính Những Tiếng Hát Bừng Sáng A20, và chính “tinh thần Hợp Đoàn”  đã là chất keo nối kết gần một ngàn người cựu tù A20 hiện đang sống rải rác khắp nơi trên toàn thế giới. Hơn thế nữa, cùng với những phong trào đấu tranh tại Bến Tre, Suối Máu, Nam Hà, Ba Sao, Yên Bái …..,  những tấm gương bất khuất trong tất cả các trại “cải tạo” ở khắp 3 miền đất nước, những người tù A20 đã trở thành (và sẽ là) niềm tự hào, là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ trong công cuộc đấu tranh đòi dân quyền, nhân quyền, đa nguyên, đa đảng, và tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam.
   
 
Vũ Ánh Thực Hiện Lời Hứa.
 
Tháng 3/1983 một phái đoàn y tế của bộ nội vụ đến thanh tra trại A 20. Tôi may mắn được các bác sĩ trong phái đoàn khám và đánh giá thực trạng bệnh tật. Ngày 06 tháng 9/1983 một mình tôi bệnh tật quá nặng, đã được thả vì lý do nhân đạo. Tôi bị liệt không thể về một mình nên phải chờ một tuần sau, trại có người tù hình sự mãn án nhân tiện đưa tôi về. Sau 6 tháng uống thuốc nam và châm cứu cộng với sự phò trợ của ơn trên, tôi bình phục, có thể tự mình đi lại, không cần nạng. Tháng 11/1984 tôi vượt biên bị bắt tại Bến Lức (Long An), sau đó bị đưa đi tập trung cải tạo tại Nhơn Hòa Lập. Tháng 8/1986 tôi bị giải về số 4 Phan Đăng Lưu để trả lời về bài thơ Từ Ngục Tù Cộng Sản trong đó tôi xúc phạm ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam hơi nặng. Tôi hỏi dò và mấy tháng sau may mắn biết được anh Ánh, Ngọc Đen, Tú Cường, anh Thiệp, anh San cũng đang ở đây về vụ Hợp Đoàn. Riêng Hải Bầu dính líu tới Hiếu Đầu Bạc và ông Của trong một vụ khác nhưng cũng bị truy hỏi về Hợp Đoàn. Khoảng tháng 12/1986 (còn đang chấp cung), vào sáng Chủ Nhật một anh bán bánh cuốn chả lụa ghé miệng vào cửa thông gió xà lim 13 khu C1 hỏi: “Phải anh tên Nhì không?”  Tôi gật đầu. Anh nói thật nhanh: “Alfa đã mua xe Honda rồi”. Tôi xây xẩm như bị trúng gió, lặng người đi vì buồn bã. Như vậy là anh Ánh đã ôm trọn vụ Hợp Đoàn. Anh đã giữ lời hứa với tôi và 2 thằng “lưu hành báo”. Thật ra tôi chỉ bị truy cứu vì bài thơ. Do bị đổi vào bệnh xá B và được về sớm nên đám cán bộ an ninh đã quên tôi trong danh sách những người dính líu tới Hợp Đoàn. Tôi vừa thương lại vừa giận anh Ánh. Tại sao phải nhận chứ? Bọn họ đã có bằng chứng gì đâu? (Sau này tôi mới hiểu là “dòi trong xương dòi ra”. Ngô V L đã cộng tác với Sở Công An TP HCM và đã khai tuốt tuột. Hắn, một thời, cũng có tinh thần chống đối mạnh mẽ và dĩ nhiên, biết về tờ báo Hợp Đoàn. Hắn đã khai thì anh Ánh khó lòng chối tội.) Sau Tết Tây (1987) vài ngày, vào một buổi trưa Chủ Nhật, tôi nghe tiếng anh Ánh lên đài. (nói lớn từ nhà này sang nhà khác, từ xà lim này sang xà lim khác). Giọng anh vẫn khỏe, lạc quan và rất khôi hài:
“Chắc là không theo gót Tạ Vinh (7) đâu.” Một lúc sau anh cười nói tiếp:
“Nhưng lịch thì chở cả xe GMC cũng không hết.”
Không biết vì bằng chứng không đủ mạnh để buộc tội hay vì gặp đúng lúc Nguyễn Văn Linh lên, tuyên bố cởi trói chính trị mà các anh không ai phải theo Tạ Vinh và cũng không ai phải ra tòa. Tất cả bị nhốt thêm một thời gian nữa và rồi đều được thả về. (Anh Ánh về tháng 11/1987)
 
Gặp Vũ Ánh Ở Sài Gòn
 
Cuối tháng 8/1988 tôi được thả khỏi Phan Đăng Lưu. Cầm tờ giấy ra trại với tội danh “tuyên truyền phản cách mạng và trốn ra nước ngoài” tôi biết rất nhiều khó khăn, thử thách đang chờ đợi mình ở phía trước. Gia đình khánh kiệt, mẹ già nay ốm, mai đau, các em tứ tán tha phương cầu thực. Cô em gái lấy chồng ở Vũng Tàu đem về cho chiếc xe đạp. Tìm được hai chỗ dạy Anh Văn thì công an đến giải tán. Nghe tin anh Ánh đã thôi đạp xích lô và đang làm cho một xưởng gỗ ở đường Nguyễn Văn Thoại, tôi đạp xe đến thăm. Tôi gặp anh vào khoảng 6 giờ chiều lúc đang thu dọn đồ đạc để nghỉ. Trông anh lam lũ nhưng mặt vẫn cương nghị, đôi mắt vẫn sáng và nụ cười vẫn tươi trên môi. Hai anh em ôm nhau mừng mừng tủi tủi rồi ngồi tâm sự đến khoảng 7 giờ thì chia tay. Đó là lần duy nhất tôi gặp anh ở Việt Nam. Sau này gặp nhau ở Cali, nhắc lại lần gặp mặt hôm ấy, tôi ngượng ngùng nói: “Lúc ấy em chả có đồng nào để có thể mời anh uống ly cà phê hoặc ăn tô hủ tíu.” Anh cười trả lời: “Mẹ kiếp! Tôi thì cũng có hơn gì cậu. Thôi! Bây giờ muốn ăn gì thì tôi chở đi ăn.”
 
Gót Chân Achilles (6) của Vũ Ánh
 
Có lẽ điều tôi không thích ở anh Ánh, cho đó là Gót Chân Achilles của anh, đã có lúc tỏ thái độ bực dọc ra mặt với anh, là anh quá đam mê công việc đến độ “tham lam”, cái gì cũng nhận, cũng ôm vào người. Nghe anh đọc thời khóa biểu làm việc mà muốn ớn lạnh; chỉ toàn công việc là công việc; thời gian giải trí vui chơi rất ít. Anh rời cương vị chủ bút báo Người Việt cũng vì bị đâm vào Gót Chân Achilles của mình; trong lúc gấp rút để kịp ra tờ báo Xuân, anh mệt mỏi vì quá nhiều công việc, “ngủ thiếp đi, không kiểm soát hết được bài vở lên khuôn nên đã có kẻ lợi dụng”. (7) Vài năm sau này, viết về quá khứ có lúc anh nhầm lẫn sự kiện này với sự kiện khác, thời điểm này với thời điểm khác. Mỗi lần tìm ra một lỗi như vậy Bà Đầm Nguyễn Đại Thuật lại gọi tôi: “Nhì nói với ông Ánh đi! Nghỉ hưu được rồi đấy.” Còn chị Yến Tuyết, vợ anh, thì nói: “Chú gắng khuyên anh chú đi! Chứ tôi thì hết phương rồi”. Nói gì thì nói, đầu anh vẫn cứng như đá. Lời hứa của anh với tôi “Được rồi! Cậu để từ từ rồi tôi tính” cứ lặng lẽ bay theo gió mất tăm, mất tích. Giận anh cũng chẳng ích gì. Vì tính anh là như thế, con người anh là như thế. Có thế mới là Vũ Ánh.
 
KẾT LUẬN
 


Sau đại họa của dân tộc năm 1975, những cái chết hào hùng của Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Phú…và vô số những người lính vô danh khác … đã phần nào vực dậy sĩ khí của quân dân miền nam. Vũ Văn Ánh không chết như những vị tướng tuẫn tiết. Anh chấp nhận sống để chiến đấu. Khi thất bại, trong cay đắng, tủi nhục, đọa đày của các trại tù anh vẫn tiếp tục ngẩng cao đầu chiến đấu một cách anh dũng, kiên cường, bảo vệ khí tiết, danh dự, nhân phẩm của người trí thức, chống lại sự tàn ác bất nhân của chính sách tù đày, cải tạo. Anh đã trở thành ngọn đuốc sáng soi đường để các thế hệ kế tiếp vững tin đi tới tương lai.
Sau gần 2 năm ở cùng nhà, cùng đội với anh, nằm gần anh, được anh tận tình chỉ bảo, tôi đã học được nhiều điều; kiến thức được mở rộng thêm, câu văn, câu thơ viết ra trong sáng hơn, ngay đến nhân cách – do ảnh hưởng lối ứng xử của anh – hình như cũng được tốt đẹp hơn.
Anh ra đi ở tuổi 73 (8); vẫn còn một mộng ước chưa thành: được thấy quê hương đất nước thoát họa cộng sản, toàn dân Việt được hít thở không khí dân chủ, tự do. Nhưng đời anh như thế cũng là có hậu; được sống, chiến đấu cho lý tưởng, hết lòng phục vụ cộng đồng, phục vụ dân tộc cho đến giây phút cuối cùng, cho đến hơi thở cuối cùng. Và được chết – an lành, không đau đớn – trong không khí gia đình ấm cúng, vợ hiền, con hiếu thảo và bè bạn hết mực quý mến, thương yêu.
Tôi may mắn được anh tin yêu, dìu dắt, rất hãnh diện đã cùng anh đi chung một đoạn đời.
 
League City ngày 30 tháng 5 năm 2014
 
Phạm Đức Nhì
 
Chú thích:
  1. Thủ, giữ sức, không làm hết mình
  2. Anh Đèn tuyên bố trước mặt các cán bộ và anh em: “Bao giờ cộng sản còn cầm quyền là tôi còn chống, ở trong tù tôi cũng chống, ra ngoài tôi cũng chống.”
  3. Nguyễn Tú Cường khởi xướng, Hoàng Ngọc Thủy và Phạm Đức Nhì ủng hộ và cùng tham dự.
  4. 7 người tù A20 (đội 14) cướp súng đánh gục cán bộ võ trang rồi trốn vào rừng. Sau bị công an và bộ đội Phú Khánh truy lùng bắn chết 6 người, một người bị bắt lại.
  5. Người bị chính phủ Nguyễn Cao Kỳ tử hình vì đầu cơ gạo.
  6. Là câu ngạn ngữ nổi tiếng nói về điểm yếu của mỗi con người.
  7. Vũ Ánh, Món Nợ Văn Hóa & Tình Chiến Hữu, Phạm Đức Khôi.
  8. Trong bài Lần Cuối Cùng Gặp Big Minh anh Ánh viết:
    Ông (TT Dương Văn Minh) chưa mời tôi ngồi đã hỏi:
  • Em bao nhiêu tuổi?
  • Thưa Tổng Thống 32.
    Chính vì thế tôi nghĩ trên giấy tờ anh sinh năm 1943,    nhưng khi điện thoại hỏi chị Yến Tuyết, vợ anh, thì được biết câu trả lời của anh với TT Dương Văn Minh (30/4/1975) là lầm lẫn. (Đúng ra phải là 34). Anh sinh năm 1941; tuổi trên giấy khai sinh cũng là tuổi thật.
     
    Nếu có ý kiến, phê bình xin e-mail về nhidpham@gmail.com hoặc vào trang nhà vanthophamducnhi.com